tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
19.09.2010
Tư liệu
GS Hoàng Như Mai: Thơ Nguyễn Nguyên Bẩy

Người ta thường nói: Thế giới thi ca. Thế giới thi ca của Nguyễn Du, thế giới thi ca của Lý Bạch, thế giới thi ca của PusKin... Không rõ hàm nghĩa của chữ "thế giới" là những gì, nhưng tôi chỉ nhận hai nghĩa: Thơ (thơ nói chung hay thơ của một thi sĩ) là một thế giới, tức là có những cái riêng của nó, nói khác, thế giới khác không có. Khi Cristop Cô Lông tìm ra Mỹ Châu, người thời ấy gọi là Tân Thế giới, vì ở đó có những thứ khác với cái thế giới mà người ta đã biết. Nghĩa thứ hai, nó là cả một thế giới, nghĩa là phong phú, đủ cho nó tồn tại, không cần sự viện trợ của đâu khác.


Đọc thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, tôi nhớ cái thành ngữ thế giới thi ca và tự nhủ đừng quên: Mỗi tập thơ là một thế giới thi ca. Phái tìm hiểu phải thông cảm với Nó, là Nó chứ đừng lấy cái khác đo lường nó, bình giá nó.


Đương nhiên là có những nguyên lý, những định nghĩa. Nhưng đừng tuyệt đối hóa chúng. Vì vận dụng cứng nhắc chúng, có khi người ta hiểu sai hoàn toàn một sự vật, một con người. Thí dụ: Cuối thế kỷ trước có một viện sĩ hàn lâm nước Pháp Juyn Lơmét (Jules Lemaitre) sang ta đi xem Hát Bội. Ông ta kêu quá trời, viết một bài phê bình xỉ vả hết lời mà nếu đọc ta không thể không phẫn nộ. Bài đó chỉ chứng tỏ ông ta ngu, chỉ biết nguyên lý của kịch Phương Tây, cho thế là tất cả và từ sự hạn hẹp về hiểu biết ông phủ nhận giá trị nghệ thuật của Hát Bội.


Quả thật trong cuộc sống thực tiễn người ta thường sống theo những nguyên lý, theo những ước lệ xã hội như: Học sinh khi làm bài Toán, bài Lý thì nghĩ ngay đến những công thức. Đó là sự tự nhiên. Tôi cũng vậy thôi. Đọc thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, có mấy bài tôi thấy là lý luận, tác giả suy luận, lập luận. Tôi nghĩ: Thơ thì không lý luận, lý luận thì không thơ. Nhưng tôi lại tự hỏi: Thế Cung oán ngâm khúc thì sao?


Kìa thế cục như in giấc mộng


Máy huyền vi mở đóng khôn lường


Vẻ chi ăn uống sự thường


Cũng còn Tiền định khá thương lọ là


Đòi những kẻ thiên ma bách chiết


Hình thì còn bụng chết đòi nau


Thảo nào khi mới chôn nhau


Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra


Khóc vì nỗi...


Lý luận nhiều quá. Nhưng ai bảo Cung oán ngâm khúc không thơ?


Lại có khi tôi thấy tác giả sử dụng kỹ thuật, kỹ xảo quá rõ. Tôi nghĩ Thơ mà kỹ thuật, kỹ xảo thì mất cái hồn nhiên, cái ngẩn ngơ... vốn là những cái nên thơ. Nhưng con người khác trong tôi lại cãi: Thế bài thơ Sự Tự Do của thi sĩ Pôn Ê Luy A (Paul Eluard) thì sao? Những hiện tượng, những sự vật, những cảnh, ném lung tung, ngổn ngang vô tổ chức trong bài thơ khiến cho người đọc bối rối, ngơ ngác, không thể từ cái này mà liên tưởng đến cái kia được dù là dòng tư duy đi nhanh đến đâu. Đến lúc đó, mới giác ngộ: À tự do là thế, thế là tự do. Chính sự tự do của những ý, những lời làm cho người đọc thơ Sống Với Sự Tự Do (trong lúc đọc) để nhận thức được ý niệm Tự Do. Như vậy, sự bừa bãi, rối loạn kia là nhà thơ bày ra có dụng ý, nhà thơ đã sử dụng kỹ thuật kỹ xảo.


Trải qua vài chặng hành trình như vậy, tôi nhớ ra cái chữ "thế giới thi ca" như đã nói tên và tôi cố gắng đuổi đi những định kiến, những cái "gu"chủ quan, bắt đầu đọc lại Thơ Nguyễn Nguyên Bẩy với quan niệm Nó là Nó.


Tập thơ như có ba phần. Tôi đọc , thấy cái lý ấy, cái lý của những bài thơ. / Một nhà tư tưởng nói rằng: Con người ta đi từ sự hồn nhiên của tuổi thơ sang thời kỳ suy tư của tuổi tráng niên rồi đến sự hồn nhiên của tuổi già. Tuổi thơ hồn nhiên vì chưa hiểu sâu cuộc đời, tuổi già hồn nhiên vì đã hiểu sâu cuộc đời.


Tôi thực sự yêu quý sự hồn nhiên trong sáng của những bài thơ trong độ tuổi thơ.


Là khi anh nói về em


Bông hoa trước cửa tự nhiên nở bùng


Trên cành một giọt sương rung


Gió nhẹ vô cùng thổi mãi không rơi...


Cái Giọt Sương Rung, cái Gío Nhẹ Vô Cùng Thổi Mãi... thật đẹp, đẹp bâng khuâng.


Sóng sánh trăng vai em


Sóng sánh trăng tóc em...


Áo em vắt bên bờ giếng


Anh không đánh cắp đâu


Nước trăng cứ ướp thật lâu


Thật lâu cho anh nhìn trộm...


Cũng là "có tội" đấy (!) - anh nhìn trộm - nhưng cái tội đáng dung thứ, hơn thế, đáng yêu, vì nó hồn nhiên, có thể nói thanh khiết. Cũng như ta bị hấp dẫn bởi một mùi hương, một sắc trời, một tiếng đàn!


Ban mai biển hóa nên tranh


Sương mù dăng tạc những thành lũy xa


Một điệu sóng ngân ru ca


Đàn buồm bươm bướm đậu là mặt mây


Mùa xuân như bụi phấn bay


Thơm môi vị gió, mặn say lòng người. Một bức tranh mà chỉ có họa sĩ - trẻ thơ mới vẽ nên. Kỳ thú gợi cảm. Những giọt mưa:


Ai bên hàng xóm giọng trầm


Như lời mưa cứ lầm thầm giọt rơi


Và


Thời gian nghe nặng mưa tuôn


Giọt xối xả chảy, giọt bồn chồn rơi...  


Gieo vào người nghe những gì rất "tâm tư". Tôi chợt nhớ câu thơ củ người Pháp: Mười lăm, ôi Rô mê ô, tuổi nàng Duy li ét. / Khi đọc ở Nguyễn Nguyên Bẩy những câu thơ về tình yêu mới chớm nụ đầu xuân.


Lượn lờ qua cửa nhà em


Trái tim rối rít bên thềm đập vang


Nho em chín đến rỡ ràng


Còn xanh. Anh nhủ thì thầm. Rồi đi...


... Đến khi mặt gặp mặt nhau


Nho em thành rượu trong bầu của ai.


Quả nhiên, ta không thể mỉm cười trước lời tự thú là ngây dại của chàng thiếu niên chưa có kinh nghiệm trong tình yêu này và chia sẻ với anh một niềm luyến tiếc, nhưng cũng nhẹ nhàng thôi, tuổi trẻ buồn đấy, vui đấy. Đến khi gặp những lời thơ:


Tình như nắng vãi khắp vườn giọt hoa


Gịot nào cho cuộc tình ta


Để khi tắt nắng ta ra nhặt về...


thì tôi không ngăn được ngạc nhiên trước tứ thơ ngộ nghĩnh mà"tả chân": Những giọt hoa nắng vãi khắp vườn để ví với tình yêu, có cái tươi, có cái ấm, và cũng có cái hư huyền.


Khung trời tuổi thơ có vui, có buồn, nhưng tất cả đều nhẹ nhàng, dìu dịu, đóng lại để mở sang một khoảng sống đầy ưu tư của tuổi tráng niên, khiến người đọc có sự bàng hoàng. Đó là sự bạc bẽo của số kiếp:


Tôi bói Kiều xin một chút vui


Sao chỉ thấy Tiền Đường sóng vỗ


Và đôi môi chon chót Thúy Kiều cười...


Đó là bất công của tình đời ! Ví như Hoa Nhài:


Ướp trà em. Cài tóc em. Sao đời vẫn khinh em. Hoa nở đêm.


Nhưng em vẫn nở đêm. Tắm mình trăng. Tắm mình sương. Cho ngon trà. Cho ngọt tóc. Em vẫn cứ là em. Hoa Nhài.


Đó là chiến tranh. Hình ảnh chiến tranh - những ngày B52 ở Hà Nội - được dựng lên bằng hai mầu: Mầu xanh dịu của hạnh phúc và mầu đỏ khé của chết chóc, cái mầu thứ hai giết chết mầu thứ nhất. Có gì thật chua chát, chân lý đảo ngược, khác lẽ thường: Đêm là Sống, mà Mặt Trời là chết.


Kinh thành hai giờ sáng, lặng đêm


Vợ tôi ngủ đẹp như tranh tĩnh vật


Con cười mơ rung mặt phím dương cầm


... Hà Nội rạng đông


Máu đã chảy lên thành Quả Mặt Trời.


Đó chính là điều phi lý nhưng đã xảy ra mà con người không thể không suy tư. Tôi liên tưởng đến Guéc-ni-ca của Pi Cát Sô. Chiến tranh rất độc ác. Nghệ thuật phải có cách gì để diễn tả được sự độc ác ấy, một thứ nghệ-thuật-độc-ác.


Chưa hết đâu. Còn sự thản nhiên trước những đau xót nhất (tình tan vỡ). Còn sự vấy lem những gì tinh khiết nhất (tình đầu). Còn sự vi phạm đạo đức. Còn sự biện hộ cho lỗi đạo (tình bất chính)... / Vô tình - tôi biết chắc như vậy - tác giả chứng nhận có những đóa hoa đẹp của Tội-Đau như Bô đơ le nói, và những đóa hoa đẹp nhất như Muýt Xê khẳng định. Hoặc như Nguyễn Du đã cho Kim Trọng nói lên khi nghe Thúy Kiều gẩy đàn.


Khi tựa gối, khi cúi đầu


Khi vò chín khúc, khi chau đuôi mày


Rằng hay thì thật là hay


Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào...


Phần này của tập thơ tôi đọc những lời thơ mượt mà, sắc sảo, nhưng để thể hiện những điều rất xót xa: ...  


Tranh tĩnh vật những ngón tay ngún lửa


Giấc mơ thơ nát bấy như bùn


... Nào ngờ mắt xanh em mọng khóc tành mắt đỏ


Ướt sũng vai áo anh. Và thế


Búp bê đi lấy chồng


Hẹn anh gì mà mắt lúng liếng xanh


... Trái đào mới mọc


Người coi vườn vắng xa bao lâu chưa về


Trăng khuya ơi, trăng khuya


Thấp thoáng, đong đưa bỏ đi sao đành...


Từ những điều vừa nói trên, tác giả đã dẫn vào những lời thơ đạo Phật, đó là cái lôgíc của tâm hồn. Đạo Phật - hay đúng hơn Đạo Phật trong quan niệm của tác giả - là một chữ"giác" một chữ"tâm". Tuy nhiên lẫn vào những hạt trong chuỗi tràng hạt vẫn còn những viên sỏi hoài nghi, những câu hỏi muôn đời khó có lời đáp thỏa đáng:


... Bể đời khổ sao bể đời vẫn chật?


...  Trí dũng tát cạn được bể lửa


Dám dâng thân cứu nạn triệu sinh linh


Trước sông Mê, bến Lú?


Thật dễ hiểu - nếu những bài thơ trong phần này diễn tả trọn vẹn một quãng đời"du tử", "lãng tử" - lại được kết thúc với Bài Ru Trằn Trọc:


Tôi ru trằn trọc rí rầm


Trằn trọc vẫn thức với lỗi lầm hỏi tôi.


Chưa phải đã là yên tịnh, nhưng ta biết trằn trọc sẽ lắng dịu lời ru.


Tôi nghĩ rằng, ai đọc phần còn lại của tập thơ cũng ấm lòng. Vì tất cả những bài thơ đều đầm ấm hơi ấm nhân bản, nói nôm na: Yêu đời, yêu người.


...  Trăng là em đấy nuột nà


Xõa tung mái tóc phủ lòa xòa vai


Ta ghen với nước, nước ơi


Ôm toàn thân một con người thơm tho.


Thơ nói yêu và yêu nói bằng thơ thì không lời nào bình giải đầy đủ được. Xin trả lại cho các bạn đọc những bài thơ tình trong tập thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, như món quà cưới từ tay cặp tân hôn mở ra để là những người đầu tiên đón nhận niềm vui, hạnh phúc. Mời các bạn đọc Cửa Rừng, Trăng Mật, Hoa Quỳnh, để hiểu những điều không thể nói, không cần nói mà hiểu nhiều, hiểu đủ.


Có những bài thơ viết về Những Nếp Nhăn Đuôi Mắt. Chớ thấy cái tựa đề ấy mà ngại. Có cái thời của Cái Nhìn Dao Cau và có cái thời của Những Nếp Nhăn Đuôi Mắt, ấy là tự nhiên, là quy luật, sao tránh được. Nhưng cái tình của thời những nếp nhăn đuôi mắt đắm đuối, trẻ trung, thủy chung. Cứ đọc xem:


Những nếp nhăn đuôi mắt


Trao bao mùa xuân yêu.


Nụ tất phải nở thành hoa, tình yêu tất yếu phải nở thành những đứa con:


Hôm nay con của chúng ta


Cảm ơn em tiếng oa oa con chào


Bao nhiêu sung sướng nghẹn ngào


Đôi ta gieo hạt máu vào nhân gian.


Sự thử thách của cuộc sống còn ghê gớm hơn nhiều. Nó thử thách bằng cái chết của một đứa con, bằng cái suýt chết của chính tác giả. Bám vào cái phao cứu trợ tình yêu, nổi trôi, dập vùi trên muôn đợt sóng biển khổ, rồi cũng đến bờ. Đèn Trăng rồi Tượng đài ấy là Tình yêu và Hạnh phúc. Nếu dùng đúng nghĩa chữ xúc động, thì tôi dành từ ấy cho những bài thơ trong phần này. Nghệ thuật chỉ thực sự xúc động khi nó nhân bản. Những đề tài muôn thuở của thơ thấm lọt vào lòng là những vấn đề của cion người: Tồn tại hay là không tồn tại.


Cho nên tôi thấy rất thơ, vì thấy rất đời, rất người, những câu:


... Rồi em phì nhiêu như đồng xanh


Rồi em ngát thơm trang sách


Rồi em vợ một đời


... Em Đức Chúa trong thơ


Muối đời trong nước mắt


... Cuộc đời lá đẹp thế


Rơi xuống đường con lăn


Còn rực lên ánh vàng


Trước khi khô chết hẳn.


...  Tóc sắp khô rồi cho anh ngồi thêm chút


Ngắm em than thở nỗi thương em


...  Anh thấy mình hiện ra trong mắt em yêu


Tim em đã nuốt những giọt khóc


Đầy tràn gương mặt anh đôi mắt u hoài xanh biếc


Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời đêm đêm nhìn anh


...  Những bài ru xanh những bài ru đỏ


Những bài ru muôn hồng ngàn tía


Cha vẫn ru con dù con đã xa rồi...  


Tập thơ có hậu.  Nói thế nghe rất tẻ nhạt.  Nhưng quả là thế,  nên phải nói thế.  Có hậu nghĩa là cuối cùng tất cả chỉ là con người,  nghĩa là tình yêu.  Muôn ngàn con suối dòng sông chảy vào biển cả.


Nguyễn Nguyên Bảy cho tôi xem bản thảo tập thơ và có sự tin cậy muốn tôi nói cho vài điều nhận xét,  tôi ghi lại ít cảm tưởng đầu tiên,  thấy sao nói vậy,  chủ tâm là chỉ muốn nói riêng với Bảy thôi.


1988


H. N. M


hoinhavanvietnam.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »