Sau khi đã thành công rực rỡ qua hàng trăm bài thơ trữ tình, gần chục bản trường ca, truyện thơ Epgheni Oneghin cùng các truyện ngắn và kịch, Puskin chuyển sang viết tiểu thuyết lịch sử. Người con gái viên đại uý (1834-1835); tuy lấy đề tài từ cuộc khởi nghĩa nông dân Pugasiov (1773-1775) trong lịch sử nước Nga ở cuối thế kỷ XVIII, nhưng tác phẩm vẫn thấm đượm tính thời sự nóng hổi của xã hội mà nhà văn đang sống.Cuộc cách mạng tháng Chạp (1825) – mà Puskin đặc biệt cảm tình – do một bộ phận quý tộc tiến bộ cầm đầu bị thất bại, chính quyền chuyên chế Nga hoàng càng tìm mọi cách kìm hãm đất nước trong vòng nô lệ tối tăm. Mọi hoạt động chống đối đều bị đàn áp tàn bạo, kinh tế khủng hoảng, đời sống nông dân vô cùng cực khổ. Trước tình hình nóng bỏng của thời cuộc, Puskin không ngừng day dứt, suy ngẫm, và bộc lộ rõ tâm tư trong một lá thư viết vào đầu tháng năm 1831 gửi người bạn văn Viademxki: “Khi mà trước mắt còn diễn ra những tấn bi kịch như vậy, thì không bao giờ nên nghĩ đến các vai trò hài kịch chó má trong văn học chúng ta”(1).
Nhằm khẳng định và ngợi ca vai trò của Pugasiov, vị thủ lĩnh của phong trào nông dân khởi nghĩa, Puskin đã viết cuốn Lịch sử Pugasiov (1833-34), rồi từ đấy viết tiếp tiểu thuyết với mong muốn “chất vấn quá khứ để trả lời cho hiện tại và tương lai”. Nhà thơ đã thâm nhập thực tế bốn tháng ròng, đi về các vùng Uran, Cadan, Orenbua, đến tận căn cứ “thủ đô” cuộc khởi nghĩa, đi qua các “thôn nổi loạn”, và lần theo dấu vết của các đoàn quân bạo động, đồng thời gặp gỡ các nhân chứng, nhất là lớp người cao tuổi, gắn liền với việc tìm hiểu văn hoá, phong tục tập quán dọc sông Vônga, không tách rời bối cảnh thiên nhiên, địa lý, núi sông... và hình ảnh Pugasiov qua truyền thuyết, thơ ca dân gian... Puskin kể lại, có bà lão 80 tuổi thật thà thổ lộ: “Nói sai phải tội, chúng tôi chẳng hề phàn nàn về đức ngài, đức ngài không làm điều gì ác với chúng tôi”.Còn cụ già Pianov bực bội trả lời câu hỏi: “- Thế Pugasiov làm cha chủ hôn của cụ như thế nào? – Ngài đối với ông là Pugasiov, chứ còn với tôi thì ngài là đức vua vĩ đại Piôt Feđorovits”. Thú vị hơn là khi Puskin nói đến chuyện quân khởi nghĩa cướp phá linh tinh xưa kia, thì các cụ đều tỏ thái độ bênh vực nhẹ nhàng: - “Cái đó không phải là ý đức ngài muốn thế, bọn say rượu của chúng tôi đã làm xấu lây đến đức ngài”(2).Thật ra, theo cách nhìn của nông dân thì chỉ có đức vua Piôt Feđorovits, một con “chim đại bàng”, chứ không có gã Côdăc Pugasiov, càng không có “tên phiến loạn” Pugasiov như giới thống trị lên án. Điều nổi bật là khi viết Người con gái viên đại uý, chất lãng mạn trong thơ trữ tình Puskin trước đây đã được chuyển thành bức tranh hiện thực hoành tráng với bao chi tiết lịch sử cụ thể, mà vẫn đượm nét thi vị. Truyện kể lịch sử được kết cấu xoay quanh biến cố lớn là cuộc khởi nghĩa nông dân từng lan rộng trên hai phần ba lãnh thổ nước Nga, làm rung chuyển xã hội Nga, khiến triều đình Sa hoàng run sợ, chứ không tập trung vào tiểu sử hoạt động của thủ lĩnh nông dân Pugasiov, hoặc nữ hoàng Ekaterina II như một số truyện kể lịch sử khác.thời đó.Đi sâu vào tác phẩm, có thể thấy hai thế giới đối lập – thế giới vua quan quý tộc địa chủ mâu thuẫn gay gắt với thế giới bị trị – đông đảo nông dân nghèo khổ – mà đại diện điển hình là lãnh tụ Pugasiov. Mạch truyện được thể hiện đậm nét hiện thực ở cả hai phía trong đời sống kinh tế cũng như trong suy nghĩ và tập quán sinh hoạt của các nhân vật. Hơn nữa, tác phẩm được kết cấu song song với mảng xung đột tình yêu tay ba, mang tính tiểu thuyết. Đó là mối tình lãng mạn giữa Masa – con gái viên đại uý Mirônov – và viên sĩ quan quý tộc trẻ Grinhov, từng bị thương trong cuộc đấu kiếm với gã sĩ quan Svabrin do xung khắc trong đơn vị. Chàng đã được nàng Masa cứu chữa, rồi từ đấy nẩy sinh tình yêu giữa hai người. Bố mẹ nàng – đại uý Mirônov – trong khi chiến đấu bảo vệ đồn Belôgo đã bị quân khởi nghĩa giết chết. Còn Grinhov vội vàng chạy về thủ đô xin cầu viện.Riêng gã Svabrin, sau khi đầu hàng quân khởi nghĩa đã được Pugasiov cho làm đồn trưởng. Gã này lợi dụng thời cơ loạn lạc và chức vụ mới của mình tìm mọi cách cưỡng ép nàng Masa lấy hắn. Vậy là câu chuyện tình rắc rối được kết cấu song hành trên nền lịch sử bão táp của cuộc khởi nghĩa kéo dài quãng thời gian ba năm.Tác giả không đi sâu vào ngõ ngách của hệ thống sự kiện xã hội, mà chủ yếu mở rộng mạch cốt truyện vừa hiện thực, vừa lãng mạn theo dòng thời gian và không gian được xác định. Phần mở đầu được viết theo thể tiểu thuyết, bằng khung cảnh gặp gỡ ngẫu nhiên trong đêm bão tuyết dữ dội giữa viên sĩ quan quý tộc Grinhov trên đường đi đồn trú ở phương xa và Pugasiov, gã mugic dữ tợn như một thảo khấu trong truyện Thuỷ hử – được khắc hoạ bằng chi tiết thú vị không thể quên: đó là chiếc áo tulúp đắt tiền, mà Grinhov đã làm quà tặng cho Pugasiov để trả ơn việc gã chỉ đường cho chàng khỏi lạc giữa mịt mùng bão tuyết, mặc dù người lão bộc Xavêlich khăng khăng không đồng ý với cậu chủ việc đem cho cái áo lông đắt tiền đang lúc rét thấu xương. Cậu chủ vừa đến đồn Bêlogo thì quân khởi nghĩa đánh đồn, đại uý đồn trưởng bị giết chết, rồi đến lượt viên sĩ quan trẻ Grinhov phải nhận lệnh bước lên giá treo cổ. Nhưng may mắn thay, người hầu trung thành với chủ lại nhận ra vị thủ lĩnh Pugasiov. Lão vội vàng quỳ lạy van nài khóc lóc cầu xin tha chết cho cậu chủ, vì chỉ mới gần đây thôi, cậu vừa cho gã chiếc áo lông đắt tiền. Thật may đời, viên sĩ quan trẻ được tha bổng. Nhưng về sau, Grinhov lại bị triều đình ban lệnh bắt giam về tội đầu hàng quân khởi nghĩa, do gã sĩ quan hèn hạ Svabrin ganh tị vu cáo, mặc dù chính hắn mới là thủ phạm.Một nét nổi bật khác là nhân vật Xavelich được ngòi bút nhà văn mô tả đậm nét, rất mực sắc sảo, vừa hiện thực vừa trữ tình. Tâm lý “con người nhỏ bé” này diễn biến khá sinh động, thú vị, hấp dẫn, phù hợp với tính cách của người lão bộc trung thành trước chủ trong xã hội Nga thời xưa. Nhà văn chú ý tô đậm nét thẳng thắn, thông minh của người hầu – một nhân vật bình dân khôn ngoan-, thành người chỉ dẫn mọi thứ ứng xử, đối phó trước mọi tình huống trắc trở giúp cậu chủ trẻ thoát khỏi bế tắc. Đương thời, đây là nét mới mẻ mang tính nhân dân dưới ngòi bút tiến bộ, tài hoa của Puskin.Còn phần kết thúc có hậu vui vẻ đẫm chất lãng mạn trong cảnh nàng Masa dũng cảm vượt hàng ngàn dặm đường, qua muôn vàn khó khăn đến tận kinh đô để cầu cứu nữ hoàng Ekaterina II, nhằm thanh minh cho Grinhov. Xúc động trước mối tình trong sáng của cô gái mồ côi, mà bố mẹ đã chết vì bảo vệ chính quyền, nữ hoàng mở rộng lòng nhân từ tha bổng cho chàng sĩ quan và còn chúc phúc cho đám cưới của hai người.Từ góc độ thi pháp, bạn đọc có thể tìm thấy nhân vật hư cấu Grinhov được thể hiện sinh động trong vị trí người thuật truyện qua một vài trường đoạn văn:“Tôi (Grinhov) sống như một thiếu niên quý tộc... Trước mắt tôi là cảnh thảo nguyên buồn bã, xa tắp. Chênh chếch một bên có mấy nếp nhà gỗ, ngoài đường có mấy con gà quanh quẩn đi ăn. Một bà già đứng trước thềm, tay cầm cái máng, lớn tiếng gọi lợn. Bầy lợn có vẻ mừng rỡ, ụt ịt đáp lại. Đấy, cái nơi mà tôi phải qua thời thanh xuân là thế này đây. Tôi thấy buồn quá!”(3).Hơn nữa, con người này lại thật sự xúc động khi nghe bài hát vang lên giữa thảo nguyên mênh mông: Hãy nín lặng, hỡi rừng xanh yêu mến Để cho ta, chàng tráng sĩ trầm tư, Vì ngày mai ta đã phải giã từ Rừng yêu mến; trước Nga hoàng ta đã tới... ... Và Nga hoàng uy nghiêm kia sẽ nói Khá khen ngươi, đứa con đẻ dân cày Ngươi tài trộm cướp, mà cũng tài đối đáp. Nên ta ban cho ngươi giữa cánh đồng xa tắp Một lâu đài cao rộng thênh thang Một thanh dọc lại bắc một thanh ngang(4).Grinhov kể rằng: “Tôi không sao tả nổi cái ấn tượng mà bài dân ca này đã gây nên trong lòng tôi. Những lời ca về cái giá treo cổ đó lại là do những người sẽ làm mồi cho giá treo cổ hát lên. Những khuôn mặt dữ tợn, những giọng hát hài hoà của họ, cái điệu nhạc buồn man mác khiến cho lời ca đã có sức gợi cảm lại càng thêm có sức gợi cảm mạnh hơn, tất cả những cái đó truyền cho tôi một cảm giác kinh hoàng thật huyền bí”.Thực chất giai cấp quý tộc và Grinhov đều coi Pugasiov là “quân ăn cướp”, “tên phiến loạn hung ác”, nhưng khi người tráng sĩ này xuất hiện trên chiến trường, thì viên sĩ quan Nga hoàng lại quan sát thấy một sự thật hiển nhiên khác hẳn: “... khắp thảo nguyên đã đông nghịt những người cầm giáo và cung tên. Trong đám họ có một người mặc áo caphơtan đỏ, cưỡi ngựa bạch, tay cầm một thanh gươm tuốt trần: người đó chính là Pugasiov...”. Mặc dù chàng thanh niên này không bao giờ thừa nhận vị thủ lĩnh nông dân là một “đức vua”, nhưng vẫn thành thật công nhận đó là một “ân nhân”, có “nét mặt đều đặn dễ ưa, không lộ vẻ gì hung ác”. Chàng còn ngạc nhiên hơn nữa khi ở người này “có tiếng cười vui vẻ một cách hồn nhiên”, cũng chính người này tha chết cho mình và lớn tiếng nói: “đã giết là giết, đã tha là tha. Ngươi hãy đi khắp bốn phương trời, muốn làm gì thì làm”; hơn thế nữa Pugasiov lại còn cho Grinhov cả áo ấm, tiền, ngựa và cấp giấy tờ để về chốn cũ, không quên chúc hạnh phúc đôi lứa cho họ.Hình tượng Pugasiov được tác giả xây dựng theo điểm nhìn của nhân dân: đó là một người giản dị, dễ mến, gắn bó với đông đảo nông dân và hết lòng thương yêu mọi người, lại vừa giản dị, bộc trực, đầy khí phách anh hùng hảo hán với đủ nét bình dân vui, buồn, giận thương... được thể hiện rõ nét qua tiếng cười hồn hậu, tiếng thét hiên ngang. Có chi tiết thú vị là vị thủ lĩnh này không biết chữ, cầm giấy đọc ngược và chỉ ký tên bằng một dấu chấm đen. Nét nhân từ càng hiện rõ khi biết Grinhov nói về việc đi cứu cô gái Masa thoát khỏi vòng vây cưỡng ép dưới quyền lực của gã sĩ quan Svabrin đểu cáng, Pugasiov vội lớn tiếng quát: “Trong quân ta có đứa nào dám bắt nạt một đứa mồ côi. Dù hắn có ba đầu sáu tay cũng đừng hòng thoát khỏi trừng phạt. Người nói đi, đứa nào dám làm một việc khốn nạn như vậy. Rồi ta cho thằng Svabrin biết tay. Hắn sẽ biết trong quân ngũ của ta mà lộng hành và ức hiếp dân thì sẽ ra sao. Ta sẽ treo cổ lên cho mà xem”(5).Tính cách Pugasiov được khắc hoạ theo nghệ thuật tiểu thuyết, nhân vật được cá tính hoá một cách sinh động, cụ thể mà phong phú, tạo nên sức hấp dẫn, chứ không phải theo dạng ký sự lịch sử, cũng không kiểu ước lệ chỉ vài nét chấm phá với “râu hùm hàm én mày ngài, – vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” như Từ Hải vẫy vùng, dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Từ vị trí một gã Côdăc “ẩn náu” giữa chốn thảo nguyên mênh mông, từng nếm trải bao nỗi đắng cay, căm phẫn đối với bọn địa chủ quan lại, từng ôm ấp khát vọng tự do như mọi người, rồi trở thành thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa, được tôn sùng như một vị hoàng đế trong truyền thuyết. Hình tượng này được ngòi bút tác giả miêu tả tập trung vào thời khắc lịch sử hào hùng nhất, đó là hai năm thử thách quyết liệt – hai năm tung hoành chiến đấu sống mái với quân đội của triều đình, làm lay động cả nước Nga và được nhân dân suy tôn là hoàng đế Piôt Fêđorovits... như “chim đại bàng” tung cánh trên thảo nguyên bao la cho đến lúc phong trào thất bại, vị lãnh tụ nông dân bị bắt và đành phải vĩnh biệt cuộc sống dưới giá treo cổ.Rõ ràng là tác phẩm dồi dào chất tiểu thuyết, yếu tố hiện thực lịch sử đan xen nhuần nhuyễn với yếu tố trữ tình lãng mạn xuyên qua hàng loạt nhân vật bình thường tạo nên sức thu hút rộng khắp và bền vững. Đậm đà tính nhân dân, tác phẩm được xếp vào loại cổ điển, đã góp phần chắc chắn vào việc đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng trong văn học Nga vào nửa đầu thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XX, truyện Người con gái viên đại uý đã được dựng thành phim điện ảnh hiện đại có sức cuốn hút mạnh mẽ, không chỉ đối với nhân dân Nga, mà còn vươn xa khỏi biên giới, được xem là một bộ phim cổ điển có giá trị trong nền điện ảnh Xô viết.*Bước tiếp truyền thống ưu việt từ Puskin, ít lâu sau, nhà văn Gôgôn (1809-1852) đã sáng tác thành công cuốn Tarax Bunba (1835). Câu chuyện được bắt nguồn từ quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân Ukraina, gắn bó mật thiết với một bộ phận dân Côdắc, thuộc miền Nam nước Nga, chứ không dừng lại ở một sự kiện lịch sử cụ thể. Đất nước này từng bị quân Mông Cổ thống trị, bọn Tacta tàn phá, đế quốc Thổ dày xéo và nổi bật là bọn phong kiến Ba Lan xâm chiếm phần lớn đất đai ở thế kỷ XVI; từ năm 1569 chúng cưỡng ép nhân dân bản địa từ bỏ chính giáo để quy thuận Kitô giáo theo toà thánh Vatican.Viết tiểu thuyết này, tác giả muốn làm nổi bật sức mạnh bất khuất và ý chí kiên cường giành độc lập tự do của toàn dân. Cảm hứng về nhân dân kỳ diệu là cơ sở thẩm mỹ trở thành chủ đề xuyên suốt.Nội dung truyện là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lịch sử và truyền thuyết. Tuy phản ánh cuộc sống của quần chúng từ những ngày xa xưa, nhưng tác phẩm vẫn dồi dào ý nghĩa thời sự trước phong trào khởi nghĩa vũ trang của nông dân đang diễn ra quyết liệt do Karmeliuc chỉ huy vào những năm 1830 nhằm chống lại chế độ thống trị hà khắc của Nga hoàng Nikolai II đương thời câu kết với tầng lớp quan lại địa phương. Mặc dù thất bại, vị tướng thủ lĩnh bị giết, nhưng dư âm cuộc khởi nghĩa còn vang đọng khắp Ukraina và nước Nga.Cốt truyện được tập trung trong nhân vật Tarax Bunba với hai người con trai là Ôxtap và Anđri cùng đồng đội trên một vùng chiến khu Xetri. Từ một gia đình yêu nước tiêu biểu, truyện được mở rộng ra toàn thể xã hội và dân tộc đối diện với kẻ thù xâm lược, gắn liền với quá trình lịch sử đầy biến động. Nếu đi sâu vào ngôn ngữ nhân vật trong những giây phút kịch tính nhất, thì người đọc có thể cảm nhận được yếu tố tiểu thuyết vừa đậm chất ly kỳ của truyền thuyết, vừa mang nét hiện thực lịch sử, không tách rời các tính cách riêng tư.Khi hai con trai vừa từ trường dòng về đến nhà, người cha vội dạy chúng trở thành người chiến sĩ yêu nước: “Chúng mày cần được nuông chiều à? Cánh đồng trơn trụi và một ngựa tốt, đó là sự nuông chiều tốt đối với chúng mày! Và hãy nhìn thanh gươm: mẹ của các con đó!”. Còn khi đứng ở cương vị người chỉ huy đội quân Côdắc, trước tình thế bức bách bị kẻ thù xâm lược o ép, vị lão tướng Bunba đã dõng dạc động viên ba quân: “Bọn vô đạo đã đoạt chiếm hết tất cả. Chỉ có chúng ta còn lại, côi cút, giống như quả phụ mất chồng khoẻ mạnh, đất nước ta cũng côi cút như chúng ta! Chính vào thời buổi đó, các bạn ạ, chúng ta nắm tay nhau trong tình anh em. Đấy tình đồng chí của chúng ta là như thế. Không có một liên hệ nào thiêng liêng hơn tình đồng chí!”.Từ ý chí sắt đá đó, lão Bunba đã dứt khoát đoạn tuyệt với Anđri – đứa con phản bội Tổ quốc. Hắn mù quáng trước tình yêu giả dối, hiểm độc của cô gái gián điệp từ đất Ba Lan tới, hắn cam tâm bán rẻ tất cả. Không chút do dự, hắn huyênh hoang lớn tiếng trước người cha và cả đồng đội:“- Đối với tôi, bố tôi, đồng chí, và Tổ quốc là cái gì?... Tổ quốc của tôi chính là nàng! Đấy, Tổ quốc của tôi đó! Và còn sống ngày nào tôi sẽ còn mang Tổ quốc này trong trái tim tôi, tôi thách tên Côdắc nào dám rứt nó ra khỏi lòng tôi. Và có bao nhiêu tôi sẽ cho hết, sẽ bán hết, sẽ huỷ đi để phụng sự Tổ quốc này!”.Hai tình huống xung đột đan xen tạo cho tác phẩm tràn đầy kịch tính và đầy ý nghĩa thời sự xã hội. Nhân danh đồng đội và Tổ quốc thiêng liêng, vị lão tướng không hề chần chừ khi đối mặt trước đứa con trai sa đoạ, mà lão từng yêu quý dạy bảo từ thuở còn thơ; nhưng giờ đây hắn đang run sợ, mặt tái mét:“- Đứng im, không được động đậy! Tao đã đẻ ra mày và bây giờ chính tao không cho mày sống nữa!”.Nhưng rồi bên xác con, lão nức nở: “Còn thiếu gì nữa, mà không thành Côdăc? Vóc cao, mày đen, mặt mũi quý phái và chiến đấu vững vàng! Thế mà nó chết, chết nhục như con chó đê tiện!”.Còn người con trai cả dũng cảm vào tận sào huyệt của kẻ thù và anh đã bị địch bắt. Trên giàn lửa thiêu, trong giây phút cuối cùng, Ôxtap hiên ngang, bất khuất lớn tiếng gọi bố: “Bố ơi! Bố ở đâu? Bố có nghe tiếng con không?- Bố có nghe! – tiếng thét vang lên giữa cái im lặng mênh mông và cả ngàn vạn dân chúng cùng giật mình kinh ngạc”(6).Người bố kiên cường và đau khổ, ngang nhiên tìm đến bên đứa con trai để chứng giám giây phút cuối cùng của giọt máu vô vàn yêu thương. Kẻ thù vây bắt, nhưng lão đã vụt biến mất; không bao giờ cam chịu khuất phục trước kẻ thù, vị lão tướng ấy lại quay về chiến khu tổ chức một đội quân tung hoành trên đất Ba Lan tìm diệt kẻ thù để làm “lễ cầu hồn cho con trai” ngay trong lòng địch. Bị quân thù bao vây, Bunba đã quyết mở đường máu cho đồng đội thoát hiểm trở về, nhưng riêng lão dừng ngựa lại để nhặt chiếc tẩu và túi thuốc, không muốn để rơi vào tay giặc.Chi tiết “chiếc tẩu và túi thuốc” đầy nét ly kỳ, mà hợp lý khiến quân Ba Lan xông tới bắt được lão; chúng buộc chặt lão vào thân cây trên một giàn thiêu. Nhưng ngay giữa lúc ngọn lửa cháy bỏng, lão vẫn lớn tiếng giục giã kêu gọi, chỉ đường cho đồng đội Côdăc vượt sông trở về quê mẹ và lão vui mừng khi thấy quân địch không thể đuổi kịp. Vị lão tướng hiên ngang vĩnh biệt đồng đội với niềm tin tưởng vào sức mạnh bất khuất của đất nước Ukraina và nước Nga.Đúng là đậm chất truyền thuyết, mà không thiếu nội dung hiện thực của khung cảnh chiến trận qua các chi tiết truyện kể. Nhân vật Tarax Bunba là một “người anh hùng, người đại biểu cho cuộc sống của toàn thể dân tộc, của toàn bộ chế độ chính trị trong một thời đại nhất định” (Biêlinxki).Mặt khác, về thi pháp thể loại, qua một số đoạn văn sinh động trên, người đọc ngày nay vẫn có thể hình dung được những cảnh tượng lạ lẫm... tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Cái hay là ở chỗ ngòi bút nhà văn đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố dân gian ly kỳ bay bổng, gắn với yếu tố hiện thực của cuộc sống hiện đại. Thời bấy giờ bút pháp lạ lẫm, phóng khoáng này từng được chứng minh khá thuyết phục qua một số truyện ngắn thời kỳ đầu của nhà văn, ví như truyện Cái mũi, Bức chân dung, v.v... tạo nên một phong cách độc đáo nổi bật của văn hào Gôgôn tài hoa. Cũng chính vì thế, về sau trên văn đàn Nga thế kỷ XX từng nẩy sinh việc tranh luận về thể loại xung quanh truyện Tarax Bunba: - đây là tác phẩm anh hùng ca hay là tiểu thuyết lịch sử? Tác phẩm văn xuôi này đã góp phần khẳng định sự xuất hiện một thể loại mới trong văn học Nga, được viết bằng ngôn ngữ Nga bình dân, điêu luyện, thoát khỏi dòng ngôn ngữ slavơ cổ kính của nhà thờ. Chính vì thế, Bêlinxki đánh giá rất cao: “Truyện Tarax Bunba là thiên anh hùng ca kỳ diệu do ngọn bút dũng cảm và khoáng đạt thảo ra, là thiên ký sự sắc nét về sinh hoạt anh hùng của một dân tộc trẻ trung, là bức tranh vĩ đại trong những khuôn khổ hẹp, xứng đáng với Homer”(7).Về phần thể loại của tác phẩm, còn không ít các quan niệm khác nhau giữa anh hùng ca và tiểu thuyết lịch sử. Tuy vậy, có thể thấy rõ là Gôgôn đã kết hợp khá chặt chẽ giữa yếu tố hiện thực lịch sử hoà vào yếu tố trữ tình anh hùng ca, pha nét lãng mạn ly kỳ đậm màu sắc dân gian của quá khứ xa xôi. Điểm mới là ngòi bút nhà văn đã chú ý phân tích diễn biến tâm lý nhân vật khá tinh tế, cụ thể, phức tạp, mà vẫn hợp lôgic phát triển đối với đời sống riêng tư.Hơn thế nữa, cùng với dòng trữ tình khởi nguồn từ Puskin, Gôgôn đã mở rộng dòng hiện thực gắn liền với việc sử dụng tiếng Nga hết sức sinh động, uyển chuyển, tạo nên nét tươi tắn, tràn đầy sức sống góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển nền văn xuôi Nga xuyên suốt thế kỷ XIX, bước sang chiếm lĩnh cả thế kỷ XX (tuy Gôgôn vốn là gốc Ukraina).Nhân đây có thể so sánh hai tác phẩm của Puskin và Gôgôn với một vài tác phẩm trong văn chương Việt Nam, để thử bàn rộng ra về mặt lý luận xung quanh thể loại tiểu thuyết lịch sử.Ở ta, truyện Quận He khởi nghĩa của Hà Ân, được tác giả và Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành giới thiệu là tiểu thuyết lịch sử. Dường như về tính chất cuộc bạo động của Quận He cũng có nhiều nét cơ bản đồng dạng, gần gũi với cuộc khởi nghĩa nông dân trên đất nước Nga và thời gian xẩy ra đều ở vào thế kỷ XVIII - XIX qua hai cuốn tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu. Tuy vậy, theo tôi, tác phẩm Quận He... chỉ nghiêng về truyện kể lịch sử bao quanh hoạt động của vị thủ lĩnh Quận He Nguyễn Hữu Cầu, hơn là một cuốn tiểu thuyết lịch sử về phong trào vùng lên của đông đảo nông dân chống bóc lột và nghèo đói.Còn cuốn Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) tuy có độ dày bề thế với các chuyện kể lịch sử cụ thể, sinh động tạo được sức cuốn hút khá rộng lớn, nhưng vẫn nghiêng về thể loại ký sự lịch sử hơn là tiểu thuyết. Mặc dầu tác phẩm được xây dựng theo lối truyện chương hồi của Trung Quốc khá hấp dẫn với nhiều sự kiện lịch sử phong phú xẩy ra trong xã hội Lê Trịnh suy tàn và khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ dữ dội. Tuy thế, ngòi bút các tác giả lại không chú ý đến việc xây dựng các nhân vật hư cấu, – một yếu tố cấu thành không thể thiếu – của thể loại tiểu thuyết truyền thống thế giới.Trong cuốn Từ điển văn học, giáo sư Nguyễn Lộc – người viết mục từ này – cũng phân vân về việc xác định thể loại của tác phẩm (tr.615). Còn sách giáo khoa Ngữ văn chương trình lớp 11, giới thiệu truyện Hoàng Lê nhất thống chí... “viết theo hình thức thể loại tiểu thuyết chương hồi như kiểu Tam quốc diễn nghĩa của văn học Trung Quốc” (Ngữ văn 11, Nxb. Giáo dục, H, 2000, tr.3), cũng có nghĩa là thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử? Đúng là có nét khác biệt giữa hai tư liệu?Mở rộng tầm khảo sát, nếu đọc các tiểu thuyết lịch sử chương hồi đồ sộ của nền văn học Trung Hoa thì có thể tham khảo sách Lịch sử văn học Trung Quốc, ở chương giới thiệu Tam quốc chí diễn nghĩa có đoạn: “...truyện Tam quốc lưu truyền tới đời Đường thì trên mình các nhân vật đã được tô thêm màu sắc thần dị. Từ Tống Nguyên trở về sau, các tác gia và nghệ nhân gia công nhiều lần, trở thành nội dung cơ bản của Tam quốc chí diễn nghĩa trong đó “bảy phần sự thật, ba phần hư cấu” (tr.383 – N.T.L nhấn mạnh)...“... Những phần trên trời dưới biển không phải là phần chủ yếu của Tam quốc... Có một câu nói lưu hành trước đây: “Truyện Tam quốc là thật, truyện Phong thần là giả” (tr 392-N.T.L nhấn mạnh)(8). Ở một tư liệu khác, nhà văn – học giả Quách Mạt Nhược cũng nêu lên nhận định tương tự như thế: “70% là thực, còn 30% là hư cấu...”.Thật ra xét đến cùng, trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, yếu tố thể loại luôn biến động và tuỳ thuộc khá nhiều vào quan niệm và tài năng chủ quan của tác giả ở từng giai đoạn sáng tác và từng tác phẩm cụ thể. Hơn nữa, việc phân định ranh giới giữa các thể loại dưới ngòi bút của các nghệ sĩ nhiều khi cũng có phần mong manh phiếm định. Phải chăng đây cũng là một lĩnh vực khá thú vị cần được giới khoa học bàn luận rộng rãi?...Hà Nội, hè 2009_____________(1) Theo Khrapchenko: L. Tônxtôi, nhà nghệ sĩ. Nxb. Nhà văn Xô viết, M; 1965, tr.60.(2), (3), (4), (5) Theo Đỗ Hồng Chung: Puskin, nhà thơ vĩ đại. Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H, 1977, tr.211.(6), (7) Chuyển từ Lịch sử văn học Nga. Nhiều tác giả. Nxb. Giáo dục, H, 2003, tr.163.(8) Lịch sử văn học Trung Quốc, Tập II. Nhiều tác giả. (Bản dịch). Nxb. Giáo dục, H, 2002.
PGS.TS. Nguyễn Trường Lịch
Khoa Văn học - ĐHKHXH&NV Hà Nội
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/2009
|