tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
01.10.2009
Hồng Diệu
Đóng góp lớn nhất của thơ Nguyễn Bính

Nếu tôi không lầm, thì các nhà nghiên cứu và cả người đọc của chúng ta, từ trước đến nay, chưa ai đặt ra và lý giải vấn đề đóng góp lớn nhất của thơ Nguyễn Bính. Chưa thấy có một câu hỏi nào như: Đóng góp lớn nhất của thơ Nguyễn Bính là gì? Cái phần giá trị nhất trong thơ Nguyễn Bính là ở đâu? Tôi nghĩ, đây là vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu thơ Nguyễn Bính nói riêng và nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại  nói chung.


Cũng như nhiều nhà thơ và nhà văn Việt Nam hiện đại khác, đời thơ Nguyễn Bính chia làm hai giai đoạn chính, mà Cách mạng tháng Tám năm 1945 là ranh giới. Trong hai giai đoạn ấy, thơ Nguyễn Bính có những đặc điểm chung và riêng, có kế thừa và phát triển. Có điều, theo tôi, sau cách mạng, Nguyễn Bính vẫn có những bài thơ hay, nhưng thành tựu nổi bật của Nguyễn Bính vẫn ở nhiều bài thơ viết trước cách mạng. Dư luận chung dường như cũng nhất trí như vậy.


Tuy nhiên, thành tựu ấy, đóng góp ấy của Nguyễn Bính, theo ý riêng tôi, không phải ở chỗ, từ lâu nay, đã được một số người nhấn mạnh, trước hết từ đầu đề, sau đó là nội dung trong các bài viết và các quyển sách, để đưa người đọc đến một kết luận rằng: Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê, nhà thơ chân quê, nhà thơ chân quê - chân tài hoặc thi sĩ của hồn quê, thi sĩ của thương yêu hay nhà thơ của tình yêu, v.v…


Kể ra, những cách định danh quen thuộc như trên, và sự diễn đạt để chứng minh cho chúng, trong đó không khỏi có người chỉ lặp lại người đi trước trong một phạm vi nhất định, cũng nói được một phần đặc điểm thơ Nguyễn Bính và đóng góp của thơ anh. Nhưng tôi cho đó chưa phải là những gì cơ bản, cũng chưa phải những gì riêng biệt của thơ Nguyễn Bính; chúng còn có thể đúng với các nhà thơ khác, dù với mức độ đậm nhạt khác nhau.


Sỡ dĩ xảy ra hiện tượng này, có lẽ vì đã từ lâu lắm, dư luận chung bị ám ảnh quá nhiều từ bài thơ Chân quê, Nguyễn Bính viết năm 1936, in báo và in đầu tập Tâm hồn tôi (1940) có những câu như nhắc nhở:


Hoa chanh nở giữa vườn chanh


Thầy u mình với chúng mình chân quê


Và có những câu như than phiền trách móc:


Hôm qua em đi tỉnh về


Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều


Hay bị ám ảnh bởi lời bình chưa được tinh tế lắm về thơ Nguyễn Bính ở quyển Thi nhân Việt Nam (1932-1941) của Hoài Thanh và Hoài Chân, trong đó tác giả chỉ nhấn mạnh đến “bản chất nhà quê” ở “Người nhà quê của Nguyễn Bính”; hoặc cũng có thể bị ám ảnh từ những Cô hái mơ, Mùa xuân xanh, Thơ xuân, Thơ về… của Nguyễn Bính. Ở đó, thôn quê có một không khí thơ mộng, cảnh sắc xanh tươi, bầu trời trong sáng, và con người thì vô tư, thanh thản; hay cũng có thể là bị ám ảnh bởi những: Hội làng nở giữa mùa thu / Gió cao gió cả giăng như ban ngày; với Thôn Vân có biếc có hồng/ Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều/ Đê cao có đất thả điều/ Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay…


Thành thử, trong những bài viết và các công trình nghiên cứu lâu nay, đóng góp lớn nhất của thơ Nguyễn Bính, như tôi thấy, đã bị chìm đi, hay là bị đặt ngang hàng, thậm chí bị đặt thấp hơn những đóng góp khác của thơ Nguyễn Bính vốn cũng quan trọng nhưng không phải quan trọng nhất, vốn cũng lớn nhưng không phải lớn nhất.


Thật vậy. Thơ Nguyễn Bính cứ trở đi trở lại trong tâm trí tôi như những con người với những cảnh đời đầy những buồn đau, bất hạnh ở nhiều cung bậc. Này là bà mẹ có con gái, trước lúc con về nhà chồng, khuyên con đủ điều, chỉ để mong con đừng khóc (mà ngày trước, Khấp như thiếu nữ vu qui nhật – Khóc như cô gái ngày đi lấy chồng), và để con gái yên lòng đi làm dâu, nhưng rồi người khóc và không yên lòng và cô đơn lại chính là bà:


Đưa con ra đến cửa buồng thôi


Mẹ phải xa con khổ mấy mươi


Con ạ, đêm nay mình mẹ khóc


Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi


(Lòng mẹ)


Một bà mẹ khác trong bài Phơi áo, sau đổi thành Không đề còn cô đơn hơn nữa. Đó là:


Bà lão lưng còng


Có hai cô gái lấy chồng cả hai


Gió thu thở ngắn than dài


Bà đem áo rét phơi ngoài cửa thưa[1]


Lại một bà mẹ khác trong Những bóng người trên sân ga cũng mang nỗi buồn đau tương tự, có khi còn hơn. Đó là


Có lần tôi thấy một bà già


Đưa tiễn con đi trấn ải xa


Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng


Lưng còng đổ bóng xuống sân ga


Trong thơ Nguyễn Bính còn có người mẹ trẻ quanh năm đầu tắt mặt tối nuôi chồng con, có người mẹ góa, trước lúc phải bước đi bước nữa, dặn con lớn nuôi đàn em nhỏ, và cay đắng mà thốt lên:


Mai mốt, con ơi, mẹ lấy chồng


Chúng con coi mẹ có như không!


Có người mẹ già một nắng hai sương, để người con gái đi lấy chồng phải đau khổ than với em mình: Chị đi một bước, trăm đường xót xa; có cô gái chết lúc còn rất trẻ, để


Người mẹ già kia tuổi đã nhiều


Đã từng đau khổ biết bao nhiêu


Mà nay lại khóc thêm lần nữa


Nước mắt còn đâu buổi xế chiều!


(Viếng hồn trinh nữ)


Sau người mẹ là những thiếu nữ. Người ta thấy một chút buồn nhẹ nhàng, man mác vì những lần lỡ làng hò hẹn với bạn trai của một cô con gái trong khung cửi: Dệt lụa quanh năm với mẹ già (Mưa xuân); một nỗi buồn sâu xa của cô em trong bài Quan Trạng khi cô bỗng nhớ lại thuở hàn vi của anh khóa và tuổi trẻ của cô ngày trước. Bây giờ thì anh đã đỗ Trạng, vinh qui qua làng, chắc chẳng còn nhớ gì đến cô nữa! Cũng có thể hiểu như nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn: “Cô gái tiếc ngẩn tiếc ngơ rằng tại sao mình lại đi lấy chồng sớm như thế!”[2]. Rồi một cô gái đi làm dâu nhà người mà chỉ thấy Buồn thôi chả biết nói cười/ Đắng cay sống cả ngày dài như năm!


Rồi một cô trinh nữ vừa mới hôm nào còn ngây thơ, thẹn thùng ấp ủ bao nhiêu mơ ước của tuổi trẻ, bỗng phải từ giã cõi đời, để lại cho người thân nỗi đau vĩnh viễn xa cách (Viếng hồn trinh nữ). Và cũng thật bất hạnh là người con gái Lỡ bước sang ngang. Cô xa mẹ và em đi lấy chồng với tâm trạng: Đêm qua là trắng ba đêm/ Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn ; và đinh ninh rằng: Một lần này bước ra đi/ Là không hẹn một lần về nữa đâu.


Quả nhiên, tình duyên của cô đầy trắc trở, đổ vỡ đến mấy lần, để rồi phải thốt lên với em mình một cách tuyệt vọng:


Chị giờ sống cũng bằng không


Coi như chị đã ngang sông đắm đò!


Cái thân phận người con gái mà cô nghiệm ra không chỉ đúng với một mình cô:


Tuổi son má đỏ môi hồng


Bước chân về đến nhà chồng là thôi!


Bài thơ Lỡ bước sang ngang phản ánh một hiện tượng phổ biến trong xã hội: sự ngang trái, lỡ dở của tình duyên, và đụng đến nỗi đau sâu thẳm tự đáy lòng người con gái (và không chỉ riêng người con gái). Cũng có thể lấy bài thơ này chứng minh cho sự gần gũi giữa ngôn ngữ thơ với môn toán logic mờ (hay lý thuyết tập mờ) được giáo sư – tiến sĩ Lephoti Giađê (người Adécbaigian) phát minh năm 1965. Bài thơ, trong màn sương khói mờ mờ khêu gợi suy nghĩ và kích thích sự đồng sáng tạo của người đọc, tạo nên chuyện “khả giải bất khả giải chi gian” lý thú của thơ. Người đọc không thể và không cần khẳng định người em trong bài thơ là nữ hay là nam; cuộc tình duyên của cô gái trắc trở, đổ vỡ do ai, vì lẽ gì… Người ta chỉ biết đó là bi kịch của một đời thiếu nữ được giãi bày với rất nhiều thương cảm.


Đấy là Nguyễn Bính nói về người đời. Còn về chính bản thân mình, Nguyễn Bính cũng bộc bạch chân thành những cảnh ngộ, nỗi niềm, tâm trạng của một thanh niên, một thi sĩ trong tình trạng nghèo túng, cô đơn, đau khổ và bế tắc, tuyệt vọng.


Nghèo túng đến:


Túi rỗng, nợ nần hơn chúa Chổm


Áo quần trộm mượn, túng đồ thay


(Giời mưa ở Huế)


Hay:


Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết


Riêng mình em vẫn cứ tay không


(Xuân tha hương)


Hoặc:


Mấy khoa thi chót thầy ơi


Sao không thi đỗ để rồi làm quan


Để rồi lắm bạc nhiều vàng


Để cho con được lấy nàng thầy ơi!


(Nhà tôi)


Cô đơn đến:


Bốn mùa trơ lại một thân tôi


(Nàng Tú Uyên)


Hay:


Những tưởng anh em đầy bốn biển


Nào ngờ trăng gió nhốt ba gian[3]


(Tạ từ)


Hoặc:


Anh viết tình chung lên gối chiếc


Một nghìn dòng lệ, một nghìn đêm


(Em về)


Lại:


Em đi dệt mộng cùng người


Lẻ loi riêng một góc trời riêng anh


(Rượu xuân)


Và:


Người có đôi, ta rất một mình


(Một mình)


Hãy lưu ý ở đây cách dùng từ của riêng Nguyễn Bính.


Đau khổ như:


Cho tôi được khóc vì tôi thấy


Tôi đã tan hoang cả kiếp người


(Cho tôi được khóc)


Hay:


Anh đắm say rồi, đau khổ quá


Mắt mờ vì đã khóc bao đêm


(Mong thư)


Và bế tắc, tuyệt vọng như:


Đi không kẻ đợi người chờ


Bọt bèo trôi dạt bến bờ nào đây


(Một đêm ly biệt)


Hay:


Đời còn có gì tươi đẹp nữa


Buồn thì đến khóc, chết thì chôn


(Nàng thành thiếu phụ)


Hoặc:


Tỉ tê chết cả nắng vàng


Tay buông xuôi xuống thế gian: nhà mồ


Sâu thăm thẳm, tối mờ mờ


Đời xa lạ quá! Ai đưa đám mình!


(Một chiều chết)


Dù mới chỉ đọc một số bài như vậy, ta đã có thể thấy, điều mà thơ Nguyễn Bính nói được nhiều và sâu sắc hơn cả, đáng được tâm đắc hơn cả, nhớ nhiều hơn cả là ở loại thơ nói trên; chứ không phải loại thơ Hôm qua em đi tỉnh về; Thầy u mình với chúng mình chân quê lâu nay được lặp đi lặp lại hơi nhiều!


Không  thể nói thêm về bài thơ nào được nhiều người yêu thích đến thế, cũng chưa từng thấy bài thơ nào được nhiều người dẫn ra cùng với những câu chuyện, để chứng tỏ sự tâm đắc của nhiều người đối với nó như thế! Chính người đang viết những dòng này hồi bảy, tám tuổi đã nghe dì mình, một cô gái thôn quê nằm võng hát ru một đứa cháu:


Em ơi em ở lại nhà


Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương


Về sau, tôi lại gặp khá nhiều người kể chuyện tương tự trên sách báo. Chẳng hạn, nhà văn Tô Hoài cho biết, hồi Lỡ bước sang ngang mới ra đời, có những hôm ông cùng Nguyễn Bính “ra bờ sông Tô Lịch mua xu rau muống, có hôm xin được mớ rau của các cô bơi thúng hái rau sinh ra hảo tâm bởi đã thuộc lòng cả bài Lỡ bước sang ngang”. Và ở Nghĩa Đô quê ông, “những cô Tý, cô Mơ, cô Hứa, cô Tơ – gái làng canh cửi thuộc Kiều lại thuộc cả Lỡ bước sang ngang”[4]. Nhà thơ Bảo Định Giang (1919 – 2005) thì cho biết: Hồi 1942 -1943, Lỡ bước sang ngang là bài thơ được thanh niên tỉnh Tiền Giang quê ông rất “ưa chuộng”[5]. Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn kể: Đầu năm 1952, ông cùng mấy người bạn về công tác ở khu du kích vùng Hải Hậu – Nam Định, khi vào một cơ sở kháng chiến, có lần trong đêm khuya, ông nghe thấy hàng xóm có người ru:


Tôi ra đứng tận đầu làng


Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa


Và thời ấy, báo Công dân của Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Nam Định, trong một phóng sự có kể chuyện những chuyến đò từ chợ Lương - Cống Múc xuôi xuống chợ Cồn (xã Hải Anh), và ngược lại, thỉnh thoảng khách đi đò lại được nghe mấy chị buôn chuyến đọc thơ Lỡ bước sang ngang[6].


Nhà văn Phạm Tường Hạnh viết: “Hàng chục năm liền, từ cái năm 1940 xa xưa ấy, có cô nữ sinh nào, có những nàng khuê các nào, nói chung là phụ nữ nào của cái thời buồn tẻ trong cảnh nước mất nhà tan ấy lại không thuộc từng câu chữ trong bài Lỡ bước sang ngang”[7]. Nhà văn Trần Bạch Đằng (1926 – 2007) kể trong hồi ký của ông một chuyện khá thú vị và rất có ý nghĩa liên quan đến anh Ba (Lê Duẩn) – một cán bộ cao cấp của Đảng hồi kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam): “Một lần có tin Tây càn quét Đồng Tháp Mười, cơ quan di chuyển, tôi được phân công đi cùng với anh Ba trên chiếc xuồng ba lá. Tôi bơi lái, anh Ba bơi mũi, xuất phát từ xã Nhơn Hòa Lập, xuôi theo kinh Dương Văn Dương ra sông Vàm Cỏ Tây. Đường xa, bơi đêm, để quên mệt, tôi đọc bài thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. Anh Ba bảo tôi đọc to một chút. Anh vừa bơi vừa nghe, thỉnh thoảng lại bình: Hay! Rồi đến nơi an toàn, mặc dù gần sáng, anh bảo tôi đọc lại lần nữa. Anh gật gù: Tay Nguyễn Bính này giỏi thật”[8].


Như thế là, chính vì có sự đồng cảm sâu sắc với bi kịch của những kiếp người, sự diễn đạt tài tình bằng nghệ thuật dân gian - nhiều khi khá hiện đại, Nguyễn Bính đã tạo nên những câu thơ, bài thơ chứa đầy khổ đau và bất hạnh, để lại ấn tượng rất sâu, sức lay động rất mạnh đến người đọc. Đấy cũng là ý nghĩa cao đẹp của văn chương, là một cái đích mà thơ cần đi tới. Và đừng quên: Nguyễn Bính viết những bài thơ như thế lúc mới trên dưới hai mươi tuổi.


Như vậy, có thể nói trong lĩnh vực này, thơ Nguyễn Bính có một ý nghĩa xã hội đặc biệt sâu sắc, không một nhà thơ Việt Nam hiện đại nào sánh được. Đóng góp lớn nhất của thơ Nguyễn Bính, cái phần giá trị nhất của thơ Nguyễn Bính, theo tôi, chính là ở đây.


2008


H.D.


 


 


 


 


 


 


 


 







[1] Hai chữ cuối của câu này, trong bản in lần đầu ở tập Người con gái ở lầu hoa, tác giả viết Song thưa, về sau đổi thành Cửa thưa. Song cũng gần với cửa, nhưng bình dân hơn. Có những nhà nghiên cứu, khi dẫn câu này lại chép Giậu thưa; thế là lầm lẫm với thơ Lưu Trọng Lư, đâu còn là thơ Nguyễn Bính!




[2]  Bùi Hạnh Cẩn - Nguyễn Bính và tôi – NXB Văn hóa - Thông tin, 1999, tr. 180.




[3] Hai câu này cũng thấy trong bài thơ Từ giã bạn bè lần cuối của Phan Bội Châu, chỉ khác chữ tưởng thay bằng chữ ước. Nếu thời điểm sáng tác ghi cuối bài thơ này đúng là 1940, và ghi cuối bài thơ Tạ từ đúng là 1941, thì Nguyễn Bính đã mượn của Phan Bội Châu. Nhưng không hiểu sao tác giả không để trong ngoặc kép hoặc cho in kiểu chữ khác so với những câu khác trong bài Tạ từ.




[4]  Tô Hoài – Nhng gương mặt – NXB Hội Nhà văn, 1995, tr. 144.




[5]  Bảo Định Giang - Một vài kỷ niệm với Nguyễn Bính trong quyển Nguyễn Bính – về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2001, tr.79.




[6]  Bùi Hạnh Cẩn – Nguyễn Bính và tôi – sách đã dẫn, tr.13.




[7]  Phạm Tường Hạnh – Giọt mật cho đời – NXB Văn hóa - Thông tin, 1994, tr. 60.




[8]  Dẫn theo Hoàng Tấn: Nguyễn Bính – một vì sao sáng, NXB Đồng Nai, 1999, tr. 110 – 111.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »