tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
24.07.2009
Bùi Công Thuấn
Những tìm tòi nghệ thuật của Anh Đức (2)

Truyện ngắn Anh Đức
Gần đây khi làm tuyển tập truyện ngắn cuả mình, Anh Đức cho biết: “lọc lại trên 60 truyện ngắn, tôi chỉ lấy được có 17, mưới bảy cái mà anh em cô bác đọc cho là được”(1) Anh Đức quả là thận trọng khi đặt truyện ngắn cuả mình trong lòng quần chúng độc giả, trong sự sàng lọc cuả thời gian. Quả vậy, sau nhiều năm, nhiều truyện ngắn cuả Anh Đức vẫn giữ nguyên sự hấp dẫn, giá trị tư tưởng, nghệ thuật và vẻ độc đáo riêng. Con cá song, Đất, Giấc mơ cuả ông lão vườn chim, Giữa buổi bình yên… là những truyện tiêu biểu.


 


2.Những truyện ngắn trong Bức thư Cà Mau (2) có đặc điểm chân chất, mộc mạc , tươi trẻ, giàu chất lãng mạn, đôn hậu. Bối cảnh cuả truyện là cuộc chiến đấu cuả nhân dân Nam Bộ. Nhân vật chính là quần chúng chiến đấu, vấn đề chính cuả truyện là ân tình, ân nghiã Cách mạng, đạo đức Cách mạng, quan hệ Cách mạng.


 


Truyện Khói miêu tả một trận phối hợp dân quân đánh máy bay Mỹ, bộc lộ tài trí cuả nhân dân ta trong việc lợi dụng khói đốt đồng để đánh trả bọn Mỹ với những vũ khí và máy bay hiện đại. Trong bối cảnh máu lưả ấy, xương sống cuả truyện là câu chuyện tình đẹp đẽ phi thường cuả Hựu và Quế. Chuyện tình ấy nảy nở trong những ngày Hựu nằm hầm bí mật. Tình yêu lớn dần với chiến đấu. Sau cuộc đánh máy bay Mỹ thắng lợi, Hựu và Quế gặp nhau trong khung cảnh hoành tráng, vui tươi. Hình ảnh Quế hiện lên vưà mộc mạc hồn nhiên vưà rất anh hùng :” Khuôn mặt còn dính tro cuả cô giờ hơi ửng đỏ, tóc cô còn rắc đầy tro. Mồ hôi lấm tấm rịn ra trên vầng trán cô, chảy nhỏ giọt xuống thái dương. Cô dừng lại trước mắt tôi và Hựu, kéo cái đuôi tóc ra trước ngực, cứ cầm đuôi tóc mà vân vê mãi”. Thế rồi Quế và Hựu chia tay, trên vai Hựu để lại cái khăn tay cuả Quế. Hẳn chúng ta cũng như Anh Đức đều ngạc nhiên và ngưỡng phục trước vẻ đẹp hồn nhiên ấy cuả Quế :”Tôi đưa mắt nhìn theo một lần nưã bóng Quế đang đứng ngó theo Hựu, cô gái đã từng đưa tay vuốt lấy những giọt máu đỏ tươi cuả mình ở đầu ngọn chĩa, và mới đây đã cùng chị em bạn bè đốt lên một áng khói thần”. Vấn đề chính cuả KHÓI là vẻ đẹp sức mạnh tình yêu CM trong chiến đấu.


 


Xuân Trường cho rằng(3) truyện ĐƯÁ CON là một truyện tâm lý đặc sắc về kết cấu và rất Nam Bộ trong tính cách nhân vật. Truyện có 3 cảnh, bộc lộ 3 tâm trạng và xoay quanh một chủ đề :Tỉnh nghiã CM.Việc chú thím Ba cho thằng Trung đi bộ đội làm cả chú và thím đều trăn trở tính toán. Bối cảnh và tâm lý nhân vật được miêu tả cô đặc, dồn nén và giàu màu sắc biểu cảm. Nỗi trăn trở cuả chú thím Ba là làm sao cho con được đi bộ đội, làm sao dâng hiến được con mình cho CM. Chúng ta xúc động trước cảnh chú thím Ba săn sóc con. Chú Ba dồn tất cả tình cảm và sức mạnh chiến đấu cho con khi căn dặn thằng Trung. Không khí truyện sáng hẳn lên với những ý nghĩ lời nói cuả thằng Trung.


 


Cái đọng lại thấm thiá nhất cuả câu truyện là nghiã tình CM, là tấm lòng cuả người dân Nam Bộ hy sinh tất cả cho CM. Tấm lòng ấy thể hiện rõ trong lá thư chú Ba viết đưa cho thằng Trung đem theo.


Chú đã đắn đo suy nghĩ từng chữ, trằn trọc cả buổi, dưới sự rình rập cuả kẻ địch, để viết cho được lá thư nói đúng cái ý cuả mình, cái lòng cuả mình với CM :”Vợ chồng tôi chỉ có một đưá con. Vì tình cảnh bị kẹt nên tôi phải ở trong ấp chiến lược. Trước đây vợ chồng tôi được CM cấp đất nên làm ăn đặng khá. Tôi vẫn chịu ơn cuả CM và Đảng rất sâu nặng. Nay con trai tôi ( là đưá cầm thơ này ) đã lớn, tôi thấy không thể để bọn Mỹ Diệm bắt nó đi lính đánh lại CM. Tôi không đành lòng mà chịu cảnh đó được. Vậy nên vợ chồng tôi từ trong ấp chiến lược gửi đưá con trai một cuả chúng tôi cho CM. Xin coi như tôi hoàn toàn dâng cho Đảng đưá con cuả tôi. Nó còn khờ khạo, mong anh em cứ dạy dỗ, chỉ bảo cho nó thành người thì vợ chồng tôi lấy làm mừng lắm”. Anh Đức đã ghi lại một cách tài năng niềm tin yêu mạnh mẽ, thuần khiết, trong trẻo cuả người nông dân Nam Bộ với Đảng. Ta cảm nhận được tinh thần CM phơi phới trên từng bước đi cuả thằng Trung :”Bấy giờ thằng Trung đã tới cửa ấp . Nó thấy cưả mở he hé, chớ không đóng. Nó liền đẩy nhẹ một cái, lách qua, rồi thoăn thoắt bước đi. Chốc sau nó qua khỏi hàng rào đầy thép gai cuối cùng tới chân đồng. Nó xốc cái tay nải trên vai bắt đầu chạy. Gió thổi lộng. Không khí trong lành quá. Chạy một quãng nó dừng lại thở. Nó cảm thấy không khí nó hít vào mát mẻ, dễ chịu hơn trong ấp chiến lược nhiều lắm”. Truyện ĐƯÁ CON là một bức tranh mộc mạc và đầy ánh sáng, hồn nhiên mà ý nhị


 


Trong tập Bức Thư Cà Mau, truyện ĐẤT mới thực là truyện có sức nung đốt trái tim người đọc và để lại một ấn tượng bền vững về ngưới dân Nam Bộ giữ đất giữ nước. Hình ảnh ông Tám Xẻo Đước thật bình dị mà lẫm liệt. Phạm văn Sĩ cho rằng :”Tinh thần xả thân cuả ông Tám đã được Anh Đức mô tả như là cái kết cục logic cuả một quá trình giác ngộ sâu sắc về nghiã vụ CM cuả ông lão nông dân”(4) Còn Trần Quang thì cho rằng hành động giản dị và bình thường cuả ông Tám “…xuất phát từ một cơ sở giác ngô vô cùng sâu sắc tích luỹ nhiều mặt và lâu dài, và thật là vĩ đại “(5) PTS Phùng Quý Nhâm nhận xét khái quá :”Anh Đức chỉ dành có 4 trang để miêu tả hình tượng ông Tám Xẻo Đước nhưng quả là 4 trang chắt lọc dựng nên một tính cách hoàn chỉnh có sức khái quát về con người nông dân Nam Bộ : thà chết trước mũi súng cuả kẻ thù trên mảnh đất mà ông cha và CM đã tạo lập chứ không chịu dời nhà vào ấp chiến lược”(6)


 


Hình ảnh ông Tám Xẻo Đước xoã tóc, khấn niệm trước bàn thờ rồi sau đó cầm ngọn mác chiả thẳng vào kẻ thù và đi tới, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo có sức chuyển tải nhiều tầng ý nghiã sâu xa hơn nhiều. Đó không chỉ là sự xả thân vì ân nghiã CM, không chỉ bộc lộ sự giác ngô lâu bền và sâu sắc, không chỉ khái quát tính cách con người Nam Bộ. Hình tượng ấy còn chưa đựng sức mạnh tinh thần, sức quật khởi và sức mạnh dân tộc trong thời đại mới. Chính cái sức mạnh ấy đã làm kẻ thù khiếp sợ. Anh Đức đã ghi lại cái cảm giác kỳ diệu này :”Tôi cảm thấy như đất dưới nền nhà dưới chân tôi nóng hâm hấp, cơ hồ như đang động cưạ, tái hiện lại những vũng máu tươi. Thế rồi khi tôi quay lại tôi không thấy anh Hai Cần ngồi cạnh tôi nưã.Anh đang quỳ trước bàn thờ, cái bàn thờ mà cha anh đã quỳ dạo nọ, mùi nhang lại toả lên “. Cái cảm giác ấy tôi tin là có thật, nó làm dựng đứng óc não người đọc, làm người đọc chợt nhận ra ngay nơi mảnh đất mình đang sống là máu cuả bao nhiêu thế hệ đã hy sinh giữ gìn. Không khí truyện bi hùng, cảm động và linh thiêng nhưng lại thanh thoát và mãn nguyện. Mùi nhang toả quen thuộc làm cho quá khức cùng tồn tại với hiện tại, làm cho hy sinh trở thành bất tử, nối liền ý thức dân tộc, sức mạnh dân tộc qua ngàn đời.


 


Truyện CON CHỊ LỘC thể hiện được chiều kích sâu thẳm cuả chủ nghiã nhân đạo cộng sản chủ nghiã. Anh Đức đã đặt 3 mẫu nhân vật cạnh nhau, ba thế hệ, rất dễ gây ấn tượng và xúc động. Thế hệ người già là ông Sáu, người tù cao niên nhất. Thế hệ trung niên: chị Lộc, người phụ nữ có thai


sắp sinh con, và thế hệ tương lai, đưá trẻ được sinh ra ngay trong cảnh tù đày. Bản thân tình huống đã có sức gây xúc động mạnh. Kẻ thù dã man. Lòng thương yêu con người cuả ông Sáu, cuả bạn tù thật sâu sắc, sức chịu đựng và sự hy sinh cuả người phụ nữ thật phi thường, và con chị Lộc, thế hệ tương lai, đã được những bàn tay và tấm lòng CM che chở. “Trong một chuyến đi đày mà có tới ba lớp người, đẻ trước, sinh sau. Chị tự hỏi : liệu cái còng trên tay mình và tay bác Sáu sau này có còn xiết lấy cổ tay con mình nưã không?”. Câu hỏi ấy, suy nghĩ ấy cuả chị Lộc cũng là câu hỏi cuả dân tộc cần được trả lời. Không khí truyện được dồn nén cao độ trong sự ngột ngạt tù hãm dã man, và mở ra mạnh mẽ hân hoan trong sự thắng lợi. Sức mạnh cuả lòng nhân ái trở nên dữ dội như bão táp. Phải cứu lấy chị Lộc, phải bảo vệ cho được con chị Lộc, phải tiêu diệt cái ác để bảo vệ mầm sống cuả tương lai. “Cơn phẫn nộ đã đẩy những người tù tới hành động mà họ không tính trước”.Bảo vệ và giải phóng cho thế hệ tương lai cũng chính là giải phóng mình ở hiện tại. Những người tù đã cướp tàu và quay về hướng Cà Mau. Con tàu không bao giờ đi tới Côn Đảo nưã. Ở truyện nay, Anh Đức thể hiện tấm lòng trân trọng nân niu đối với phụ nữ và trẻ em, thấm thiá lòng nhân ái và truyền đến người đọc caí ý thức và quyết tâm bảo vệ lấy mầm sống tương lai cuả dân tộc. Ngòi bút Anh Đức tràn đầy tính lãng mạn.


 


Ông Tư Vườn Chim trong truyện GIẤC MƠ CUẢ ÔNG LÃO VƯỜN CHIM và truyện : Câu Chuyện Tiếp Theo về Ông Tư Vườn Chim. Có thể xem như một cây cổ thụ toả bóng trong rừng nhân dân Nam Bộ đánh Mỹ. Nếu Ông Tám Xẻo Đước lẫm liệt, bi thương trong sự vây ép cuả kẻ thù thì Ông Tư Vườn Chim lại tung hoành, xông xáo, dũng mãnh trong chiến trường đánh Mỹ. Ông là cái gốc, là cột trụ, là sức mạnh dẫn đạo ; là niềm tin, là mưu trí, là người chủ, người anh hùng kiểu mới cuả đồng ruộng. Ở ông toát ra sức mạnh tinh thần thật vững chãi. Sức mạnh ấy như ôm lấy, che chở cho con cháu đánh Mỹ. Sức mạnh ấy là sức mạnh cuả một đời nô lệ vất vả cực nhọc riết chịu không nổi ”phải bỏ làng dắt vợ đi miết”, sức mạnh dồn tụ từ bao máu xương căm uất : Con ông đi Vệ Quốc Đoàn hy sinh, con dâu ông bị giặc mổ bụng, ông phải chứng kiến bao cảnh thương tâm. Giờ đây ông cùng đưá cháu nội, đưá cháu dâu và bà con dân làng đánh Mỹ. Sức mạnh tinh thần cuả ông còn xuất phát từ cái vườn chim đầy cò diệc, nó vưà là nguồn sống cuả chính ông, là mảnh đất con ông đã ngã xuống, là hạnh phúc, long nhân ái cuả ông. Giặc Mỹ tàn phá vườn chim là tàn phá chính đời ông, “nó câý vào lòng ông nỗi đau xót và phẫn nộ lặng thầm, mỗi lúc một nghiến ngấu, mỗi lúc một sôi sục”. Ông không đành lòng nhìn đàn cò diệc không thể đáp xuống vườn chim vì bị giặc tàn phá. Bất giác ông kêu trời. “Ông lão đau đớn quá”. Trong tâm nguyện cuả ông chỉ có một điều :”cái chi tao dứt bỏ được, chớ cái vườn chim này với mấy thằng bộ đội thì tao không dứt ra được đâu”. Tất cả nỗi đau xót và lòng yêu thương ấy kết tụ thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng. Ông cùng dân làng đi dập đám rừng vưả bị giặc Mỹ đốt cháy. Ông trở thành gnười chỉ huy.”đám người nghe ông lão dặn thế thì đều dạ, mặc dầu ông lão nói câu nào câu nấy cứ như người hạ lịnh, nhưng ngó bộ ai nấy đều nghe răm rắp, chừng như họ có vẻ tin tưởng kính nể ông dữ lắm”. Quả vậy, sau này khi đặt kế hoạch lấy bót Xẻo Biển, thì chính Hai Râu, xã đội trưởng kiêm chính trị viên đã phải nghe ý kiến cuả ông, mưu kế cuả ông, nể phục ông, mà thốt lên trong bụng :”ông già này dữ dằn thiệt. Mình không ngờ kế hoạch cuả ông lại thâm sâu ghê trời vậy”.Đối diện với ông, kẻ thù là bọn Tư Tôn phải nể sợ. Vẻ đẹp khoẻ khoắn, dũng mãnh và đầy nhân ái cuả ông hiện lên ở cuối truyện. Giưã tiệc nhậu thắng trận, trong lúc Ông Tư mải mê “múc lươn um từ trong điã ra chén cho từng người” thì những người lính ngụy được giải phóng, hoàn lương, đã cảm động không thốt lên lời . “Mắt họ rưng rưng ngó nhìn ông già đầu buộc khăn trắng”, người đã cứu mạng họ.


 


Trong hình ảnh và tính cách cuả ông Tư vườn chim còn có một chi tiết thật cảm động, đó là chiếc khăn trắng ông buộc mãi trên đầu, tấm khăn thuỷ chung. “Trong đời ông già đó, trải qua trên nưả thế kỷ, vật lộn với rừng hoang, với kẻ thù, chưa ai ở Cào Lưới thấy ông khóc, kể cả lúc con trai chết trận hồi kháng chiến trước. Kể cả lúc con dâu bị Mỹ Nguỵ mổ bụng giưã vườn chim. Vậy nhưng có một lần ông khóc ghê gớm… khóc rống, vật vã suốt đêm trên sàn chòi”, Đó là lúc ông nghe Hồ Chủ Tịch từ trần. Rồi ông xé khăn trắng buộc lên đầu, lập bàn thờ ở giưã sàn thờ Hồ Chủ Tịch, “chịu tang cụ cho tới khi chết”. Có thể nói Ông Tư là hiện thân cuả lão nông Nam Bộ đánh giặc. Hình tượng ấy toát lên bao ý nghiã. Cách mạng là quần chúng và quần chúng chính là CM. Vẻ đẹp cuả con người VN ngời lên trong chiến tranh nhân dân : thuỷ chung, nhân ái, mưu trí, dũng cảm và chan hoà bao tình yêu thương.Anh Đức đã thể hiện một cách thật tự nhiên , bình dị nhưng sâu sắc tất cả những vẻ đẹp ấy.


 


Những trang miêu tả thiên nhiên, bầu trời, đồng nước Tháp Mưới đặc biệt hấp dẫn trong truyện XÔN XAO ĐỒNG NƯỚC. Truyện có nội dung đơn giản. Tác giả kể lại một lần khi qua trạm giao lien do Chị Ba Tương Lai dẫn đường, kể lại việc chị Ba dụ địch, đánh máy bay địch trên đồng nước, bảo vệ được đoàn khách qua trạm. Truyện phản ánh và ca ngợi người nữ giao liên anh hùng, qua đó lý giải nguồn gốc sức mạnh chiến đấu và mưu trí đánh giặc cuả chị. Tình yêu với người chồng giao lien trước đây đã hy sinh trên đường dây này là sức mạnh cuả chị. Chị kế tục cái công việc hiểm nguy cuả chồng. Vậy mà chị thản nhiên chủ động lạ thường. Ở người phụ nữ này, sự táo bạo, dũng cảm và mưu trí làm nên chiến thắng. “ Chị ta coi vạm vỡ , tướng đi xốc xaó, và có cái búi tóc rất to “, “ giọng ồ ồ như giọng đàn ông”, ”khắt khe mà lại hách dịch nưã”.Khi đánh rơi máy bay trực thăng Mỹ, “người đàn bà trưởng trạm to lớn đó chống nạnh đôi tay lên mạn sườn , đăm đăm ngó mãi về cái đống đen lù lù ngút khói cuả chiếc trực thăng vưà rơi. Tôi nghi chỗ đó có thể là chỗ anh Ba chồng chị đã ngã xuống hồi tháng nắng”


 


Nhân vật ấy, hoàn cảnh ấy hiện lên trên nền một thiên nhiên đồng nước trong vắt hiền hoà. “Giưã trời trưa không hé một tia nắng, đồng nước nhấp nhô những làn sóng nhỏ, mải miết như chảy về một bến bờ xa xăm nào. Trên cánh đồng nước đìu hiu ấy không có gì ngoài những chùm gáo thưa với những khóm điên điển trổ đầy những hoa vàng rực giống như sắc lông chim hoàng yến. bên trên, bầu trời âm âm một màu tro”. Ai đã từng lội đồng muà nuớc lụt ở Nam Bộ, hẳn sẽ nhận thấy Anh Đức tả đồng ruộng thật sống động. Cảnh trong veo như hiện ra ngay trước mắt ta :”bây giờ cỏ Tháp Mười bị mưa còn chưa đủ chết. Biển cỏ dầm mình trong làn nước nửa chua nửa ngọt bởi phèn xì lên và mưa trút xuống. Nước trên đồng nhờ có chất phèn nên trong veo có thể ngó thấy từng đàn cá chạy, từ con cá rô đen mun, tới con cá sặt anh ánh sắc tím. Trên mặt đồng nổi lềnh bềnh nhiều ốc bưu lát, con ốc nào cũng đóng rêu xanh rờn…Những bụi bông súng nở bông to như hoa quỳ và những cọng bông súng màu vàng rêu lả lay dưới làn nước bị khuấy động làm cho tôi cứ như ngửi thấy mùi mắm kho từ ven xóm ở bên kia phất tới”. Thiên nhiên ở đây yên tĩnh. Phong phú sắc màu, hoà với đời sống yên ấm cuả người nông dân. Thiên nhiên ấy cũng chính là tâm hồn VN, bản lĩnh VN. Thiên nhiên đồng ruộng này cũng là được chiều sâu tâm hồn Chị Ba Tương lai. Tâm hồn ấy dịu êm , mát rượi khi hoàn thành nhiệm vụ đưa đòan khách qua trạm an toàn, khi đứng nhìn xác chiếc máy bay Mỹ cháy đen ở chính nơi chồng chị hy sinh. Nếu không có bối cảnh thiên nhiên này, thì tính cách, tâm hồn chị Ba Tương Lai sẽ nghèo nàn, thô thiển đi biết mấy.


 


Ở MUÀ GIÓ và NGƯỜI CHƠI ĐẠI HỒ CẦM nhân vật cuả Anh Đức không phải là người nông dân. Đó là cô giáo Út Diệu và nhạc sĩ chơi Contre bass, anh Hoài. Cả hai người đầu rất say mê công việc cuả mình, hết lòng phục vụ CM . Cả hai đều hoạt động trong môi trường chiến đấu hiểm nghèo, nhưng họ khát khao hiến dâng tuổi trẻ cho CM. Út Diệu khẳng định “Út không bao giờ đi khỏi đây đâu, em sẽ sống cùng sống, chết cùng chết với bà con, dạy cho mấy đưá nhỏ học”. Ở dưới tầm đạn bom cày xới từng ngày từng giờ huỷ diệt, út Diệu vẫn hồn nhiên dạy dỗ đàn em và cùng bà con đánh giặc. Tình yêu cuộc sống, yêu con người, yêu CM trở thành sức mạnh tinh khôi ở Diệu, và giờ đây có thêm tình yêu cuả Lân chắc chắc sức mạnh ấy sẽ tăng lên gấp bội.


 


Cũng vậy, anh Hoài, từ khi có được cây đàn Contre Bass, “cây đại hồ cầm này không phải sắm bằng tiền, mà sắm bằng tình, tình yêu người nghệ sĩ muốn có cây đàn để phục vụ CM”, thì anh đã đem hết tài sức mình , cống hiến không mệt mỏi .Anh bộc lộ hết tính cách nghệ sĩ. “ anh vui hơn trước nhiều, đôi mắt anh ánh lên niềm tự tin. Anh Hoài như mới được một sức gì bật dậy”


 


Nhìn chung những truyện ngắn trong Bức Thư Cà Mau tập trung phản ánh cuộc chiến đấu cuả nhân dân Nam Bộ trong nhiều hoàn cảnh : đánh máy bay Mỹ (Khói), đấu tranh giành lấy con người (Đứa Con, Con Chị Lộc), đấu tranh giữ đất, phá ấp chiến lược, giữ lòng thuỷ chung CM (Đất), đấu tranh bóc gỡ đồn bót lấn chiếm cuả kẻ địch (Câu Chuyện Tiếp Theo về Ông Tám Vườn Chim), cuộc chiến đấu cuả người giao liên (Xôn Xao Đồng Nước), đấu tranh để giữ lấy đời sống yên bình (Mùa Gió).. Trên nền cuả cuộc chiến ấy, quần chúng CM hiện lên như những con người rất đỗi bình thường, chân chất hồn nhiên và tràn đầy sức sống. Mỗi con người đều có những kỳ tích anh hùng, đều có những phẩm chất cao đẹp. Đó là lòng trung thành tuyệt đối với CM , sẵn sàng dâng hiến, sẵn sang xả thân cho CM (Ông Tám xẻo Đước, Chú thím Ba). Đó là ý chí bám đất, giữ đất giữ nước không rời ( Ông Tư vườn Chim, Út Diệu…), đó là lòng yêu thương mênh mông, mãnh liệt cuộc sống, yêu con người. Tình yêu lưá đôi nảy sinh và phát triển trong chiến đấu, trở thành sức mạnh chiến đấu, dù phải cách xa (Quế-Hựu), dù thương tật (Lân-Út Diệu) dù có người hy sinh (Chị Ba Tương Lai), hoặc trọn vẹ đẹp đẽ ( Thắng và vợ trong Giấc Mơ cuả Ông Lão Vườn Chim)


 


Anh Đức tập trung khai thác và thể hiện nhiều vẻ đẹp cuả chủ nghiã anh hùng cách mạng, trên bối cảnh thiên nhiên ruộng vườn đẹp, trên nền hoành tráng cuả cuộc chiến đấu. Nhân vật hiện lên trong trẻo, hồn nhiên , đôn hậu , chất phác. Phẩm chất anh hùng hiện diện ngay trong đời thường, trong sự đôn hậu chất phác ấy. Nói như Diệp Minh Tuyền là có “một vầng ánh sáng lấp lánh quanh tác phẩm” cuả Anh Đức, và “thái độ tuyệt đối trung thành với CM là đặc điểm nổi bật cuả nhân vật Anh Đức”(7). Nhưng phải nói thêm rằng phẩm chất anh hùng, sức mạnh và chiều sâu cuả chủ nghiã nhân đạo cộng sản chủ nghiã, ân nghiã, ân tình CM là những phẩm chất cuả nhân vật truyện ngắn trong Bức Thư Cà Mau. Ngoài ra, sức hấp dẫn cuả Bức Thư Cà Mau còn ở sự độc đáo và sâu sắc cuả chủ đề truyện, chẳng hạn những chủ đề cuả ĐẤT, CON CHỊ LỘC, GIẤC MƠ CUẢ LÔNG LÃO VƯỜN CHIM…Anh Đức cũng thể hiện tài năng trong miêu tả thiên nhiên (Xôn Xao Đồng Nước), tả tâm lý (Đưá Con) , tài dẫn truyện (Người Chơi Đại Hồ Cầm)…


 


Xu thế chung cuả Bức Thư Cà Mau là xu thế lý tưởng hoá, xu thế miêu tả cái đẹp CM, xu thế trữ tình CM, tác phẩm thấm đẫm tin yêu. Âm điệu chung là âm điệu ngợi ca, ngưỡng phục. Tác giả nhập thân với nhân vật, đồng cảm, trân trọng nâng niu những giá trị cuả cuộc sống.


 


3.MIỀN SÓNG VỖ : Một bước tìm tòi nghệ thuật mới cuả Anh Đức.


 


Những truyện ngắn trong tập Miền Sóng Vỗ đều viết sau 1975, trong hoàn cảnh mới và trong ý thức sáng tác mới cuả tác giả. Nếu trước 1975, nhiệm vụ, yêu cầu chính cuả người cầm bút là ”phản ánh một cách sinh động cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng” cuả nhân dân Nam Bộ, thì nay đất nuớc đã được giải phóng, Bắc Nam thống nhất một nhà, nhiệm vụ cải tạo và xây dựng chủ nghiã xã hội là


nhiệm vụ trung tâm. Trong sự nghiệp CM mới, văn học phải góp phần xây dựng con người mới, cuốc sống mới, quan hệ mới. Anh Đức nói cụ thể :”Nhiệm vụ cuả sáng tác văn học hiện nay, chính là phải góp sức vào công việc đó, góp sức làm cho tổ quốc có cuả, có luá, có vải, có năng lượng cũng như là ở trong thời chiến, văn học phải dốc sức cùng quân dân giành cho được độc lập tự do vậy”(8)


 


Đó là nhiệm vụ chung. Mỗi nhà văn thực hiện nhiệm vụ ấy theo sở trường cuả mình. Anh Đức thấy rằng :”cần phải viết về những con người mới và những con người đang cản phá sự đi lên cuả xã hội, cần phải viết về cái cao đẹpvà cả về tội ác”(9). Viết về con người mới là một diện rất rộng, Anh Đức lưạ chọn phần hiện thực nào cuả con người mới ? “Gần đây tôi ý thức rằng đề tài con người mới cuộc sống mới đó là cái ở quanh mình, đó phải là cái cuả cuộc sống thường nhật, đó chính là cái cảnh đời có bộ mặt tốt xấu hoặc lừng khừng mà nhiệm vụ cuả mình là phải gieo vấn đề, đặt được tư tưởng cho nó để viết”(10). Mục đích Anh Đức mong đạt tới là ”để xây dựng và giáo dục phẩm cách sống hiện nay, người viết cần phải nhen nhóm tức thì lối sống mới, nhân cách mới, đạo lý mới, trật tự mới”(11)


 


Miền Sóng Vỗ là sự lên tiếng cuả Anh Đức truớc những vấn đề cuả Con Người, về cách sống, về mối quan hệ, về đạo đức trong một xã hội đang ở những bước đầu thời kỳ quá độ vô cùng phức tạp. Anh Đức “gieo vấn đề, đặt tư tưởng” cho người đọc, để từ đó tác động làm thay đổi, làm thức tỉnh, dự báo, nhắc nhở, để xây dựng những nhân cách CM mới, những điển hình mới từ những con người lao động bình thường. Do vậy, trong Miền Sóng Vỗ, giá trị cuã tác phẩm không phải là giá trị phản ánh mà là giá trị “gieo vấn đề, đặt tư tưởng” sâu sắc đến độ nào, và những vấn đề, tư tưởng được gieo ấy quan trọng thế nào với cuộc sống, với tâm hồn người đọc ? Nghệ thuật gieo vấn đề, đặt tư tưởng có thuyêt phục hay không.


 


NGƯỜI KHÁCH ĐẾN THĂM VƯỜN NHÀ TÔI là ai ? Đó là ông Khắc, một “cán bộ lâu năm cuả Đảng” công tác tại Uỷ Ban Công Tác Nông Thôn cuả trung ương. Có con vào Nam chiến đấu và hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Trong điều kiện cuả ông, con ông có thể đi học ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức, sẽ nắm chắc học vị Phó Tiến Sĩ trong tay. Thế nhưng không. ”..Trong nước đang có giặc…một chỗ cần cho con tôi hơn, đó là tiền tuyến. Là vì, chắc về lâu về dài tôi sẽ ân hận nhiều, nếu tôi có đưá con trai mà không dám giao nó cho Đảng, trong những năm kẻ thù đông tới trên một triệu tên…Tôi có tuổi Đảng gần ba mươi năm, do vậy mà tôi sẽ vô cùng áy náy nếu mỗi lần tôi đi công tác về các xã, ở ngoài Bắc cũng như trong Nam, thường gặp những người cha người mẹ nông dân có tới ba, năm hoặc sáu đưá con ra trận không trở lại “. Đó là tấm lòng cuả một người cha với con. Người cán bộ với Đảng, người cán bộ với dân. Đó là thái độ tự ý thức về nghiã vụ cuả chính mình, về sự hy sinh cần phải có với dân với Đảng. Cũng là sự phán xét lương tâm trước thực tại.. Quả vậy khi nghe tin con hy sinh, ông Khắc đã vô cùng đau đớn, nhưng ông “không ân hận, lương tâm rất yên ổn”.


 


Đối diện với người cha”giản dị và thầm lặng “ấy là một bà mẹ CM. “Nhà má nuôi cộng sản từ hồi Tây, từ kháng chiến đánh Tây tới giờ nhà má chưá bộ đội có chừng một trăm lần”Tấm lòng cưu mang cuả mẹ thật lao la và chu tất vô cùng.


 


Có những người bố, người mẹ CM như thế, những người con như Dũng đã lớn lên, trưởng thành, chiến đấu và hy sinh đẹp đẽ thế nào. Vấn đề Anh Đức đặt ra là gì ? Đó là sự hy sinh tất cả cho CM cho tổ quốc, là ý thức sống sao cho đúng với yêu cầu cuả CM, sống cho đúng với những người đã hy sinh.


 


Câu chuyện cuà Anh Đại Uý trong GIÒNG SÔNG TRƯỚC MẶT có nhiều nét kỳ thú lãng mạn. Trong chiến đấu, anh bị thương và được một Nữ Thanh Niên Xung Phong cứu thoát. Nhưng chính ngừời nữ Thanh Niên Xung Phong ấy lại bị nạn không biết sống chết thế nào. Rất tiếc anh lại không biết mặt cô ấy. Rồi cuộc sống chiến đấu lôi cuốn anh đi để rồi anh cứ “áy náy” khôn nguôi về người đã cứu mình, cứ mong tìm kiếm để gặp mặt. Thế nhưng, người làm ơn, cô Thanh Niên Xung Phong ấy đã không để lại dấu tích gì. Và thật bất ngờ, hai người nhận ra nhau khi cùng đi nhờ chung một chuyến xe bò trong đêm. Gặp lại nhau nhưng anh Đại Uý không thể biết mặt cô gái vì đêm tối bao trùm tất cả.


 


Nghe chuyện cuả anh Đại Uý, người đọc cứ cầu mong cho anh tìm được cô gái, và hẳn Anh Đức có dụng ý khi để anh Đại Uý không nhìn rõ mặt cô gái. Câu chuyện gieo vào lòng ta điều này : trong cuộc chiến đấu, có bao người đã làm ơn cho ta, đã vì ta mà nhận lấy hiểm nghèo, thiệt thòi. Những người ấy ta không thể biết rõ, bởi họ không bao giờ nhận về mình những gì đã làm cho người khác. Nhưng riêng ta, nếu ta không nhận biết họ, ta sẽ vô cùng “áy náy”. Lời chị Ba đánh xe bò chia vui với Anh Đại Uý cũng là lời tác giả nhắc nhở chúng ta :”Bỗng dưng tầm ra được ân nhân, phải tính sao coi cho được đó nghen”. Chúng ta, người đang được thưà hưởng sự hy sinh cuả người đi trước, phải tính sao cho được với ân tình ân nghiã ngày xưa?


 


Vấn đề Anh Đức đặt ra trong GIẤC MƠ GIƯÃ BUỔI BÌNH YÊN không vui vẻ nhẹ nhàng như trong Giòng Sông Trước Mặt, mà cháy bỏng, quyết liệt và xoáy vào tim ta về lâu dài. Đó là sự xa dân, xa Đảng , xa những tháng ngày gian nan chiến đấu, quên đi những ân tình CM mà không thấy sợ. Đó là làm sao để lo cho dân, đáp ứng những yêu cầu rất đỗi bình thường cuả dân. Ngôi trường còn thiếu thầy,bệnh xá còn thiếu y tá, cô đỡ, và nhiều thứ khác


 


Anh Đức đã “gieo vấn đề” với một đồng chí lạnh đạo cấp Tỉnh Uỷ Viên là Cô Tư, và triển khai vấn đề trong một cấu trúc tương phản nhiều chiều. Tương phản giưã những tháng ngày bình yên và những năm tháng quá khứ đầy lo âu, đầy máu và nước mắt ; tương phản giưã đời sống sung túc cuả một tỉnh ủy viên ( đi làm có xe con, ngủ giường nệm, nhà ở khang trang thoáng mát, bưã ăn cuối tuần thế nào cũng có món tươi khác ngày thường như lươn um dưà hay tôm chiên lăn bột…) với đời sống cuả người dân thường còn quá nhiều thiếu thốn cơ cực ; tương phản trong nhận thức về khát vọng cuả quần chúng, tưởng rằng quần chúng đòi hỏi những điều cao xa, nhưng thực tế lại quá đỗi bình thường ; tương phản giưã ý thức đạo đức rằng người cán bộ cuả Đảng cứ làm việc, cứ công tác, cứ hội họp và được đánh giá:”ưu điểm là nổi bật và căn bản còn khuyết điểm không có gì nghiêm trọng”, “thế là” “yên tâm”, với ý thức đạo đức khác là sự thất hưá tự nguyện :”…mình đã thất hưá bởi một cam kết trọng hệ, cái cam kết thực ra không có luật pháp nào ràng buộc, chỉ có tình yêu thương trong buổi gian truân, chỉ có máu chảy nơi chốn ruộng đồng bưng trấp cất lên thành tiếng nói dập dồn dội mãi vào giưã tâm tôi. Rõ ràng tôi đã cách xa một quãng, đã quên đi một chặng, nên từ đó không thấy sự thôi thúc cuả những ước vọng tưởng chừng như nhỏ bé nhưng thật ra rất đỗi lớn lao kia”


 


Trên tất cả những tương phản ấy, cuộc đời chiến đấu và hy sinh đầy máu và nước mắt cuả vợ chồng anh chị Năm Luá, những tháng ngày gian nan hiểm nguy cuả quá khứ, là cái nền đỏ rực làm cháy lên những vấn đề , làm “bứt rứt xốn xang” lương tâm tất cả chúng ta, những người đang sống trong bình yên, những người đã quên những ân tình ân nghiã CM.


 


Anh Đức đã không chỉ đặt ra vấn đề đạo đức lương tâm CM, mà đặt ra vấn đề “ tưởng chừng như nhỏ bé nhưng thật ra rất đỗi lớn lao”, đó là vấn đề vưà cấp thiết, vưà lâu dài cuả CM xã Hội chủ Nghiã . Đó là : làm sao cho nhân dân được no ấm, hạnh phúc, sao cho cuộc sống cuả họ xứng đáng với bao xương máu đã hy sinh


 


Truyện NGƯỜI VỀ HƯU và TIẾNG NÓI có thể có chung một chủ đề là vấn đề nhân cách sống cuả người cộng sản. Người cộng sản dù đã về hưu, được quyền nghỉ ngơi, nhưng trong điều kiện hiện tại đất nước còn khó khăn, họ vẫn tự giác làm việc, cống hiến chút sức lực cuối cùng cho CM, cho cuộc sống xung quanh, đúng như lời đề từ cuả truyện mà Anh Đức trích trong vở kịch Cô Thánh Giannơ Ở Lò sát Sinh cuả Bertolt Brecht :” làm sao để khi giã từ thế giới, ta không chỉ nằm xuống như một người lương thiện, mà điều quan trọng là ta có thể giã từ một thế giới lương thiện hơn”. Ông Sáu, một thượng tá về hưu, có một cuộc đời chiến đấu từ những ngày “nóp với giáo mang trên vai” cho tới chuyến vượt Trường Sơn trở về dự vào cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt. Ông có hai đứa con đi bộ đội đều hy sinh, vợ là một cô giáo đầy dũng cảm và thuỷ chung. Ông về sống giữa khu xóm như một người bình thường, nhưng tâm hồn ông không bình thường chút nào. Ông luôn “cắng đắng” về những sự việc xảy ra chưa tốt xung quanh ông. Ông suy nghĩ và quan niệm giản dị rằng hễ chỗ nào có những người cộng sản thì con người và cuộc sống ở tại chỗ đó phải khấm khá hơn. Ông muốn sự khá hơn tốt hơn đó phải cụ thể chớ không trừu tượng, bởi trừu tượng chung chung, theo ông nghĩ là chưa có gì. “thế rồi ông lao vào hành động, thúc giục mọi người hành động, tưạ hồ ông xốc mọi người dậy”, thế nên “thật vất vả cũng như thật may mắn cho cái phường nào có những ông già về hưu như ông “. Cuối đời, ông đã làm thêm được một việc tốt lành cho xã hội. Hẳn ông rất thanh thản để lại cái vốn liếng đời ông cho thế hệ sau.


 


Trong truyện này, Anh Đức cũng đề cập đến một số vấn đề xã hội cụ thể, đó là vấn đề trẻ em cù bơ cù bất,trộm cắp, ngủ bờ, ngủ bụi không được ai chăm sóc. Tất nhiên việc giải quyết vấn đề này trong thực tiễn không đơn giản và thuận lợi như ông Sáu đã làm.


 


Ông già về hưu, bố cuả Tư Lợi (một bí thư Đảng uỷ quận) trong truyện TIẾNG NÓI đã lên tiếng không dễ nghe, không dễ chịu như ông Sáu. Người cán bộ phải sống thế nào? Phải hành xử thế nào ? –“Bây giờ được Đảng giao trọng trách, làm một việc gì dù là lớn nhỏ cũng không được mù mờ.Anh em cô bác người ta ngó vào thấy mình hơi loạng quạng một chút thôi cũng đủ để người ta bớt tin”, “ chỗ đứng và mắt nhìn vẫn cứ phải tỏ rõ như xưa, cung cách sống phải trong sạch”, “… nghĩ gì, làm gì cũng phải hướng tới ngày càng làm có lợi cho người lao động. Hễ cái gì đem lại lợi ích cho các thành phần lao động cơ bản cũng như trí óc thì các anh làm tới, đừng trù trừ. Ví dụ manh quần tấm áo cuả họ, bưã cơm cuả họ. Còn hễ cái gì có chiều hướng làm căng túi tiền cho tụi con buôn, tụi không làm mà hưởng…thì các anh cứ triệt bỏ đừng nương tay”.Ông cụ đã phê đến nơi đến chốn việc anh Tư Lợi dùng xe con chở con đi học, việc nhận quà biếu xén, việc để cho Năm tại đem cái xe Spring hoá giá đến nhà để “lót sẵn ván cầu”. Tiếng nói cuả ông có sức thuyết phục khi Anh Đức tạo ra sự tương phản giưã cuộc sống cuả Tư Lợi và cuả bố :”hình ảnh một ông già cưỡi trên một cái xe đạp đã cũ, đầu đội chiếc nón cối cũng rất cũ kỹ chạy chậm chậm trên nẻo đường từ An Phú về thành phố, đàng sau có đèo một trái mít.”


 


Rõ ràng là ông già về hưu này chưa hề nghỉ hưu chút nào, ông vẫn tác động quyết liệt vào những vấn đề nóng bỏng cuả hiện thực : vấn đề nhân cách cuả người cán bộ, vấn đề hưởng thụ cá nhân cuả người cán bộ trong tương quan với nhân dân. Tệ nạn hối lộ, lo lót và sự sa ngã trước sự cám dỗ cuả vật chất. Vấn đề làm mất lòng tin cuả nhân dân.


 


MIỀN SÓNG VỖ là câu chuyện tình yêu duy nhất trong trong cả tập Miền Sóng Vỗ. Tình yêu ở đây không còn trẻ trung như trong Bức Thư Cà Mau. Đó là tình yêu nảy nở trong quá khứ chiến đấu, nhưng được nhìn ở ý thức mới trong hoàn cảnh mới, tình yêu cuả hai Chi và Sáu Hạnh. Hai Chi là cựu chỉ huy tiểu đoàn pháo, người đã trực tiếp dẫn dắt Sáu Hạnh. Hai Chi giờ là thương binh, có nguy cơ hỏng cả hai mắt. Còn Sáu Hạnh giờ là một Phó Bí Thư Huyện Uỷ, người đã yêu Hai Chi bằng trái tim và lý trí cuả một người cộng sản, người “biết nhìn lẽ sống ở đạo thuỷ chung, là một cái đức cốt lõi cuả người cộng sản”Hai Chi quyết từ chối tình yêu cuả Sáu Hạnh vì nghĩ mình tàn phế, chỉ làm khổ, làm cản bước công tác và thêm gánh nặng cho Sáu Hạnh. Còn Sáu Hạnh cũng quyết liệt không kém để giữ cho được tình yêu cuả Hai Chi, vì đó là tình yêu từ trong máu lưả, là chính cuộc đời cuả Sáu Hạnh, là phẩm chất cao đẹp cuả Sáu Hạnh. Cả hai đều nói những điều thuyết phục, cùng lý tưởng, cùng vì hạnh phúc cuả nhau. Tình yêu, hạnh phúc cuả cá nhân còn là tình nghiã CM, đạo lý CM , lý tưởng CM. Sáu Hạnh đã thuyết phục được Hai Chi.


 


CÁI BÀN CÒN BỎ TRỐNG là một truyện mà Huỳnh Như Phương cho là “trội nhất… đây là một truyện ngắn khá cô đọng và có sức chuyên chở những tình ý vốn rộng hơn câu chuyện vốn có”(12)


Phùng Quỳ Nhâm cũng khen truyện này :” truyện viết nhẹ nhàng mà sâu sắc”, “câu chuyện vượt ra ngoài phạm vi một con người, mang tầm khái quát, ý nghiã triết lý sâu”(13)


 


Những người lao động âm thầm, giản dị. Họ làm ra cuộc sống nhưng lại nhận chịu những thiệt thòi, sống không tên tuổi như chị Ninh trong truyện, là số đông. Văn học ít viết về họ, khó viết về họ, vì họ không có những kỳ tích, không có những hoàn cảnh, tình huống đặc biệt, cũng không có những tính cách cá biệt. Cuộc đời họ bình dị. Nhưng chính họ là số đông, là nền tảng cuộc sống, là chuẩn mực các giá trị. Thành công cuả Anh Đức là ở những suy tư về giá trị thật cuả đời người, về cách nhìn nhận những con người bình thường lặng lẽ. Chúng ta cần có thái độ chu tất, khiêm tốn biết ơn với những người như chị Ninh, bởi vì chị là người phục vụ âm thầm , và khi vắng chị, khó có thể thay thế .” Chỗ cái bàn cũ kỹ còn bỏ trống kia, không ắt gì kiếm ra một người ngồi vô đó mà được như chị. Trong khi chính tại ngôi nhà này có bao nhiêu chỗ ngồi đều có thể thay đổi không mấy khó khăn” . Vâng, mỗi người trong cuộc sống phải là những nhân cách đẹp, những giá trị tốt không thể thay thế. Đạt được điều ấy hẳn không dễ dàng.


 


Quả thực có một bước phát triển mới trong sáng tạo nghệ thuật cuả Anh Đức trong Miền Sống Vỗ.Trước hết là ý thức “gieo vấn đề, đặt tư tưởng”.Ý thức sáng tác này chi phối khắt khe cách dựng truyện, cách thể hiện nhân vật, chủ đề và sự can dự cuả tác giả vào truyện. Nếu trong Bức Thư Cà Mau là ý thức phản ánh, ngợi ca, thì trong Miền Sóng Vỗ là ‘lên tiếng nói”, “đặt vấn đề”. Anh Đức trực tiếp can dự vào tác phẩm và đặt vấn đề trực tiếp với người đọc, tập trung vào nhân cách sống cuả người cán bộ, người cộng sản. Tất cả các nhân vật chính đa số là các bộ CM, có tuổi Đảng lâu năm, đã kinh qua gian khổ chiến đấu và hy sinh, hiện tại đang nắm những chức vụ nhất định : từ chủ tịch phường, bí thư Đảng Uỷ quận, phó bí thư huyện, tỉnh uỷ viên, cán bộ Ban Công Tác Nông Thôn trung ương…Sự chọn lưạ nhân vật ấy khác hẳn nhân vật quần chúng trong Bức Thư Cà Mau. Anh Đức làm sáng lên nhân cách người cộng sản, lẽ sống phục vụ nhân dân, dâng hiến cuộc sống cho CM, sống có nghiã tình CM. Các nhân vật ấy đang phải trải qua những thử thách cuả giai đoạn CM mới , dễ xa dân, dễ sa vào lối sống hưởng thụ, quên mất lý tưởng cuả Đảng


________________________________________________________


Anh Đức đã dựng lại quá khứ kháng chiến như là nền tảng mọi giá trị làm ánh sáng soi đường, để nhắc nhở, cảnh tỉnh nhân vật cuả mình, dẫn họ thoát ra khỏi sự “mù mờ”, “quờ quạng”, nhận rõ đúng sai, tốt xấu . Anh Đức đã đặt vấn đề thẳng thắn với các cấp lãnh đạo, tiếng nói cuả ông là tiếng nói yêu thương, cuả nghiã tình CM. Chúng ta không thể đòi hỏi nhà văn phải đưa ra giải pháp giải quyết cho được những vấn đề đặt ra. Ăng ghen trong thư gửi Cauxki ngày 26.11.1885 có nêu ý này :” Nhà văn không bắt buộc phải đưa ra trước người đọc sẵn sàng đâu đấy giải pháp lịch sử tương lai về các xung đột xã hội mà nhà văn miêu tả “(14). Điều đáng quý là Anh Đức đã đặt ra những vấn đề căn cốt cuả cuộc sống, chỉ ra cái hướng ánh sáng cuả vấn đề, khẳng định con đường đúng. Hướng về mặt tích cực . Nguyễn Minh Châu nhận xét về những sáng tác trước kia :” bao trùm lên tất cả các tác phẩm là ít thấy cái phần ký thác cuả người viết, đó chính là tư tưởng, là linh hồn cuả tác phẩm văn học, là cái cầu nối liền giưã người đọc và người viết. Với một vài lý do như thế, cái phần hiện thực tức là cái gốc cuả tác phẩm văn học trở nên nhẹ bỗng đi”(15).Trong Miền Sóng Vỗ, tiếng nói ký thác cuả Anh Đức thật sâu đậm, tư tưởng đạt đến độ sâu nhất định, hiện thực trở nên đỏ rực, tất cả như thiêu đốt tâm can người đọc


 


Ngôn ngữ chính cuả Miền Sóng Vỗ là ngôn ngữ suy tưởng chính luận, khác hẳng kiểu ngôn ngữ chất liệu, mộc mạc trong Bức Thư Cà Mau. Lối dựng truyện chính cuả Miền Sóng Vỗ là, tác giả là người nghe, gợi chuyện, đối thoại với nhân vật, để nhân vật kể lại. Nhiều truyện chỉ là một cuộc đối thoại ( Tiếng Nói ; Cuộc Trở Về cuả Một Con Người ). Do ngôn ngữ chính luận, do mục đích “gieo vấn đề, đặt tư tưởng”, do cách viết tác giả trực lên tiếng trong tác phẩm nên những truyện trong Miền Sóng Vỗ trầm hẳn xuống, mất đi chất tươi nguyên cuả cuộc sống hiện thực, làm giảm đi mỹ cảm nghệ thuật so với Bức Thư Cà Mau.


 


4.Những  điểm chung truyện ngắn Anh Đức trong  Bức Thư Cà Mau và Miền Sóng Vỗ.


Nhân vật chính truyện ngắn Anh Đức là quần chúng CM, là cán bộ CM. Cốt lõi cuả tính cách là lẽ sống dâng hiến tất cả cho CM, phẩm chất chính là chủ nghiã anh hùng CM , ân tình ân nghiã thuỷ chung. Kiểu nhân vật lý tưởng, nhiều nhân vật đạt đến tính điển hình.


 


Truyện ngắn Anh Đức có nhiều chủ đề độc đáo, nhất là trong tập Bức Thư Cà Mau. Giá trị cuả tác phẩm xuất phát từ chiều sâu chủ đề, tư tưởng . Đó là sự kết hợp giữa chủ nghiã anh hùng CM và chủ nghiã nhân đạo cộng sản chủ nghiã qua sự trải nghiệm cuả chính tác giả, với cốt cách người Nam Bộ.


 


Anh Đức có một số kiểu cấu trúc tác phẩm riêng theo kiểu Anh Đức. Cách thứ nhất là tái hiện cuộc sống như nó đang xảy ra .( Người Đào Hát, Đưá Con, Con Chị Lộc,Giòng Sông Trước Mặt, Người Về Hưu, Miền Sóng Vỗ ),tác giả tường thuật khách quan. Cách thứ hai là kể chuyện trong truyện


(Đất, Con Cá song, Giấc Mơ Giữa Bình Yên ). Trong kiểu cấu trúc này thường có hai câu truyện. Một do tác giả kể, một do nhân vật kể. Người kể thường bày tỏ cảm tưởng khi nghe truyện nhân vật kể. Kiểu cấu trúc thứ ba là kiểu truyện không có cốt truyện, mà thực ra chỉ là một cảnh đối thoại ( Tiếng Nói, Cuộc Trở Về Của Một Con Người) hoặc hai cảnh đối thoại ( Muà Gió).


 


Anh Đức thường kết truyện bằng một đoạn “cảm tưởng” cuả người kể về câu chuyện. Đó là những đọan kết hợp cảm xúc và suy tưởng, vưà tô đậm hình ảnh, sắc màu, âm thanh cuả hiện thực, vưà khắc sâu chủ đề, vưà làm toả sáng hơn nhân vật, tạo nên sắc thái lãng mạn trữ tình cuả truyện.


Đáng kể nhất là đoạn cuối cuả Đất, Khói, Xôn Xao Đồng Nước, Người Khách Đến Thăm Vườn Nhà Tôi, Giòng Sông Trước Mặt, Giấc Mơ Giưã Bình yên, Miền Sóng Vỗ, Tiếng Nói. Đây là một thủ pháp kiểu Anh Đức. Nó có tác dụng kích thích, làm tăng lên và lộ ra những cảm xúc thẩm mỹ còn tiềm ẩn trong lòng người đọc, tạo nên thính chân thực cho tác phẩm , qua đó tạo lòng tin nơi người đọc. Dư âm cuả truyện đọng lại rất lâu.


 


Nhân vật TÔI trong truyện ngắn Anh Đức, người kể chuyện, thường là chính tác giả. Ở một số truyện, Anh Đức còn nêu rõ tên mình, nghề nghiệp (Người Chơi Đại Hồ Cầm). Tác giả Anh Đức trở thành một nhân vật trong truyện, tạo nên nét riêng thi pháp kiểu Anh Đức. Anh Đức đưa chất liệu thực cuộc đời mình vào là để chuẩn bị cho sự xuất hiện cuả nhân vật chính. Chẳng hạn, tác giả đi xe lửa, gặp gỡ, nói chuyện, mời uống cà phê người bên cạnh, để rồi người ấy trở thành nhân vật chính (Cuộc Trở Về Cuả Một Con Người). Thường phần đầu truyện là câu chuyện cuả tác giả, tác giả gặp gỡ nhân vật rồi gợi ý cho nhân vật kể tiếp


 


Sự xuất hiện của nhân vật TÔI có mâu thuẫn gì với nguyên tắc sáng tạo cuả Anh Đức không ? Anh Đức chủ trương ém mình đi nhưng lại xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, kể chuyện , bình luận bày tỏ cảm tưởng. Điều này tạo nên hiệu quả gì ? Chất nghệ thuật đặc biệt cuả nhân vật TÔI là tạo lòng tin cho người đọc. Nhân vật Tôi là một nhân chứng trực tiếp bảo đảm câu chuyện được kể là chuyện thật trong cuộc sống.Từ lòng tin này, người đọc bỏ qua những hư cấu nghệ thuật. Để thực hiện điều này, Anh Đức miêu tả thật tỉ mỉ quang cảnh hiện trường, không bỏ sót một chi tiết nào có liên quan đến câu truyện, và bí mật gài trước một số tình tiết, để rồi tưởng như tư nhiên, ngẫu nhiên truyện thực là vậy. Đọc phần đầu truyện Đất, Con Cá Song, Xôn Xao Đồng Nước ta thấy rõ dụng ý này


 


Sự xuất hiện cuả nhân vật Tôi cũng là cách Anh Đức đẩy nhân vật chính lên. Khi nhân vật chính xuất hiện, nhân vật Tôi tự náu mình vào độc giả để nghe nhân vật chính kể chuyện, gợi chuyện, rồi bày tỏ cảm xúc, phẩm bình về câu chuyện, đẩy câu chuyện đi đến phần kết. Sự dẫn truyện cuả nhân vật Tôi tự nhiên, khéo léo, không lộ ra dụng ý cuả tác giả. Nhân vật tôi lúc này như ngòi nổ ngầm, khi nhân vật chính tạm lắng đi thì nhân vật tôi làm nổ ra những đợt chấn động cảm xúc thẩm mỹ. Những chấn động ấy lây lan làm bùng nổ cảm xúc nơi người đọc. Ở một số truyện, nhân vật Tôi đặc biệt thành công. Tuy nhiên ở một số truyện khác, ngỏi bút Anh Đức để nhân vật Tôi dềnh dàng kể lể dài dòng những chuyện không cần thiết. Chất nghệ thuật giảm hẳn (Người Khách Đến Thăm Vườn Nhà Tôi)


 


Trong “thi pháp” Anh Đức, người đọc tìm thấy đôi điều rất thú vị .. Chẳng hạn, ở truyện nào Anh Đức cũng miêu tả những khoảng lặng và miêu tả nhân vật khóc. Phút yêu lặng sâu lắng giữa các nhân vật và giữa người đọc –phút yên lặng nghệ thuật.Nhân vật cuả Anh Đức lúc gặp nhau, nghe chuyện, xúc động đều khóc. Út Diệu khóc lúc nói chuyện với Lân, người cháu khóc lúc chia tay với Thắng (Giấc Mơ cuả Ông Lão Vườn Chim), những người lính ngụy hoàn lương rưng rưng nước mắt. Quế khóc trước Hựu. Ông Khắc và Tôi nghe câu chuyện về Dũng cũng khóc. Cô Tư, tỉnh ủy viên, khi nhận ra Thắm đã khóc “nước mắt chảy ướt đầm hai má”. Thằng Côn, con Hà, bà Sáu đều khóc lúc gặp nhau. Sáu Hạnh khóc giận Hai Chi khi Hai Chi từ chối tình yêu. Chi Ninh thì “rân rấn nước mắt”,”giọng nòi của chị nghe như có tiếng khóc”, và nghe tin chị từ trần, cả cô thư ký đánh máy mắt cũng rưng rưng.Anh Đức có dụng ý gì trong thủ pháp miêu tả nảy và hiệu quả nghệ thuật là gì ? Có điều chắc rằng đó không phải là nước mắt bi lụy mà là nước mắt bi hùng. Nó diễn đạt được cảm xúc mãnh liệt cuả nhân vật trước những biến cố cuả cuộc sống, nó làm cho nhân vật của Anh Đức trở nên mềm mại dịu dàng hơn, và tạo ra xúc động cho người đọc ( tiếng khóc dễ làm ta mủi lòng ). Phải chăng đó cũng là một nét cá tính sáng tạo cuả Anh Đức?


Văn Anh Đức mộc mạc, chân chất, tự nhiên, đôn hậu, điều này do đâu ? Trước hết là sự chân thật do hiệu quả thẩm mỹ cuả nhân vật Tôi (đã phân tích ở trên). Thứ hai, Anh Đức đặc biệt khai thác mặt tình cảm yêu thương cuả nhân vật, và muốn truyền cho được tình cảm yêu thương đó đến với người đọc. Anh Đức ít miêu tả lòng căm thù hoặc gợi lên lòng căm thù, và nếu có miêu tả căm thù thì cũng là để tôn vinh lòng yêu thương(thí dụ truyện Con Chị Lộc). Thế nên ít có nhân vật kẻ địch tàn bạo trong truyện Anh Đức. Những người lính nguỵ, kẻ thù, trong truyện ngắn Anh Đức không ác họ được miêu tả bằng cái nhìn nhân ái, và trong họ vẫn còn chất nhân ái. Khi gặp ánh sáng CM, thì lòng nhân ái cuả họ dẫn họ về với CM ( lính Tư trong Đưá Con,người lính tù không nỡ đánh chị Lộc, những người lính ngụy trong Câu Chguyện Tiếp Theo Về Ông Tư Vườn Chim,người sĩ quan nguy trong Cuộc Trở về Cuả Một Con Người)


 


Anh Đức cũng đặc biệt miêu tả kỹ lưỡng những hành động, nghiã cử nhân vật chăm sóc người khác. Chẳng hạn, khi thằng Trung ngủ, thím Ba đã nắm bắp tay rắn chắc cuả con thế nào, chú Ba dặn dò nó chu tất ra sao ( Đưá Con), hoặc đòn bánh tét còn ấm nóng và gói trà còn dấu dưới chiếc xuồng cuả ông Tám Xẻo Đước (Đất), hoặc những người bạn tù cởi áo lót dọn chỗ cho chị Tư Lộc (Con Chị Lộc), vợ chồng Năm Luá đã lo lắng thu xếp chỗ ăn chỗ ở, làm việc cho cô Tư tươm tất ( Giấc Mơ Giữa Bình yên ); hoặc bà mẹ tác giả đã lo toan chuẩn bị cho bộ đội ăn tết. Đặc biệt là những chi tiết nhỏ nhặt chị Ninh chăm sóc các nhà văn ở trụ sở Hội Nhà Văn. Bản thân nhân vật Tôi cũng thường “để ý” những chi tiết cuả nhân vật khác. Chẳng hạn :” trong tâm trí tôi còn lưu lại cho tới hôm nay, bộ quần áo chị Ninh mặc trên người hầu như chỉ là quần đen áo trắng”


 


Và trên hết, chất thẩm mỹ cuả ngòi bút Anh Đức bắt nguồn từ chính phẩm chất riêng, cá tính riêng và “cái tạng” riêng cuả con người nhà văn Anh Đức. Anh Đức là nhà văn yêu thương con người. Đó là một tâm hồn giàu cảm xúc cuả con người Nam Bộ, kết hợp với lương tri tỉnh táo cuả một nhà văn và chủ nghiã nhân đạo cộng sản chủ nghiã trong ý thức về con người. Nhân vật cuả Anh Đức và chính tác giả, luôn tự vấn lương tâm về những điều mình đã làm, nếu không đem đến tình yêu thương cho người khác, và sẵn sàng nhận chịu thiệt thòi vì người khác. Tâm hồn và phẩm chất nhân vật luôn ánh lên vẻ đẹp cuả lý tưởng. Chẳng hạn , chỉ vì câu chuyện mượn bàn ghế dùng riêng, làm cho chị Ninh phải đi đòi, đã làm nhân vật Tôi ân hận mãi :”Tôi thấy quả xấu hổ, mãi tới giờ nhớ tới cũng còn ân hận, vì đã làm chị Ninh phải cực nhọc vất vả suốt buổi chiều ấy”. Hoặc lúc qua trạm giao liên, vì mình mà chị Ba Tương Lai bị máy bay trực thăng Mỹ bắt, lòng tác giả như vò xé :”Thôi thế là hết ! Chị Ba coi như đã bị chúng bắt đi rồi. Tai tôi tự nhiên váng ù lên và tiếng chong chóng trực thăng bành bạch quay nhanh kia như đập túi bụi vào giữa tim tôi, lòng tôi như bị vò xé hơn lên”(Xôn Xao Đồng Nước). Không có trái tim giàu xúc động và yêu thương trân trọng con người như vậy, không có ánh sáng lý tưởng và chiều sâu tâm hồn cuả chủ nghiã nhân đạo cộng sản chủ nghiã thì không thể có những câu chuyện, những trang văn, chân chất, hồn hậu, trữ tình trong sáng và lãng mạn kiểu Anh Đức


 


Có thể nói, truyện ngắn Anh Đức khá độc đáo và có phing vị riêng, ở cả đề tài, chủ để, nhân vật, kết cấu ngôn ngữ và phong cách.Nhiều truyện có khả năng tồn tại bền vững và trở thành truyện ngắn đặc sắc hiện đại. Truyện ngắn Anh Đức thể hiện khá rõ ý thức sáng tạo, cá tính sáng tạo, ý thức về sứ mệnh nhà văn, và tài năng nghệ thuật cuả Anh Đức. Có một thời nhà văn đã đồng hành với dân tộc, cùng sống, chiến đấu với nhân dân. Trái tim cùng đập một nhịp với trái tim quần chúng, lý tưởng CM là ánh sang soi đường, nhờ đó tài năng cá nhân được phát huy cao độ, tác phẩm văn chương trở thành tiếng nói cuả thời đại, thật hào hùng nhưng không ít bi thương. Anh Đức là nhà văn cuả yêu thương, cuả lý tưởng nhân đạo cộng sản chủ nghiã cao đẹp.


BCT.


Nguồn: hoinhavanvietnam.vn


 


______________________________________________________


(1).Văn Nghệ TPHCM, số 506, sđd


(2).Bức Thư Cà Mau, Nxb Văn Học Giải Phóng in lần thứ hai.1975


(3).Tạp chí Văn Học số 4, 1985


(4).Phạm Văn Sĩ, Văn Học Giải Phóng Miền Nam-NXB ĐH&THCN Hànội 1976.tr.259


(5).Trần Quang :Con Người Miền Nam, TCVN/GP. 20/7/1964


(6).PTS. Phùng Quý Nhâm : Những Tìm Tòi Sáng Tạo cuả Anh Đức (Bản đánh máy cuả tác giả. Tr.5)


(7).Diệp Minh Tuyền-Tạp Chí Văn Học số 7 năm 1966.tr76


(8).Văn Nghệ số 1 năm 1982.


(9).Văn Nghệ số 18 năm 1983


(10).Văn Nghệ số 1 năm 1984


(11).VN TPHCM số 506 ngày 13/11/1987.sđd


(12).Những Trang Viết Những Nhịp cầu, sđd, tr.33


(13).Nét Mới trong truyện ngắn Anh Đức – bản đánh máy. Tr.2


(14).Mác-ph.Ăng ghen-VI.Lênin về Văn Học và Nghệ Thuật. nxb Sự Thật, Hà nội 1977


(15).Chiến Trường Sống và Viết. Nxb Tác Phẩm Mới.1982, tr.40

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »