Bên cạnh những nhân vật tài cao đức cả, Lan Khai cũng vẽ lên chân tướng của những vua chúa tàn ác và bạo ngược. Hình tượng vua Ngọa Triều là con quỷ dâm dục khát máu người: giết anh để đoạt ngôi, ham mê sắc dục đến điên loạn, “dùng lửa đốt người, lấy dao cứa thịt làm hình phạt”, “lột trần tuốt nứa”, róc mía đầu sư, trầm hà người lương thiện... Nhưng trước dung nhan trác tuyệt của người thiếu nữ, kẻ độc ác cũng thổ lộ lời yêu: “Ngày nay ái khanh đã biến trẫm thành một người, một người như hết thảy mọi người”. Nhân vật Trần Thủ Độ trong Chiếc ngai vàng với bao kế hiểm sâu. Bề ngoài là một quan võ lo việc chính triều, nhưng thực chất bên trong, Thủ Độ là người nắm quyền vương bá. Việc lập kế kết duyên giữa Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh chỉ là một tấn tuồng để Độ giành ngôi báu về tay nhà Trần. Độ nói thẳng ra: “Thiên hạ là của chung, ai khôn thì được chẳng phải riêng gì họ Lý”. Từng bước chiếm đoạt ngôi, Trần Thủ Độ lại ép Trần Cảnh phế bỏ ngôi Hoàng hậu của Chiêu Hoàng để lập người khác dẫn đến tan vỡ mối tình thiêng liêng của đôi lứa. Bạo quyền được xem là kẻ thù của tình yêu và hạnh phúc.
Thành bại với anh hùng là tấn bi hài kịch về mâu thuẫn giữa hai thế lực vua chúa trong một triều đại. Nơi diễn ra cuộc xung đột quyền lực giữa thái tử và thế tử, giữa cung vua và phủ chúa. Thái tử Duy Vĩ kẻ có quyền hành nhưng thiếu mưu kế và sức mạnh, Thế tử Trịnh Sâm là kẻ chứa chất mưu gian và tham vọng uy quyền, nên trong con người này chất chồng tội ác, vu oan giáo họa cho người, sẵn sàng dẫm đạp lên tình yêu và hạnh phúc của người khác, diệt trừ đồng loại không thương tiếc. Đồng hành với cái ác phải kể đến nhân vật Quận công Hoàng Ngũ Phúc là một kẻ cơ mưu xiểm nịnh, bề ngoài tỏ ý trung quân, nhưng bên trong “đổ dầu thêm vào lửa” để mối hận thù của thế tử và thái tử thêm cao, mặt khác Phúc không quên tẩy trừ những người trung nghĩa để thuận việc chuyên quyền. Trong Đỉnh non Thần hình tượng Ma Vạn Thắng là một tù trưởng có nhiều hành vi đen tối, trái với lòng dân, cuối cùng đi đến một cái chết nhục nhã. Có thể thấy trong hàng ngũ thống trị cũng muôn hình muôn vẻ theo cách nhìn của cây bút Lan Khai.
Trong những trang tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, hình tượng người anh hùng ở mọi tầng lớp, như Lý Công Uẩn (Cái hột mận), Vũ Biều, Vũ Mật, Lan Anh (Ai lên phố Cát), Nguyễn Huệ, Đỗ Quyên (Treo bức chiến bào), Trực, Lê (Chàng đi theo nước), Bàn Tuyết Hận (Đỉnh non Thần)... Lý Công Uẩn tài năng đức độ, dũng cảm, biết nhìn xa trông rộng, nhưng cũng là con người nhân ái và nhạy cảm. Vũ Biều, Vũ Mật xuất thân từ người lao động có tài năng và chí lớn, được nhân dân tôn kính. Họ xây thành đắp luỹ, mục đích phù Lê, chống Mạc để thống nhất giang sơn. Vũ Mật giỏi võ nghệ, xông pha trận mạc, có nội tâm phong phú, trong hoàn cảnh éo le vẫn tận trung với nước, vẫn vẹn tình với người yêu. Nhân vật Bàn Tuyết Hận trong Đỉnh non Thần vừa tinh thông võ nghệ vừa dũng cảm mưu trí trong chiến đấu, có tình mẫu tử cao đẹp. Cuộc tình giữa chàng với Nhạn Nhi được trải qua thử thách càng trở nên cao cả sáng trong. Tình yêu đã giúp họ vượt qua thù nhà để hướng về nợ nước. Tuyết Hận đã lên đường chiến đấu dũng cảm chống quân Pháp và ngã xuống hy sinh. Nhân vật Trực và Lê trong Chàng đi theo nước là những thanh niên yêu quê huơng đất nước, thương đồng bào, dũng cảm mưu trí chiến đấu chống giặc dữ. Ở họ có sự hài hoà giữa tình yêu đôi lứa với tình nghĩa quê hương. Khi rơi vào tay giặc câu nói của Trực đầy chí khí: “Giang sơn Việt Nam gặp phải hồi điên đảo, nhưng tâm hồn người Việt Nam còn mạnh mẽ hăng hái, còn thiết tha muốn sống thì không lo gì”. Hình tượng Lê một mình vào trại giặc để cứu người nghĩa dũng cũng nói lên tinh thần bất khuất từ truyền thống dân tộc.
Hình tượng người phụ nữ anh hùng của Lan Khai mang nhiều phẩm chất đẹp. Nhân vật Lan Anh trong Ai lên phố Cát với chí hướng phù Lê, phản Mạc mà giả trai làm chàng Văn Trung, thân gái dặm trường tìm gặp anh em Biều Vương liên kết trừ Mạc. Cuộc tình giữa Lan Anh và Vũ Mật đến tự nhiên rồi trải qua sóng gió. Người nữ tướng xông pha trận mạc ấy cũng là một con người đa tình đa cảm, khi yêu mới hiểu “bản chất đàn bà, hiểu dục tình”, “bồi hồi mê ảo” và cảm thấy như “người mù chợt thấy ánh sáng”, khi thất vọng cũng khổ đau giằng xé tâm can. Là người anh hùng nhưng Lan Anh cũng mang đầy thiên tính nữ. Truyện Treo bức chiến bào kể về hình tượng thiếu nữ anh hùng Đỗ Quyên, tài võ nghệ, có chí lớn, cải trang thành một đấng nam nhi vào đất Quảng tìm gặp người anh hùng Nguyễn Huệ. Là một vị tướng tài mưu trí và dũng cảm, nàng lập nhiều chiến công được trao gươm báu, giúp Nguyễn Huệ trong lúc nguy nan và giành nhiều thắng lợi. Tình yêu trong Đỗ Quyên thức dậy trước người anh hùng Nguyễn Huệ với những cảm xúc trong trắng thơ ngây. Nhưng rồi thất vọng đến với nàng, Nguyễn Huệ đã kết duyên với công chúa Ngọc Hân, Đỗ Quyên treo bức chiến bào lặng lẽ ra đi mang theo một con tim tê tái, Nguyễn Huệ đã cho tìm “chàng áo xanh” khắp nơi nhưng không gặp. Nàng ra đi để lại niềm nuối tiếc khôn nguôi trong lòng người ở lại.
Thế giới nhân vật người phụ nữ trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai rất đa dạng, từ trong hoàng tộc đến cung nữ, thường dân và dân tộc thiểu số như Lý Chiêu Hoàng, Thái Hậu, Dương Hậu, Bội Ngọc, Đỗ Quyên, Lan Anh, Thục Nương, a hoàn, Cẩm Thị Dung... Tuy có những hoàn cảnh và địa vị, tính cách khác nhau, nhưng họ đều gặp nhau ở thiên tính nữ. Trong Chiếc ngai vàng, Chiêu Hoàng ở vị thế Quốc vương, nhưng trong sáng thơ ngây. Trong tình yêu với Trần Cảnh, vua bà cũng say đắm chân thành và khát khao làm vợ, khi kết duyên rồi cũng hồn nhiên nhường ngôi cho chồng, mà không chút mảy may, số phận đã nằm trong tay Trần Thủ Độ. Hình tượng Thái hậu một con người phú quý, đủ đầy gấm vóc, nhưng trống vắng tình yêu, sống trong cô đơn, buồn tủi, khi người chồng là một đức vua bỏ đi tu, nỗi khát khao trần thế khiến Thái hậu chủ động ngã vào vòng tay Trần Thủ Độ. Nhân vật Dương Hậu trong Cái hột mận cũng là một phụ nữ khát khao tình yêu và hạnh phúc, dám quên đi cái bổn phận vương phi mê say Lý Công Uẩn - một vũ tướng tài ba trẻ tuổi. Để thỏa dục tình, Hậu cũng sẵn sàng làm những điều phản trắc. Phải chăng, trong giàu sang phú quý chưa hẳn con người đã đủ đầy hạnh phúc, một khi dục vọng trần thế vẫn trong vòng cương tỏa của những lễ nghi hà khắc. Giải phóng con người bản năng là một nhu cầu tồn tại. Hình tượng Bội Ngọc là một bức chân dung đẹp, người thiếu nữ sống trong nhung lụa, nhưng có tâm hồn cao cả, biết chọn người mình yêu. Thủy chung với Lý Công Uẩn, nàng phải đối mặt với Ngọa Triều, dám chống lại bạo quyền để dẫn tới cái án “lột trần tuốt nứa”.
Hình tượng những người cung nữ cũng gây nhiều ấn tượng. Họ là những người có địa vị thấp hèn chuyên hầu hạ bá vương và hoàng tộc, công việc nhọc nhằn và nguy hiểm, như người thị nữ của Dương Hậu vì sơ suất khi tắm cho bà đã bị Hậu dùng xiêm ngọc chọc thủng tay và bị tống giam xuống lãnh cung. Người cung nữ Cẩm Thị Dung trẻ đẹp, đàn hay nhưng ứng xử không hợp lễ nghi, bị vua lăng nhục là “giống Mán Mường ăn cóc chết” và khi nàng hỏi lại vua “Mán Mường không có hào kiệt chăng?” Lập tức người phụ nữ này rơi vào hình phạt: bàn tay bị đóng đinh vào gốc cây tùng để nhận lệnh chém đầu...
Hình tượng Thục Nương trong Gái thời loạn là một thường dân có nhan sắc, nết na không may rơi vào tay giặc Cờ Đen thành thân phận nô tỳ. Là người hiếu thảo thông minh nên nàng đã cảm hóa được kẻ thù, khiến Hoàng Thiếu Hoa - tướng giặc Cờ Đen hối hận. Câu nói vĩnh biệt người yêu mình của Thục Nương mang một ý nghĩ sâu sắc: “Hoàng Lang! Vâng, Em yêu chàng lắm! Em thương chàng lắm! Nhưng mà, trời ơi! Trước hết em còn phải là một người con của mẹ, một người dân của nước Nam”! Tác giả đã dành nhiều tâm huyết viết về số phận những người phụ nữ, cho dù ở địa vị nào, họ đều mong muốn được tự do, khát khao được yêu thương hạnh phúc, sống và làm đẹp cho đời. Ở họ ý thức về con người trần thế bản năng luôn vượt thoát con người của cương thường giáo lý.
Trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai còn xuất hiện hình tượng các nhân vật là quần chúng và binh lính đông như sóng nước. Mặc dù có mờ nhạt về tính danh, nhưng mỗi lần họ xuất hiện đều gắn liền với sức mạnh và những biến cố lớn lao. Trong Cái hột mận, khi vua Ngọa Triều bị lật đổ: “Nhân dân thắp đèn đốt đuốc kéo nhau đi chào đón đội quân chiến thắng... Hết thảy đều hát to những khúc hát hùng hồn, reo hô vạn tuế!”. Hay việc nhân dân kính trọng tài đức của Vũ Biều rồi tôn vinh ông làm Chúa Bầu cũng đều nói lên quan niệm lấy dân làm gốc (Ai lên phố Cát).
Trong bức tranh về lịch sử của Lan Khai, còn xuất hiện hình tượng kẻ thù cướp nước và bán nước, đó là giặc phương Bắc và thực dân Pháp. Trong Gái thời loạn và Đỉnh non Thần, hình tượng quân đội Pháp được thể hiện ở sức mạnh vũ khí và lực lượng nhưng chân dung từng tên xâm lược chưa rõ nét, còn chân tướng những tên giặc Cờ Đen và bọn Việt gian thì khá rõ. Hình tượng hai tên tướng Ả Dúc và Woòng Tsi trong Chàng đi theo nước là những tên cướp nhà nghề ham tửu sắc, kiêu căng và hiểm độc. Khi chúng xuất hiện: “Đàn bà, trẻ nít, người gọi con, kẻ khóc mẹ, tan tác như gà thấy quạ”. Nhân vật Lày Sập Trưởng trong Gái thời loạn hiện nguyên hình là một kẻ khát máu người: “Tung đứa trẻ lên nóc nhà đoạn đưa mũi gươm ra đón”, chém đầu dân vô tội. Tên giặc cờ đen trong Trong cơn binh lửa lấy dùi nung đỏ đốt người lương thiện làm trò vui... Nhưng trong hàng ngũ quân xâm lược, vẫn còn kẻ có tính người, mang trong lòng sự phản chiến, họ là những nạn nhân của chiến tranh. Nhân vật Hoàng Thiếu Hoa trong Gái thời loạn trước người thiếu nữ đất Việt cũng rung động yêu thương và bất bình hổ thẹn với người thân trong đội quân xâm lược. Khi giác ngộ về tình yêu và tội ác, Hoàng đã hối hận quyên sinh. Hình tượng những tên tay sai bán nước hại dân được khắc họa như ba mẹ con Chánh Ú là những kẻ chỉ điểm gây bao tội ác với dân lành, rồi chính kẻ xâm lược đã kết liễu đời chó săn của chúng.
Hình tượng kẻ xâm lược và tay sai, dưới ngòi bút của Lan Khai là bóng tối của lịch sử, nơi diễn ra những bi kịch của sự sống, chỉ có tình yêu đôi lứa và lòng yêu nước là ngọn lửa không bao giờ tắt. Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai đã đem đến cái nhìn mới về bản chất xã hội của con người. Số lượng nhân vật trong mỗi tác phẩm không nhiều, nhưng chi tiết phong phú gây ấn tượng ở việc xây dựng tính cách, tạo tình huống bất ngờ, kết hợp với lời thuật linh hoạt, sử dụng từ ngữ mang dấu ấn lịch sử, phép lạ hóa ngôn từ, dùng biệt ngữ và địa danh, kết hợp các tư liệu lịch triều và dã sử làm cho những bức tranh trong tiểu thuyết của ông sinh động nhiều màu sắc. Lan Khai là nhà văn đầu tiên làm mới tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam.
4. Lan Khai - Nhà văn viết truyện ngắn, ký, thơ ca và dịch thuật
Vào những năm ba mươi trên các tờ báo như: Loa, Ngọ Báo, Đông Pháp, Đông Tây, Phổ thông bán nguyệt san... xuất hiện những bài bút ký, truyện ngắn, những bản dịch và những bài sưu tầm dân ca với các bút danh: Lan Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lô Giang Khách. Nhà văn vũ Ngọc Phan nhận xét: “Lan Khai có cây bút tài tình để viết truyện ngắn. Không hiểu sao ông lại chỉ viết có tập Truyện đường rừng? Thật đáng tiếc!”. Trong thực tế Lan Khai muốn dồn tâm trí của mình nhiều hơn ở đề tài tiểu thuyết. Song truyện ngắn của ông không kém phần hấp dẫn, gồm hai loại: truyện ngắn đường rừng; truyện ngắn tâm lý xã hội. Về truyện ngắn tâm lí xã hội như tập Lẩn sự đời (1934) gồm 5 truyện: Lẩn sự đời, Giông tố, Bỡn cợt với tình, Một việc tự tư, Vì cánh hoa trôi cùng nhiều truyện ngắn ở các tờ báo khác như Nơi ước hẹn trên Đông Phương (1934); Anh Sẩm, Thằng Gầy, Cái của nợ, Cô Bụt, Khóc thông reo trên Ngọ báo (1934); Kiếp con tằm, Khổ tình, Chung tình trên Loa (1935). Về truyện ngắn đường rừng có tập Truyện đường rừng (1940) và các truyện ngắn đăng trên nhiều tờ báo khác nhau như Ngọ báo, Đông Pháp (như đã trình bày ở trên).
Tập Lẩn sự đời tập trung vào một số ấn tượng và tình huống éo le của cuộc sống. Câu chuyện Lẩn sự đời, kể về cuộc tình hạnh phúc giữa một cô gái mù có giọng hát hay với một chàng họa sĩ có tâm hồn đa cảm yêu sự trong sáng ở đời. Giông tố kể về cuộc chia lìa hạnh phúc của hai vợ chồng, khi người phụ nữ nhận ra cái giá của tình yêu cũng là lúc người chồng tắt thở. Bỡn cợt với tình là một câu chuyện tình trớ trêu của một chàng trai nông nổi với hai người phụ nữ khác nhau về địa vị dẫn tới một màn kịch bi hài. Một việc tự tử kể về bi kịch nghèo khổ và nô lệ của đôi tình nhân; một gái lầu xanh khát khao lương thiện với một tài xế làm thuê ước ao no ấm và hạnh phúc, khi giác ngộ về sự sống, họ cùng nhau tìm đến cái chết để giải thoát. Vì cánh hoa trôi là câu chuyện đi tìm hài cốt gian nan của một người góa phụ, trên đường về quê hương đi qua dòng nước lũ, khi nàng đang cố vớt những cánh hoa trôi, không may tuột tay dòng nước cuốn nắm xương tàn đi mất. Nơi ước hẹn là bức tranh về nghịch cảnh của người nghệ sĩ phải bán rẻ tài hoa cho chủ trong quan hệ đồng tiền lạnh lẽo. Kiếp con tằm là bức tranh về bi kịch tinh thần của người nghệ sĩ, vì cơm áo phải làm thuê cho chủ, thiếu quyền tự do sáng tạo, nhưng trong khi bấn bách nhất vẫn hiểu rõ thiên chức của người cầm bút. Khổ tình là câu chuyện về tình yêu của hai chính trị phạm Thu và Thanh trong nhà tù của đế quốc, họ giã biệt nhau trong nước mắt, khi người thiếu phụ được ra khỏi nhà tù để chờ đón tử thần. Chung tình là những trăn trở của một thiếu phụ về hạnh phúc gia đình có người chồng là nghệ sĩ ưa phóng khoáng trước cuộc sống không ngừng biến đổi. Các câu chuyện Anh sẩm, Thằng gầy, Cái của nợ vẽ lên hình tượng những con người bần cùng, bất hạnh, khát thèm cơm áo và tình thương, nhưng phải sống cù bất cù bơ của kiếp đời thừa. Trong đó Thằng Gầy là bức tranh đầy xúc động về bi kịch của một đứa trẻ bần cùng, thiếu tình đồng loại... Đó là những câu chuyện đơn giản, nhưng giàu tính hiện thực đi sâu vào những nét tâm lý đời thường, dễ đồng cảm với bạn đọc.
Con đường của nghệ sĩ Lan Khai khởi nguồn từ hội họa và những trang ký trong cuộc hành trình vào nghệ thuật. Ghi chép mọi biến thái quanh mình đã thành một thói quen của cuộc đời ông, ngay cả lúc bị giam cầm trong tù ngục. Trở lại những dòng ký bảy thập niên qua càng hiểu rõ hơn bức chân dung nhiều vẻ về nghệ sĩ Lan Khai: Trường hận ca về sự chết (1933), Sáu năm cách biệt, nay hồi cố hương (1933, viết cùng Yên Sơn), Thầy đồ tôi (1933), Viếng cô Hồng Yến (1933), Cháu tôi chết (1933), Tập hồi ký nhan đề 8023 (viết 1930-1932 in 1935), Biệt ly (1934) cùng các tác phẩm ký khác như Cánh hoa mua (1929, in 1935), Con ngựa hồng của tôi (1930 in 1935), Một cuộc săn đêm (1935), Đau và chết (1939)... Đó là những bức tranh chân thực về cuộc sống và những mảnh đời nghệ sĩ Lan Khai. Do đó không dễ dàng phân biệt giữa tự truyện và ký trong nhiều trang viết của ông. Các tác phẩm ký viết trong năm 1933 xoay quanh những biến cố của gia đình, bản thân và quê hương tác giả, mang cảm hứng hoài niệm đôi khi có màu sắc bi quan. Tập hồi ký 8023 được ông hoàn thành sau khi ra tù (Con số 8023 là số hiệu tù được gắn lên ngực áo của ông cùng bức họa trên trang đầu tập ký báo Loa ngày18, juilet 1935).
Tập hồi ký 8023 đã tái hiện lại những ngày đầu tiên Lan Khai gia nhập Quốc dân đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo cùng những hoạt động sôi nổi của tổ chức yêu nước chống Pháp từ Sơn Trại Đoan Hùng (Phú Thọ) đến các cơ sở Đảng trong nước rồi bị thực dân Pháp bắt giam. Ông từng tham gia vào “bộ óc của Đảng” cùng tuyên thề chiến đấu hy sinh cho Tổ quốc. Qua những trang viết này giúp ta biết thêm về chân dung những người cách mạng như Nguyễn Thái Học, Trần Huy Liệu... vào những năm 1928-1930 của thế kỷ đã qua. Tập hồi ký lịch sử, được viết bằng một ngôn ngữ văn chương truyền cảm và hấp dẫn với những chất liệu hiện thực phong phú và những chi tiết nghệ thuật sinh động. Chẳng hạn đoạn văn mô tả tâm trạng ngày đầu Lan Khai đến với Đảng tràn đầy hy vọng: “Tiếng gà rừng gáy vang. Đằng xa, trên góc trời Đông mây mù rách ra một mảng lớn để cho mắt ta thoáng nhìn thấy sắc bình minh rực rỡ, bao nhiêu suy nghĩ u ám của tôi bỗng tan hết”. Hay đoạn phác họa Trần Huy Liệu: “Ông L. với cái bộ hùng hồn quá nhăn nhó, với cái miệng cười treo một đầu mép lên mang tai...”. Qua những trang ký cho thấy phần nào ý nghĩ và chân dung của những người trí thức yêu nước cùng với không khí sục sôi tranh đấu giành tự do cho Tổ quốc từ cuối những năm 20 sang đầu năm 30 của thế kỷ XX. Qua cuộc đấu tranh sinh tử đó, nhiều chiến sĩ đã phải lên đoạn đầu đài. Tập hồi ký bắt đầu in từ số 74 thứ Năm ngày18 juilet 935 đến số 78 thứ Năm ngày 15 Aout 1935 được 4 chương thì dừng lại, do nhiều nguyên nhân: Một số đồng chí của Đảng vẫn còn bí mật hoạt động, mặt khác sự kiểm duyệt khá gắt gao của nhà cầm quyền Pháp.
Biệt ly là một tập bút ký (1934) viết về thời thơ ấu cho đến lúc trưởng thành của Nguyễn Đình Khải kể về những kỷ niệm sâu lắng và cảm động của anh trong một lần về thăm lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình, gặp lại thầy xưa bạn cũ, người thân cùng cảnh vật thiên nhiên nơi sông Gấm núi Thần. Trong đó có đoạn ghi: “Sinh trưởng ở nơi sông lam núi biếc ấy, hàng ngày được thở hít một thứ không khí thân mật, tiếp xúc với những giống người chất phác thế mà bỗng phải ra đi, về chốn thị thành đô hội, tôi băn khoăn tiếc nhớ biết từng nào! Ngay bây giờ, mỗi khi có ai nhắc tới Chiêm Hóa, lòng tôi buồn rầu ngao ngán bao nhiêu”! Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Bảng luôn như nguồn ánh sáng vào đời của nhà văn: “Thầy tôi còn dặn tôi nhiều câu nữa về đạo tu thân, xử thế, lập chí, luyện hồn và khuyên tôi cố trở nên người khá giả như lòng thầy đã nguyện vọng cho tôi... Chính người đã trước nhất giảng cho tôi vỡ cái lẽ phải tôn trọng quốc văn”...
Về tuổi thơ và tình bạn có đoạn viết: “Hiện giờ chỉ biết là sắp phải đi xa, sắp phải từ giã hết thảy, từ giã cảnh thiên nhiên, trong đó linh hồn tôi đã nhuộm được lắm màu thanh vẻ lịch, từ giã hết thảy những người bạn Thổ Mán vẫn trọ ở nhà tôi những ngày phiên chợ, mỗi lần về lại làm quà cho tôi một gói cơm gạo nương, một giỏ “mác nọt” hay mấy cành hoa lạ hái trong rừng, từ giã những cảnh hội hè sặc sỡ, những buổi phụ đồng nàng Cuôi8 dưới ánh trăng thu, từ giã cả cái nhà tranh đã thấy tôi ra đời, đã cho trái tim non của tôi biết rung động vì cảm vẻ đẹp vẻ thơ...”.
Cánh hoa mua và Con ngựa hồng của tôi là những bức tranh tiếp với Biệt ly, nói lên những kỷ niệm của nhà văn thời niên thiếu sống với mẹ cha ở tỉnh lị Tuyên Quang. Tác giả nhớ về những bông hoa mua người cha đã tặng mình gần 20 năm vẫn còn in cảm giác. Tình yêu loài vật như người bạn tri âm và nỗi buồn thương khi con vật hữu ích qua đời. Những trang ký của ông thường bồi hồi xúc cảm gợi về những kỷ niệm đã qua, lời văn nhẹ nhàng phảng phất âm điệu thi ca. Với ông, gia đình và tuổi thơ luôn là nguồn cảm hứng dâng trào trong sáng tạo.
Trong cuộc đời nghệ thuật của mình, Lan Khai không ước vọng thành một nhà thơ, nhưng thơ ca lại đến với ông một cách hồn nhiên chân thực. Trong di cảo của ông còn lại một số bài thơ như Chờ mẹ, Chiều, Quê ta, Dòng huyết lệ, Tiếng hát xa, Tiếc xuân, Cõi Tiên, Tiếng hát làm dâu... với nhiều cảm xúc khác nhau. Đó là những xúc cảm hồn nhiên trong sáng thơ ngây của đứa trẻ trong chiều đợi mẹ:
Sông chiều nay rộng thế
Sao không về bầm ơi!
(Chờ mẹ)
Có khi là bức tranh hoàng hôn xuống:
Chim rừng bay như khói
Bà Lô vẫn thầm thì
Ông Giùm[1]ngồi nghĩ ngợi
Như một nhà tiên tri
(Chiều)
Khi lại là những vần thơ mộc mạc về quê hương:
Ta yêu cảnh non cao rừng thẳm
Ta yêu tiếng suối rơi thánh thót năm canh
Tiếng chim mừng hoa sớm, vượn đón trăng thanh
Ta yêu sắc hoa bướm trắng tinh, sắc hoa mua tím phớt
Ta yêu những dịp krèng, điệu hát nồng nàn
Những đêm lạnh mơ màng quanh bếp lửa.
(Quê ta)
Có bài thơ là những lời tâm sự với bạn bè về thế sự:
Đói không ăn vụng túng chẳng càn
Trơ cái hồng nhan giữa thế gian
(Dòng huyết lệ, Gửi Trần Huyền Trân, 1940)
Đương thời ông còn bộc lộ sở trường sáng tác và ứng tác những câu đối để lại nhiều ấn tượng về tình yêu về đạo lý: như câu đối vịnh người say rượu, viếng bạn qua đời... Chẳng hạn, câu đối viếng Vũ Trọng Phụng của Lan Khai đọc trước phút giây vĩnh biệt người bạn thân yêu nhất của mình, đăng trên tạp chí Tao Đàn ngày 14-11-1939:
Thằng Phụng chết rồi, đau nhé Lan Khai, ngồi nhớ bạn, xem hình, lòng mủi lệ
Bọn mình sống sót, nói như Nguyễn Vĩ: muốn lập đền, xây tượng, túi không xu
Trong sáng tạo, Lâm Tuyền Khách dồn tâm huyết vào mạch cảm hứng tình yêu và những nỗi buồn vui, cay đắng nhất của đời người. Vì thế văn chương của ông thấm đẫm chất trữ tình.
Nhìn sang mảng dịch thuật, cho thấy dường như người nghệ sĩ này luôn tham vọng làm tất cả những gì cần thiết cho văn chương nghệ thuật. Ông vừa sưu tầm vừa chuyển dịch những văn bản văn học các dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài sang tiếng Việt một cách nhuần nhị đem đến nhiều thông tin mới cho bạn đọc. Chẳng hạn bài dân ca Tày được Lâm Tuyền Khách phiên âm và dịch sang tiếng Việt như sau:
Chang khin nòn bố đắc
Đẩy nhìn tiểng khảm khắc loọng sói
Khảm khắc bố đo đôi mìn loọng
Y như lầu xét toọng đuổi căn.
Đêm khuuya ngủ chẳng được say
Nghe chim khảm khắc nó bay gọi đàn
Chim kia còn biết gọi đàn
Buồng không bóng lẻ can tràng nấu nung.
Có khi lại là bài dân ca bằng tiếng Gia Rai được phiên âm và chuyển sang tiếng Việt một cách sinh động mượt mà:
Iuh nang e
Tơ klek adel
Tơ klok amrẽ
Chrẽ tô oa
Tóng de kra Rua an
Iuh oa krăm hloi...
Thương chàng lắm lắm, chàng ơi!
Cơm canh chẳng thiết, đứng ngồi không an
Lượng trên dù bắt lỡ làng
Thiếp xin liều cái hồng nhan với tình!
Dạy học, dịch sách và viết văn là công việc đồng hành của Lan Khai, ông cũng từng nói ra kinh nghiệm làm giàu tri thức: “Muốn giỏi ngoại ngữ thì phải dịch sách nhiều” (Mưa xuân). Ông từng dịch về các tác gia Anđrêgit, Lev Tolxtoi, Stêphan Zweig, Romain Rolland, Đôxtôiepxky, Phêlixiêng Sale, E. Dôla... Các bản dịch Pháp văn của ông thường là những tác phẩm văn học hoặc những bài báo, hay sách kinh điển, được viện dẫn linh hoạt trong các bài nghị luận về văn học về giáo dục và lý luận nói chung. Ý thức tiếp thu văn hoá từ nguyên tác đã làm cho những bài viết của ông có tính thuyết phục cao. Chẳng hạn trong bài Cần một ông trời và Tính cách Việt Nam trong văn chương (1939), Lan Khai đã dịch ý kiến của Dostoievxky (Nga) và Boissière (Pháp), để chứng minh cho niềm tin của một dân tộc là truyền thống yêu nước. Để chống lại lối giáo dục vong bản của bọn thực dân, Lan Khai dịch bài Nụ cười và nước mắt của một hạng thanh niên (Sourires et Larmes d’ une Jeunesse) của Nguyễn Mạnh Tường ra tiếng Việt để thức tỉnh mọi người. Ông dịch quan niệm văn học của Romain Roland, Ban Zac, Zola để phê phán lối viết văn trống rỗng, nghèo nàn và những cây bút chạy theo lợi nhuận đương thời. Ngoài ra, ông còn chuyển dịch một số những ngạn ngữ, điển tích, bài báo từ Hán văn sang tiếng Việt.
5. Lan Khai - Nhà lý luận, phê bình và nghiên cứu văn học
Bên cạnh vị trí một tác gia lớn của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Lan Khai còn là một cây bút nghiên cứu, lý luận và phê bình sắc bén có ảnh hưởng mạnh mẽ với đương thời và sau này. Quan niệm nghệ thuật của ông tập trung trong những tác phẩm như: Tài hoa... cái luỵ ngàn đời; Tình với cảnh (1934); Đẹp; Nguồn cảm hứng của thi nhân; Âm điệu mới (1935); Cần một ông trời; Tính cách Việt Nam trong văn chương; Cảm tưởng về sách dạy hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Diệp; Thiên chức của văn sĩ Việt Nam; Cái nguy mất gốc; Gửi một bạn trẻ muốn theo đuổi nghề viết văn; Một niềm tin cần phải có; Bàn qua về nghệ thuật; Một quan niệm về văn chương; Phác họa hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà; Con người Vũ Trọng Phụng (1939); Gió núi trăng ngàn (1933) Những câu hát xanh (1937); Cái đẹp với nghệ thuật (1940); Lê Văn Trương (1940); Vũ Trọng Phụng (1941)...
(còn tiếp)
Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. NXB Văn học, 5-2010.
www.trieuxuan.info
|