Đóng góp vào thành tựu của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam có sự nỗ lực của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật... Chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại(1) của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ là một công trình tiêu biểu nằm trong giai đoạn văn học từ 1945 đến 1975. Chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những đóng góp về nghiên cứu, đánh giá những hiện tượng, tác giả, tác phẩm tiểu thuyết cụ thể, công trình này có một giá trị nổi bật về phương diện xây dựng lý luận thể loại tiểu thuyết.
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã nêu lên các luận điểm quan trọng về đặc trưng thể loại tiểu thuyết. Tác giả cho biết tiểu thuyết là một thể loại “còn rất trẻ và đang phát triển. Cái sườn thể loại của tiểu thuyết vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa cứng rắn lại và ta vẫn chưa hình dung hết được tất cả những khả năng tạo hình của nó. Tiểu thuyết là một thể loại còn uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác” (tr.87). Trong lịch sử tiểu thuyết chỉ thấy có những mẫu hình tiểu thuyết nhất định chứ chưa có những quy phạm tiểu thuyết cứng rắn và bất biến. Tác giả nhắc đến nhận định của Bakhtin về tính tự giễu nhại, điều chỉnh của tiểu thuyết là do tiểu thuyết lấy đối tượng phản ánh của mình là cái hiện thực đang tiếp diễn.
Tác giả phê phán một số quan niệm, như cho tiểu thuyết là “một câu chuyện về yêu đương”, “tiểu thuyết là một câu chuyện về cuộc sống riêng tư, sinh hoạt gia đình”, tiểu thuyết có tác dụng tiêu khiển, tiểu thuyết không cắt nghĩa được. “Tiểu thuyết là một thể loại văn học gần gũi nhất với cuộc sống” theo tác giả là đặc trưng quan trọng nhất của tiểu thuyết. Trong tiểu thuyết có thể nhận thấy mọi màu sắc, mọi vấn đề, lĩnh vực của đời sống. Tính cách nhân vật tiểu thuyết có sự phát triển tự thân như trong cuộc đời thật. Trong tiểu thuyết có thể bắt gặp những cuộc đời thật với những đường nét xù xì góc cạnh. Vì tiểu thuyết gần gũi với cuộc đời mà lịch sử của tiểu thuyết gắn với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực. Vì tiểu thuyết gắn chặt chẽ với đời sống của quần chúng, phản ánh hình tượng quần chúng nên tiểu thuyết có tính “dân chủ nhất của nền văn học”. Tiểu thuyết ít có tính ước lệ, quy phạm so với các thể loại văn học khác.
Những đặc trưng nêu trên, theo tác giả, đã quy định tính “văn xuôi”, tính tổng hợp, đa phong cách và đa thanh của tiểu thuyết. Tác giả còn cho rằng trong tiểu thuyết có sự pha trộn, chuyển hoá lẫn nhau của nhiều màu sắc thẩm mỹ: cái cao cả và thấp hèn, chất thơ và chất văn xuôi... Tuy nhiên cũng có những lúc một màu sắc thẩm mỹ nào đó sẽ giữ vai trò chủ đạo, chẳng hạn như ở một hình tượng người anh hùng. Tính văn xuôi của tiểu thuyết quy định một ngôn ngữ “trung tính”, trần thuật khách quan, hầu như không có một sự cường điệu nào. Tuy nhiên, ở mỗi loại tiểu thuyết, ngôn ngữ có những đặc điểm riêng, chẳng hạn ở tiểu thuyết lãng mạn là một ngôn ngữ mòn sáo, ở tiểu thuyết hoạt kê thường sử dụng ngôn ngữ cường điệu, phóng đại. Nhìn chung, ngôn ngữ tiểu thuyết hết sức phong phú; bên cạnh ngôn ngữ trung tính, khách quan, trong tiểu thuyết còn có cả ngôn ngữ giàu chất trữ tình, hùng hồn cảm động, hài hước châm biếm... Tiểu thuyết từ bỏ tính một phong cách của các thể loại sử thi, bi kịch... tạo nên tính tổng hợp về phong cách và “thanh điệu”, thu hút nhiều thể loại khác vào cấu trúc nghệ thuật của mình. Khả năng tổng hợp của tiểu thuyết không chỉ thể hiện ở việc thu hút những thể loại văn học khác mà còn ở việc sử dụng những thủ pháp của điện ảnh và âm nhạc. Tác giả cho rằng không nên tách tiểu thuyết ra khỏi sử thi và đồng tình với nhận định cho rằng sử thi là nguyên hình của tiểu thuyết hay tiểu thuyết là người kế tục của anh hùng ca.
Về nhân vật, tác giả Phan Cự Đệ phân tích một cách thấu đáo và sâu sắc vấn đề nội tâm nhân vật và việc khám phá nội tâm nhân vật trong tiểu thuyết. Ông cho rằng nhà tiểu thuyết cần quan tâm chú ý miêu tả quá trình phát triển tâm lý nhân vật, bởi vì đây là một “nhiệm vụ khó khăn nhất”. Nhà tiểu thuyết cần thể hiện được tâm hồn của nhân vật một cách biện chứng như bậc thầy tiểu thuyết L. Tônxtôi trong Chiến tranh và hoà bình. Với độc thoại nội tâm theo “biện chứng pháp tâm hồn”, nhà tiểu thuyết lừng danh L. Tônxtôi đã phát hiện ra những quy luật biện chứng của tư tưởng, tình cảm, tâm lý nhân vật.
Về cốt truyện, tác giả cho rằng nếu như trước đây, cốt truyện được hiểu thông thường là hệ thống các sự kiện, hành động trong một tác phẩm, thì ngày nay cần phải bổ sung thêm ý: những sự kiện hành động đó thể hiện tính cách nhân vật. Tác giả Phan Cự Đệ dẫn lời Gorki định nghĩa cốt truyện: “lịch sử phát triển và tổ chức của tính cách này hay tính cách khác” (tập II, tr.281). Nhà tiểu thuyết phải lựa chọn sự phát triển của cốt truyện thông qua sự phát triển tính cách của nhân vật. Từ đó tác giả cho rằng: “cốt truyện phải lấy việc bộc lộ tính cách làm một mục đích chủ yếu của mình. Nhà viết tiểu thuyết không nên lấy sự hấp dẫn của cốt truyện làm một mục đích tự thân và dùng nó để thay thế cho sự miêu tả tính cách” (tập II, tr.281). Đó chính là điểm khác nhau giữa cốt truyện của tiểu thuyết hiện đại và tiểu thuyết trung đại. Như thế, từ Nguyễn Đình Thi trong chuyên luận Công việc của người viết tiểu thuyết đến Phan Cự Đệ đều nhấn mạnh cốt truyện có liên quan mật thiết tới cuộc đời và tính cách nhân vật.
Theo tác giả Phan Cự Đệ, cốt truyện có ba nhiệm vụ cơ bản: Thứ nhất, cốt truyện bộc lộ tính cách nhân vật. Thứ hai, cốt truyện phản ánh những mâu thuẫn và xung đột điển hình của hoàn cảnh xã hội. Thứ ba, cốt truyện bộc lộ tư tưởng chủ đề và nội dung nghệ thuật. Nhiệm vụ thứ ba là hệ quả của những nhiệm vụ trên khi đã được nhà văn thực hiện một cách hiệu quả.
Về kết cấu, trong các nhà lý luận giai đoạn này, có lẽ Phan Cự Đệ là người nghiên cứu một cách công phu hơn cả. Tác giả nêu chức năng của kết cấu là “tổ chức mối liên hệ giữa các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm (tính cách và hoàn cảnh, hành động và biến cố trong cốt truyện) và các yếu tố khác thuộc hình thức (bố cục, hệ thống ngôn ngữ, nhịp điệu v.v...). Kết cấu phải xử lý mối liên hệ giữa tuyến sự kiện và tuyến nhân vật, phải tổ chức các yếu tố tự sự sinh động, miêu tả tĩnh tại, đối thoại giữa các nhân vật, độc thoại nội tâm, thư từ giữa các nhân vật, những lời bình luận trữ tình phụ đề của tác giả, tổ chức cái hình thức bề ngoài của tác phẩm (tức bố cục) bao gồm các quyển, các phần, các chương, các đoạn của một cuốn tiểu thuyết” (tập II, tr.255). Về yêu cầu đối với kết cấu tiểu thuyết, tác giả cho rằng kết cấu phải đảm bảo sự thống nhất. Nhà văn phải quan tâm đến tất cả các bộ phận và mối liên hệ giữa chúng trong một chỉnh thể nghệ thuật. Nguyên tắc của kết cấu là làm sao cho tư tưởng chủ đề thấm sâu vào từng bộ phận của tác phẩm. Đặc trưng kết cấu trong tiểu thuyết hiện đại là kết cấu nhiều tuyến, nhiều bình diện, những tuyến nhân vật đan chéo...
Về ngôn ngữ, giọng điệu tiểu thuyết, tác giả Phan Cự Đệ giới thiệu vấn đề ngôn ngữ song thanh và ngôn ngữ đa thanh mà ông tiếp thu được từ những công trình lý luận tiểu thuyết nước ngoài. Tác giả dành một phần viết trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đưa ra khá nhiều kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ tiểu thuyết. Chẳng hạn, ông cho rằng tiểu thuyết càng đi vào dân chủ hoá, càng phát triển song song với chủ nghĩa hiện thực thì phương ngôn, thổ ngữ, tiếng nói quần chúng càng đi vào tác phẩm. Hay ông nêu lên các hình thức ngôn ngữ tiểu thuyết, đó là ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ “không hoàn toàn trực tiếp”, chuyển lời tác giả vào nhân vật một cách kín đáo. Hoặc Phan Cự Đệ cũng nêu lên những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết: tính tạo hình, tính chính xác, tính cá thể hoá, sự đan xen của các ngôn ngữ (tác giả, nhân vật). Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn đề cập đến luận điểm ngôn ngữ song thanh và ngôn ngữ đa thanh trong tiểu thuyết mà Phan Cự Đệ đã giới thiệu trong công trình của mình. Ông nhận định: “ngôn ngữ tiểu thuyết chủ yếu là một ngôn ngữ song thanh (hoặc đa thanh) chứ không phải chỉ là một ngôn ngữ đơn thanh” (tập II, tr.359).
Ngôn ngữ song thanh là gì? Đó là ngôn ngữ “nhấn mạnh vào ngôn ngữ của người khác, hướng về một tiếng nói khác; chẳng hạn tiếng nói tác giả hướng về tiếng nói nhân vật, hoặc là tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng của tác giả, hoặc là tiếng nói nhân vật này xen lẫn giọng nhân vật khác” (tập II, tr.361). Có song thanh cùng phương hướng và song thanh khác phương hướng. Cùng phương hướng tạo nên giọng điệu đồng cảm, khác phương hướng tạo nên giọng điệu mỉa mai, châm biếm, tranh luận ngầm... Phan Cự Đệ cho biết, ngôn ngữ song thanh là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn xuôi. Ngôn ngữ song thanh (và đa thanh) đã được M. Bakhtin nghiên cứu một cách hệ thống khi nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết Dostoievsky.
Việc tiếp thu luận điểm về ngôn ngữ đa thanh cho thấy khả năng áp dụng những thành tựu lý luận tiểu thuyết tiên tiến trên thế giới trong việc xây dựng lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam. Điều đó thể hiện tư tưởng đổi mới rất sớm của tác giả Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Công trình đã khảo sát một cách kỹ lưỡng vấn đề điển hình hoá trong tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực phê phán và tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những đặc điểm về điển hình hoá trong các khuynh hướng tiểu thuyết mà tác giả nêu ra: nhân vật lãng mạn xa lạ với hoàn cảnh và đứng cao hơn hoàn cảnh, nhân vật được phóng đại và lý tưởng hoá trong tiểu thuyết lãng mạn; vấn đề cá thể hoá, hoàn cảnh điển hình, tính đa dạng nhiều vẻ của tính cách, sự phát triển hợp lô gíc nội tại của tính cách, phép biện chứng giữa tính ổn định và tính biến đổi trong tính cách nhân vật... rất có ý nghĩa định hướng và gợi mở đối với việc nghiên cứu thành tựu sáng tác tiểu thuyết thuộc một số xu hướng nêu trên.
Đây còn là công trình đầu tiên ở Việt Nam thể hiện một cách toàn diện, công phu quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, từ những mầm mống đầu tiên cho đến các thành tựu về sau này. Với cách trình bày khoa học, tác giả công trình một mặt đã bao quát toàn bộ những khuynh hướng cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam, mặt khác ở từng khuynh hướng tác giả đều có những miêu tả, phân tích, đánh giá một cách đích đáng những hiện tượng tiểu thuyết.
*
* *
Bởi quan niệm không nên tách tiểu thuyết ra khỏi sử thi và tán thành nhận định sử thi là nguyên hình của tiểu thuyết hay tiểu thuyết là người kế tục của anh hùng ca, nên khi giải quyết vấn đề đặc trưng thể loại và các yếu tố nghệ thuật của tiểu thuyết, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nêu cao những đặc điểm thể hiện tính sử thi, quy mô hoành tráng của tiểu thuyết. Điều đó cũng chính là một đặc điểm nổi bật của lý luận tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ dân tộc ta đang làm cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Tác giả Phan Cự Đệ thể hiện một bản lĩnh nghiên cứu trong việc nhận định về đóng góp, hạn chế cũng như giá trị của những tác giả tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam, trong đó có những hiện tượng tiểu thuyết theo quan điểm chính thống khi ấy vẫn thuộc diện “có vấn đề”. Rõ ràng, trong hai tập của chuyên luận, tác giả công trình đã thể hiện một sự nghiên cứu kỹ lưỡng và bao quát các thành tựu sáng tác tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX./.
_________
(1) Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, hai tập. Tập I – 1974, tập II - 1975, NXB Đại học và THCN, Hà Nội.
Nguồn: Vănnghệ. bản điện tử của phongdiep.net |