tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
01.06.2009
Hồng Diệu
Một nhận định sai về thơ Nguyễn Bính

Nhà nghiên cứu văn học kỳ cựu Đặng Tiến, trong một bài viết có đầu đề Đồng chí từ Núi Đôi đến Trường Sơn, đăng trên báo Văn nghệ số 33, 16-8-2008, có viết:
“Nghĩa là chiến tranh, với nét tàn bạo, ào ạt, tạo dựng lên thơ Phạm Tiến Duật, cũng như trước kia, cảnh tàn tạ của nông thôn đã làm nên thơ Nguyễn Bính”(1).

Ở đây, chỉ một câu, mà vô tình hay hữu ý, nhà nghiên cứu đã khái quát cả một đời thơ của hai nhà thơ Việt Nam hiện đại. Xin chưa bàn đến vế thứ nhất của câu này nói về Phạm Tiến Duật. Hãy chú ý đến vế thứ hai nói về Nguyễn Bính, và thử đặt lại vấn đề: Có đúng là trước kia, cảnh tàn tạ của nông thôn đã làm nên thơ Nguyễn Bính?


Trước kia, mà nhà nghiên cứu Đặng Tiến nói đây, có phần chắc là trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - thời kỳ thơ Nguyễn Bính khởi sắc hơn cả trong đời thơ của anh. Bấy giờ, chỉ trong vòng ba năm 1940 - 1941 - 1942, Nguyễn Bính đã in đến bảy tập thơ, gồm những bài viết vào mấy năm ấy và mấy năm trước: Tâm hồn tôi và Lỡ bước sang ngang - 1940; Hương, cố nhân và Một nghìn cửa sổ - 1941; Người con gái ở lầu hoa, Mười hai bến nước và Mây Tần - 1942. Ngoài ra, Nguyễn Bính còn một số bài thơ đăng báo, không in trong bảy tập nói trên, lại còn cả truyện thơ và kịch thơ chưa xuất bản.
Nông thôn trong thơ Nguyễn Bính thời kỳ này hiện ra như thế nào?

Trước hết là quê hương nhà thơ - cái xóm Trạm bên nội và thôn Vân bên ngoại thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ (tỉnh Nam Định) - có một không khí yên bình, phẳng lặng, lại không kém phần “phong lưu” theo hoàn cảnh bấy giờ:
Nhà tôi có một vườn dâu - Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần - Hoa đỗ ván giữa mùa xuân - Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm (trong Hương cố nhân).

Ở đấy có đời sống tinh thần của một nền văn hóa lâu đời song hành cùng đời sống vật chất:
Thôn tôi vào đám hai ngày chẵn - Chỉ có chèo không, nhưng cũng vui (trong Hương cố nhân).

Đó cũng là một vùng đất thơ mộng, và làm cho người dân hài lòng, thậm chí “yên phận” nữa:
Quê tôi có gió bốn mùa - Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm/ Chuông hôm gió sớm giăng rằm - Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi... (trong Mây Tần).

Nói có một chút “vơ vào”, thì quê hương người đang viết những dòng này, cách quê hương nhà thơ Nguyễn Bính mấy chục cây số, bấy giờ - và nhiều năm sau nữa - cũng cùng một không khí như vậy, quang cảnh như vậy, và cũng đưa lại một cảm giác như vậy.

Nhưng không chỉ có quê hương nhà thơ - nhiều khi được xác định rõ bằng tên thôn, tên xóm, tên làng - mà còn rộng hơn, nông thôn Việt Nam (miền Bắc) nói chung, trong thơ Nguyễn Bính hồi ấy, cũng thế. Thơ mộng và thi vị như:
Chậm chạp trăng liềm nhô khỏi mộng - Ánh ngà vắt sữa xuống ngàn sương
 


hay:
Mùa thu đến chậm như chưa đến - Lá vội rơi theo gió vội vàng - Sương đã dâng lên, chiều lắng xuống... (trong Lỡ bước sang ngang).

và vang vọng những âm thanh trong một không gian đang sinh sôi:
Cuốc kêu ngoài bãi sậy - Hoa súng nở đầy ao... (trong Người con gái ở lầu hoa).

Khi gắn bó với con người, cảnh sắc nông thôn trong thơ Nguyễn Bính còn đẹp hơn, thanh bình hơn, thơ mộng hơn. Chẳng hạn:
Tơ gạo phương xa tản mạn về - Nắng về đồng lúa chín vàng hoe - ...Nàng đi trong nắng và trong gió - Hương lúa thơm thơm vướng bước chân (trong Lỡ bước sang ngang).

hay:
Trăng chiều rụng xuống lòng sông - Có nhà sư nữ đi trong chuông chiều (trong Tâm hồn tôi).

Có khi không gian làng xóm thoảng một mùi thơm bình dị, quê mùa - dù nhà thơ không nói gì về hương vị trong câu thơ của mình:
Các chị trong làng đi bán lụa - Giắt đầu từng nắm lá hương nhu (trong Hương cố nhân).
Nông thôn ấy có khi vui một cách hồn nhiên:
Con đường thấp, con đê cao - Bọn người đi chợ rẽ vào đồng ngô - Tiếng cười chen tiếng nói to - Dáng chừng trong bọn có cô chưa chồng (trong Người con gái ở lầu hoa).

hay là nhí nhảnh, nghịch ngợm của những cô gái
Rủ nhau cắt cỏ ở ven sông - Đỏng đa đỏng đảnh đua nhau hát - Ghẹo khách qua đò một bọn đông... (trong Một nghìn cửa sổ).
Với những lễ hội, với những ngày xuân, nông thôn trong thơ Nguyễn Bính hiện ra một cảnh tượng hoặc êm đềm, hoặc náo nức, chẳng hạn:
Hội làng mở giữa mùa thu - Giời cao gió cả giăng như ban ngày (trong Tâm hồn tôi).

Người ta hay nhắc đến bài Mưa xuân (trong Lỡ bước sang ngang) với cô thôn nữ mang một tình yêu thơ ngây, trong sáng, nhưng lỡ làng những lần hò hẹn với bạn trai. Người ta cũng hay nhắc đến bài Xuân về (trong Tâm hồn tôi) có:
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm - Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt.
 


với:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng - Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng - Ngào hạt hương bay, bướm vẽ vòng...

Xuân về là bài thơ mà nhà nghiên cứu nổi tiếng Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984) đã phải thốt lên trong hồi ký của ông: “Tôi chưa thấy bài thơ nào tả cảnh xuân thôn quê và tình xuân thôn nữ Bắc Việt đúng và hay như bài dưới đây”, liền đó, ông chép luôn cả bài Xuân về (2).

Đám cưới ở nông thôn thời ấy, trong thơ Nguyễn Bính thì
Hôm nay xác pháo đầy đường - Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng (trong Lỡ bước sang ngang).

Và tết đến: Pháo nổ đâu đây, khói ngợp trời - Nhà nhà đoàn tụ dưới hoa tươi (trong Một nghìn cửa sổ).

Với người mẹ tất bật mua sắm, dọn dẹp, sửa sang nhà cửa, bận mà vui trong những phong tục tập quán có tự lâu đời - mặc dù “xong ba ngày tết”, người mẹ ấy lại “đầu tắt mặt tối nuôi chồng con”...

Đấy là nông thôn vùng đồng bằng. Còn nông thôn vùng rừng núi cũng tương tự. Cũng đẹp và thơ mộng:
Đèo cao cho suối ngập ngừng - Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều (Đường rừng chiều).

hay:
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo - Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ (trong Lỡ bước sang ngang).

Và bao trùm lên tất cả là một không gian tốt tươi, sinh sôi nảy nở:
Xanh cây xanh cỏ xanh đồi - Xanh rừng xanh núi da giời cũng xanh (Vài nét rừng)



Cảnh và người ở nông thôn trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng có nhiều khi buồn. Chẳng hạn:
Một bông cúc nở trong vườn vắng - Gió lạnh ngàn phương lướt thướt về
Lá úa dần mòn rơi rụng hết - Sương mù giăng mắc lụa lê thê (trong Lỡ bước sang ngang)



hay: Hồn theo lá úa rụng ven đường - Tôi về ngõ lạnh, trăng lành lạnh/ rời bốn phương mờ cả bốn phương... (trong Người con gái ở lầu hoa)



Những cái buồn ấy là buồn từ nội tâm, nói theo Nguyễn Du, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, không phải biểu hiện của một nông thôn tàn tạ. Cũng tương tự là mấy câu trong bài Lỡ bước sang ngang: Ở nhà em nhớ mẹ thương - Ba gian trống, một mảnh vườn xác xơ, hay mấy câu trong bài Trường huyện: Em đi phố huyện tiêu điều lắm - Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi!...



Còn chắc chẳng ai căn cứ vào bài Chân quê (trong Tâm hồn tôi) để bảo Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều của cô gái nông thôn “đi tỉnh về” đã chứng tỏ cảnh nông thôn tàn tạ. Ngược lại là khác! Cái “áo cài khuy bấm” cô gái mặc - mà chàng trai than phiền, trách móc - thật ra lại là biểu hiện của đổi mới, vì từ chiếc áo cài cúc đến chiếc “áo cài khuy bấm” là biểu hiện của cả một sự tiến bộ, chứ không phải lạc hậu. (Còn từ sự thay đổi của những thứ “vật chất” ấy dẫn đến sự thay đổi của tư duy, của nếp nghĩ lại là một chuyện khác).



Ở trên, có nói khoảng thời gian trước kia “có phần chắc là trước Cách mạng tháng Tám năm 1945”. Nếu có ai bảo: trước kia có thể còn dài đến sau 1945 chăng nữa, thì những nhận định của chúng tôi vẫn không có gì thay đổi. Vì ta biết, từ 1945, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến ở Nam Bộ, năm 1954 tập kết, và ở miền Bắc đến lúc qua đời (năm 1966). Trong suốt những năm ấy, Nguyễn Bính làm thơ cũng nhiều, nhưng không thấy “cảnh tàn tạ của nông thôn” trong thơ anh. (chúng tôi không quên Làng tôi - một bài thơ còn ít người biết. Làng ở đây là một cái làng hư cấu, và đây không phải là bài thơ hay của Nguyễn Bính).

Vấn đề còn được đào sâu thêm một tầng nữa, nếu ai đó cho rằng Nguyễn Bính có chủ ý quên hẳn nông thôn quê hương để tạo nên một nông thôn khác, trong thơ mình - và như vậy, “cảnh tàn tạ của nông thôn” cũng đã “làm nên thơ Nguyễn Bính”, dù làm nên theo kiểu “tác động ngược”! Đấy chỉ là một kiểu ngụy biện. Dù Nguyễn Bính rất coi trọng chuyện hư cấu trong thơ, nhưng không có lý gì  anh lại “hư cấu” đến mức quên cả thực tế của nông thôn - trước hết là của quê hương mình - như vậy. Quê Nguyễn Bính có bão gió, có hạn hán, có lụt lội; đời sống người dân có khó khăn, chật vật; nhưng đó chỉ là tạm thời, nhất thời, như nhiều miền quê khác của chúng ta. Trong suốt quyển sách Nguyễn Bính và tôi (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1995 - tái bản 1999), nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn - vừa là anh họ, vừa là bạn học thời nhỏ của Nguyễn Bính - kể về quê hương mình (cũng là quê hương Nguyễn Bính) cùng với những kỷ niệm của hai người và những kỷ niệm với người thân, với bạn bè, không bao giờ thấy ông nói “cảnh tàn tạ ở đó.



Còn, nếu như nhìn rộng ra, cũng có thể thấy, trong thơ của các nhà thơ đồng thời với Nguyễn Bính, viết về nông thôn Việt Nam, thường hay được nhắc đến như Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân... đều không có “cảnh tàn tạ của nông thôn”.

Không, làm nên thơ Nguyễn Bính không phải cảnh tàn tạ của nông thôn, mà là những thứ khác, người ta đã đề cập, sẽ đề cập, và chắc cũng còn bàn luận nhiều nhiều.


Hồng Diệu


Nguồn: vannghequandoi.com.vn


___________


1- Câu này, có một chỗ hoặc viết sai, hoặc in sai: tạo dựng nên... chứ không phải tạo dựng lên...
2- Xem Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - Nhà xuất bản Văn học - 1993, tr.71.


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »