Chương IV - Tóm tắt phần thứ ba
Trong phần thứ ba này, chúng tôi đã phân tích, đã “mổ xẻ” - để dùng một danh từ mà ông Hoài Thanh không ưa - chất thơ của Truyện Kiều, vẻ đẹp (hình thức) của Truyện Kiều. Chúng tôi đã thấy rằng:
1. Những yếu tố cấu thành chất thơ ấy là: sự thất bại, sự tuyệt vọng, sự bi ai sầu muộn, sự đầu hàng. Để biểu hiện những trạng thái này, thi sĩ Nguyễn Du đã tạo ra cả một hệ thống tương quan về Vật, Tình, Ý, làm toàn bằng những cái yếu đuối, mơ hồ, héo tàn, tiêu vong.
2. Chính chất thơ ấy đã chi phối sự cấu tạo cái hệ thống hình thức (âm, điệu) của Truyện Kiều. Sở dĩ Nguyễn Du dùng lối thơ lục bát sở trường như vậy là bởi cái điệu của lối thơ này tiêu biểu được trung thành những hình thức tình cảm và tư tưởng yếu đuối, bạc nhược, chật hẹp.
3. Chất thơ ấy, cái đẹp hình thức ấy được hoan nghênh là bởi nó thích hợp với tâm lý của dân tộc ta trong một thời kỳ lịch sử, hoặc nói đúng hơn, của đẳng cấp thống trị sĩ phiệt mà Nguyễn Du là một phần tử ý thức.
4. Chất thơ và vẻ đẹp ấy, một mặt thỏa mãn được những nhu cầu tinh thần của đẳng cấp thống trị sĩ phiệt, một mặt nữa lại rất lợi cho sự tồn tại của đẳng cấp này vì nó khuôn tình cảm và tư tưởng của xã hội vào một trạng thái nhu nhược, đầu hàng, ốm yếu.
Tóm lại, Truyện Kiều, kể cả nội dung lẫn hình thức là kết tinh phẩm của ý thức một đẳng cấp trong một xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Nó đẹp là đẹp đối với đẳng cấp ấy, xã hội ấy, ở giai đoạn ấy.
Ngày nay và mai sau, cái đẹp của Truyện Kiều có được công nhận nữa không? Thái độ chúng ta hiện giờ đối với giá trị Truyện Kiều phải như thế nào? Thiết tưởng dù chưa đọc phần kết luận sau đây, các bạn cũng có thể đoán được lời đáp những câu hỏi ấy phải như thế nào rồi.
*
Kết luận - “Chân giá trị” của Truyện Kiều
Nếu giá trị một tác phẩm văn nghệ chỉ là một thành công về kỹ thuật thì Truyện Kiều là một tác phẩm có giá trị. Nguyễn Du đã có tài kiến thiết được cả một hệ thống tương quan rất chặt chẽ và độc đáo. Âm thanh, nhịp điệu, từ ngữ, hình ảnh, tình cảm, tâm lý, tư tưởng, cảnh vật xã hội và tự nhiên, tất cả đều lồng khung vào nhau đúng từng khớp, sát từng cạnh và đều biểu hiện được trung thành một chất thơ đậm mầu, tinh hoa của Truyện Kiều, điệu sống của tâm hồn Nguyễn Du. Thi sĩ đã cai quản được đối tượng của mình, chỉ huy được các vật liệu cụ thể và vô hình bắt các sự trạng phối hợp với nhau theo cùng một hướng, đến cùng một đích là: biểu hiện được khối trạng thái ý thức bị dồn ép trong tâm khảm mình. Thế giới hình thức đã bị Nguyễn Du thống trị, áp đảo. Đó là tài năng của một nhà kỹ thuật bực thầy.
Nhưng tác phẩm văn nghệ không phải chỉ là hình thức, là kỹ thuật. Hình thức nào cũng đựng một tinh thần; kỹ thuật nào cũng đựng một thị hiếu. Điều quan hệ không phải chỉ là xét xem hệ thống hình thức của Truyện Kiều có biểu hiện được đầy đủ cái hệ thống tình cảm và tư tưởng mà Nguyễn Du chủ tâm biểu hiện không. Điều quan hệ còn là xét xem hệ thống tình cảm và tư tưởng này có một giá trị thế nào. Giá trị hình thức của Truyện Kiều bị giá trị tinh thần ấy quy định. Ta sẽ nghiên cứu giá trị tinh thần của Truyện Kiều theo hai phương diện:
1. Xét giá trị ấy đối với đương thời của Nguyễn Du
2. Xét giá trị ấy đối với hiện tại.
Nói khác đi, ta sẽ phê phán giá trị lịch sử và giá trị thực tại của Truyện Kiều.
Xét giá trị lịch sử của Truyện Kiều tức là đem tác phẩm này đặt vào đương thời của Nguyễn Du, xem nó ở vị trí nào và nó công dụng gì trong cuộc sinh tồn của toàn thể xã hội lúc đó. Cuộc sinh tồn của một xã hội vốn phát triển luôn luôn theo quy luật biện chứng; nghĩa là luôn luôn nó chứa đựng hai lực lượng mâu thuẫn, một cái đang là căn bản của xã hội, một cái còn ở trạng thái mầm mống. Nói theo danh từ triết học thì cái đang là căn bản kia gọi bằng quyết thể cái còn là mầm mống kia gọi bằng hủy thể. Cái lực lượng hủy thể này sẽ phá đổ cái lực lượng quyết thể kia để rồi lại sẽ bị phá hoại để biến ra một hình thái tổng hiệp. Đứng ở góc xã hội học duy vật mà luận thì mỗi lực lượng xã hội ấy có một giai cấp đại diện. Vì thế nên sự tranh đấu giai cấp vẫn là một định luật chủ não của mọi cuộc tiến hóa xã hội trong lịch sử. Giai cấp nào đóng vai trò hủy thể là một giai cấp đi tới thuận với sự tiến hóa. Giai cấp nào sắp bị hủy là một giai cấp phản động bảo thủ.
Theo nguyên tắc xã hội học ấy để phê bình văn nghệ, chúng tôi đồng ý với nhà văn học P. Naville cho rằng: “chỉ có sự nhận thức sáng suốt về xu hướng phát triển của luật tiến hóa trong lịch sử mới ban được cho văn phẩm cái nhịp điệu làm nên giá trị sâu sắc của nó và mới truyền được cho văn phẩm một sinh khí dồi dào – văn phẩm này, nhờ đó, đã trở nên một “khoảnh khắc” của sự sinh thành”. (Seul le sens pleinement compris de l’evolution litteraire le rythme qui fait sa valeur profonde et lui donne la vie comme évant un moment du devenir). Tác phẩm văn chương nào mà xu hướng tinh thần theo cùng nhịp điệu với xu hướng đi tới của xã hội là một tác phẩm giá trị, thuận tiến hóa đối với đương thời. Tác phẩm nào đi nghịch lại con đường “đi tới” của xã hội là một tác phẩm vô giá trị. Hoặc nói đúng hơn, tác phẩm ấy chỉ có giá trị phản động của một giai cấp phản động ban cho.
Ta có thể dùng hai tiêu chuẩn sau đây để biết một văn phẩm có giá trị tiến hóa hay giá trị phản động. Tiêu chuẩn thứ nhất là: “Nếu trong trạng thái sinh hoạt của xã hội lúc bấy giờ mà giai cấp thống trị đã trở thành một sức cản trở đối với cuộc tiến hóa thì văn phẩm nào biểu dương giai cấp đó là phản động”.
Tiêu chuẩn thứ hai là: “Văn phẩm nào đi thuận trào lưu tiến hóa bao giờ cũng có những tính cách thiết thực, khỏe mạnh, trầm mặc, hăng hái, phẫn uất, và nhất là không bao giờ bộc lộ ra sự buồn bã, ai oán, chán chường. Còn văn phẩm nào phản tiến hóa thì bao giờ cũng thiên về tính cách mơ mộng, huyền ảo, ủ rũ, não nùng, bi quan, chán chường, ai oán”.
Dùng hai tiêu chuẩn phê bình đó để xét Truyện Kiều, ta thấy ngay giá trị lịch sử của nó. Tán dương ý thức hệ phong kiến của đẳng cấp sĩ phiệt trong lúc đẳng cấp này đã hết vai trò tiến hóa[1]; chứa đựng một hệ thống hình thức bộc lộ ra tính cách bi ai, sầu oán, đầu hàng, chiến bại, Truyện Kiều chỉ là một sản phẩm của quý tộc phong kiến đang tàn lụn. Giá trị của nó ở đương thời là một giá trị phản tiến hóa. Cái đẹp của nó là một cái đẹp nghịch với sức đi tới của xã hội đương thời. Mọi người trong xã hội mà ngâm nga nó cũng chẳng khác gì họ đã phải ca tụng luân lý của sĩ phiệt - của đẳng cấp thống trị.
*
Còn giá trị thực tại của Truyện Kiều. Đối với chúng ta ngày nay Truyện Kiều có còn giá trị gì không?
Chúng ta đọc văn chương của thời xưa là để rút ở đó ra những cái gì có thể giúp cho ta sinh tồn tiến hóa được trong hiện tại. Chúng ta vun xới tinh thần bằng dĩ vãng là cốt để cho tinh thần ta có thêm được năng lực mà thống trị hiện tại để cùng sinh thành với hiện tại. Lúc này là lúc chúng ta đang đứng ở trung tâm một trạng thái phát triển biện chứng của xã hội. Chúng ta cần phải đào luyện tình cảm tư tưởng, ý chí chúng ta cho có những khả năng (possibilités) để dự mật thiết vào công trình hủy thể của lịch sử đang diễn âm thầm ở chung quanh ta khắp trên thế giới. Làm một cái ngụp sâu trong văn nghệ dĩ vãng trong lúc toàn khối sinh lực của chúng ta đang cần vươn đến tương lai, chúng ta phải tàn nhẫn mà dứt cho hết những cái đẹp không hợp với tinh thần phấn đấu của ta mà chỉ thu nhặt lấy những cái đẹp nào đã là một động lực của sự hủy thể trong lịch sử.
Pissarev đã có lần nói một câu rất cực đoan đại khái như sau đây: “Giờ phút này dân tộc ta phải tập trung hết các phần tử tinh anh lại thành một đoàn thể có bổn phận đem ánh sáng của khoa học giác ngộ mọi người, cải thiện những điều kiện sinh hoạt vật chất của dân gian, nâng cao trình độ dân trí cho đi kịp với sự tiến hóa. Trong công việc của chúng ta, gặp bất cứ sức cản trở nào ta cũng phải phá đi. Nếu trong số những sức cản trở ấy mà có cả Nghệ thuật thì ta cũng không lưỡng lự mà đạp đổ nó”.
Chúng ta không cần cực đoan đến thế. Nghệ thuật không phải là một sức cản trở đối với sự tiến hóa của một xã hội. Nhưng ta phải biết lọc trong thế giới nghệ thuật chắt lấy những chất sống hợp với tinh thần của chúng ta ngày nay. Còn những cái đẹp nào đã là những sản phẩm phản tiến bộ trong lịch sử thì chúng ta không nên luyến tiếc. Có chặt đứt với dĩ vãng mới tiếp tục được dĩ vãng đó là luật tiến hóa biện chứng. Muốn cứu vớt những cái tinh túy của văn nghệ quá khứ, chúng ta phải là hủy thể của văn nghệ quá khứ ấy để kiến thiết một văn nghệ mới - hiệp thể của quá trình biện chứng này. Chúng ta nên nhớ luôn luôn rằng trong mọi thế giới ở mọi phạm vi sinh hoạt, đâu đâu sự tiến hóa cùng diễn ra theo định luật đoạn tuyệt tức là tiếp tục[2].
Truyện Kiều là một thứ văn chương đã ở một vị trí phản tiến hóa lúc đương thời của Nguyễn Du. Nó chứa chan một chất tàn héo, tiêu ma (chất thơ). Nó là kết tinh phẩm của một chặng đường suy đồi nhất trên tràng kỳ tiến hóa của cá tính Việt Nam. Cái đẹp của Truyện Kiều ngày nay chỉ những tâm hồn muốn thụt lùi mới có thể thưởng ngoạn được.
Hết
Nguồn: Văn chương Truyện Kiều. Khảo luận của Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu). Tạp chí Văn mới, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội 1945.
|