tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
25.09.2012
Huyền Viêm
Chiến tranh trong thơ Đường


Nhà Đường cầm quyền ở Trung Hoa ngót ba thế kỷ (618-907) nhưng chỉ  hơn một trăm năm đầu từ thời Trinh Quán (Đường Thái Tông) trở đi là thái bình thịnh trị, còn về sau thì loạn lạc liên miên và  tình hình đó được phản ánh trong thơ Đường khá rõ.



            Trong buổi Sơ Đường, vua Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) rút kinh nghiệm từ đời Tùy vì tàn bạo về chính trị mà dẫn đến diệt vong, lại chính mắt thấy sức mạnh của nông dân lật đổ cơ nghiệp nhà Tùy nên ông hiểu rõ mối tương quan giữa giai cấp thống trị và nhân dân. Vì thế ông thường dạy dỗ và răn đe các con rằng :“Vua có thể ví với thuyền, dân có thể ví với nước, nước có thể chở thuyền mà cũng có thể lật thuyền” (1). Ông đã cho thực hiện chế độ quân điền (chia đều ruộng đất cho dân), giảm nhẹ tô thuế, mở mang giao thông vận tải, xây dựng các công trình thủy lợi nên nông nghiệp phát triển và thương mại cũng phát triển theo. Đời sống của dân chúng sung túc hẳn lên, nhờ thế mà đất nước thái bình thịnh trị.


            Đến cuối đời vua Huyền Tông (Đường Minh Hoàng – 713-756), loạn An Lộc Sơn kéo dài tám năm (755-763) khiến cho nhà Đường suy yếu về chính trị, kiệt quệ về kinh tế. Chẳng những thế, cái họa phiên trấn cát cứ của các Tiết độ sứ làm cho triều đình bất lực, vô phương đối phó (An Lộc Sơn là một trong số các Tiết độ sứ ấy). Ở vùng biên tái, rợ Thổ Phồn, Hồi Hột, Nam Chiếu quấy nhiễu luôn, binh sĩ triều đình đánh dẹp hết sức vất vả mà chẳng thu được kết quả gì.


            Trong tình trạng chiến tranh liên miên như thế, đời sống của dân chúng thật vô cùng khốn khổ, lại thêm nạn hạn hán mất mùa đến nỗi có nơi đã phải ăn thịt người nên Bạch Cư Dị (772-846) viết trong bài Khinh phì (2) như sau:


                                                         Năm nay hạn hán Giang Nam,


                                                    Cù Châu người mổ người làm thức ăn.


                                                            (Thị tuế Giang Nam hạn,


                                                            Cù Châu nhân thực nhân)


              Trong hoàn cảnh ấy, người dân lại còn bị bắt lính đi phục vụ chiến trường. Bài thơ Thạch Hào lại (Viên lại thôn Thạch Hào) của Đỗ Phủ (712-770) đã cực tả cảnh bắt lính tàn nhẫn đó. Tác giả kể rằng một tối ông trú tại thôn Thạch Hào, đến nửa đêm có bọn lại đến nhà bắt lính. Ông lão vượt tường trốn thoát, bọn nha lại hò hét giận dữ. Bà lão kêu van: ba đứa con trai của mụ đã ra trận ở Nghiệp Thành (tỉnh Hà Nam ngày nay), một đứa gửi tin về cho biết hai đứa kia đã tử trận, đứa còn lại sống bấp bênh, chẳng biết rồi sẽ ra sao. Trong nhà còn đứa cháu nhỏ bú mẹ, mẹ nó bận con, lại quần áo rách rưới nên chẳng dám đi đâu, chỉ có mụ đây tuy già yếu nhưng cũng có thể đến Hà Dương (Hà Nam) để nấu cơm cho binh sĩ.


              Đêm khuya, tiếng nói đã im bặt vẫn còn như nghe tiếng nghẹn ngào thổn thức. Sớm mai tác giả lên đường, chỉ còn có ông già để từ biệt. Tác giả hạ bốn câu cuối khiến người đọc não lòng:


                                                    Đêm khuya đã dứt lời


                                                    Như nghẹn ngào áo não.


                                                    Sáng từ biệt lên đường


                                                    Chỉ còn độc ông lão.


                                                    (Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,


                                                    Như  văn  khấp  u  yết.


                                                    Thiên minh đăng tiền đồ,


                                                    Độc dữ lão ông biệt).


              Hễ có chiến tranh là có cảnh biệt ly. Ta đã từng nao lòng vì phút chia tay của đôi vợ chồng người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm, nay Đỗ Phủ lại khiến ta bùi ngùi vì nỗi biệt ly của đôi vợ chồng mới cưới trong bài Tân hôn biệt: giường của chàng, em nằm chưa ấm chiếu; chặp tối đưa dâu, sớm mai từ biệt, há chẳng là quá đỗi vội vàng:


                                                    Rẽ ngôi, em bén duyên chàng,


                                                    Chiếu em chưa ấm cái giường nhà trai.


                                                    Cưới chiều hôm, vắng sáng mai,


                                                    Duyên đâu lật đật cho người xót xa !


                                                                                                    (Ngô Tất Tố dịch)


              Rồi binh sĩ lên đường, cha mẹ vợ con đưa tiễn. Xe chạy ầm ầm, ngựa hí vang vang, cát bụi mịt mù che khuất cầu Hàm Dương Họ níu áo, dậm chân, cản đường, khóc lóc vì biết kẻ chinh nhân một đi không bao giờ trở lại. Tiếng khóc vút lên tận trời xanh. Trong bài Binh xa hành (Bài hành xe quân), Đỗ Phủ đã tả cảnh biệt ly mà ông chứng kiến tại cầu Hàm Dương như thế.


              Người qua đường hỏi kẻ ra đi. Kẻ ra đi đáp rằng việc bắt lính diễn ra thường xuyên, năm nào cũng có. Từ mười lăm cho đến bốn mươi tuổi, không ai thoát khỏi. Mười lăm tuổi thì đi phòng giữ miền sông Hoàng Hà ở phía bắc, bốn mươi tuổi thì đi khai thác ruộng đất ở phương tây. Khi về, đầu đã bạc, vẫn còn phải đi làm lính thú ở miền biên tái:


                                                    Có kẻ mới mười lăm lên bắc,


                                                    Bốn mươi còn khai thác miền tây.


                                                    Lúc đi được chiếc khăn này,


                                                    Khi về đầu bạc ra ngay biên đình.


                                                                                           (Binh xa hành – Trần Trọng San dịch)


              Rồi tác giả tỏ ý tiếc cho những người không may sinh ra làm trai thời chiến: bây giờ mới biết sinh con trai chẳng ra gì, sinh con gái lại tốt hơn. Sinh con gái còn được gả chồng gần, chứ sinh con trai thì bị vùi chôn trong đám cỏ:


                                                    …. Mới hay là trai rẻ, gái hơn.


                                                    Gái còn được gả bên thôn,


                                                    Trai thì cây cỏ vùi chôn bên đường.


                                                                                                    (Trần Trọng San dịch)


              Cái ý tưởng người lính một khi ra sa trường chẳng mấy ai may mắn trở về được các thi nhân đời Đường chia sẻ. Vương Hàn (687-726) trong bài Lương châu từ đã viết:


                                                    Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,


                                                    Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.


                                                    Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,


                                                    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.


              Trần Quang Trân dịch:


                                                    Bồ đào rượu ngát chén lưu ly,


                                                    Toan nhắp, tỳ bà đã giục đi.


                                                    Say khướt sa trường, anh chớ mỉa,


                                                    Xưa nay chinh chiến mấy ai về !


              Lý Bạch cũng cùng ý nghĩ ấy trong bài Quan san nguyệt (3) (Trăng nơi quan ải):


                                                         Những nơi chinh chiến xưa nay,


                                                    Bao giờ lại có người may trở về.


                                                         (Do lai chinh chiến địa,


                                                         Bất kiến hữu nhân hoàn).


              Sở dĩ như thế là vì chiến trận thời ấy rất khốc liệt mà binh sĩ hai bên dàn ra quá đông


nên số thương vong rất lớn. Tháng chạp năm Thiên Bảo (niên hiệu của Đường Minh Hoàng) thứ chín (750), Tể tướng Dương Quốc Trung sai Tiết độ sứ Kiếm Nam là Tiên Vu Trọng Thông đem quân đánh Nam Chiếu (ở tỉnh Vân Nam ngày nay), bị thua to, chết mất sáu vạn quân (60.000 người), chôn chung một nấm mồ lớn gọi là “Vạn nhân trủng” (mả vạn người). Dương Quốc Trung sợ tội, giấu nhẹm việc ấy, lại còn khen thưởng Trọng Thông rồi ra lệnh mộ thêm lính tại Quan Trung để bổ sung quân số. Đỗ Phủ đã chứng kiến cảnh này tại cầu Hàm Dương nên làm bài Binh xa hành nói trên.


              Phía nam đánh Nam Chiếu, phía bắc lại đánh với Hung Nô, quân nhà Đường chết mất năm nghìn người, chôn ở đất Hồ nên Trần Đào thời Vãn Đường làm bài thơ Lũng Tây hành (Bài hát Lũng Tây) để tỏ lòng tiếc thương những người lính chẳng may đã bỏ mạng ở sa trường:                                                                                            Thệ tảo Hung Nô bất cố thân,


                                                    Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần.


                                                    Khả liên Vô Định hà biên cốt,


                                                    Do thị xuân khuê mộng lý nhân.


              Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch:


                                                    Thề quét Hung Nô sá mất còn,


                                                    Năm nghìn tướng sĩ đất Hồ chôn.


                                                    Thương thay ! Xương chất bờ Vô Định (4),


                                                    Mà vẫn người trong mộng gối xuân.


              Thuở ấy không có giấy báo tử những người lính chết trận, mà việc liên lạc thư tín rất khó khăn nên thân nhân của họ, vợ hoặc người yêu, không biết nên tưởng họ còn sống và vẫn còn là người trong mơ của kẻ chốn khuê phòng.


              Cũng cùng một nhận định như vậy, Vương Xương Linh đã viết trong bài Tái hạ khúc (Khúc hát dưới cửa ải) như sau:


                                                       Bụi vàng tung mãi xưa nay,


                                                    Biết bao xương trắng lấp dày cỏ tranh.


                                                          (Hoàng trần túc kim cổ,


                                                          Bạch cốt loạn bồng cao).


              Trong bài Thùy lão biệt (Cuộc ly biệt lúc về già), Đỗ Phủ tả cảnh núi xương sông máu thật vô cùng khủng khiếp, ai nghe đến cũng phải động lòng:


                                                    Thây chất lại thối xông cây cỏ,


                                                    Máu chảy ra nhuộm đỏ sông đồng.


                                                         (Tích thi thảo mộc tinh,


                                                         Lưu huyết xuyên nguyên đan).


              Và cụ già nói trong bài, con cháu chết trận hết, cụ tự hỏi còn một mình sống để làm gì?


                                                    Nước loạn lạc, thân già lận đận,


                                                    Con cháu đều chết trận hết rồi.


                                                    Một mình sống ở với ai?


                                                    Ném phăng chiếc gậy, cửa ngoài ra đi.


              Rồi trong bài Vô gia biệt, Đỗ Phủ viết rằng “Đời người đến nỗi không có nhà mà từ biệt thì sao gọi được là người?” (vì nhà cửa đã bị chiến tranh thiêu hủy hết rồi). Thật là thê thảm!


              Người chinh phu ra đi, để vợ lại quê nhà với biết bao nỗi niềm thương nhớ. Thương nhớ rồi hối hận, mình tự trách mình sao lại xui chồng đi lập công danh. Vương Xương Linh (698-757) tả tâm trạng ấy của người chinh phụ trong bài Khuê oán (Nỗi oán phòng khuê):


                                                    Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,


                                                    Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu.


                                                    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,


                                                    Hối giao phu tế mịch phong hầu.


              Tản Đà dịch:


                                                         Trẻ trung nàng biết chi sầu,


                                                    Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.


                                                         Nhác trông vẻ liễu bên đường,


                                                    Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi !


              Người con gái ấy vốn rất ngây thơ, chưa hề biết buồn rầu. Một hôm, trang điểm xong bước lên lầu, nhìn xuống đường thấy những cành liễu xanh mơn mởn, nghĩ đến mùa xuân xiết bao tươi đẹp rồi nghĩ đến tuổi trẻ của mình, nàng tự trách mình sao lại xui chồng đi tìm vinh hoa phú quí.


              Nhớ chồng, chỉ còn ước mong gặp chồng trong mộng, nhưng giấc mộng mới hiếm hoi làm sao ! Thế mà mới mộng tới Liêu Tây để gặp chồng thì bỗng con chim hoàng oanh cất tiếng hót làm nàng bừng tỉnh giấc, hỏi có đáng giận hay không?


                                                            Đả khởi hoàng oanh nhi,


                                                            Mạc giao chi thượng đề.


                                                            Đề thì kinh thiếp mộng,


                                                            Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).


                                                                                                    (Xuân oán – Kim Xương Tự)


                            Hải Văn dịch:


                                                           


                                                            Đánh đuổi cái oanh vàng đi,


                                                    Đừng cho nó hót tỉ ti trên cành.


                                                            Nó kêu, thiếp ngủ giật mình,


                                                    Chẳng yên giấc mộng tới thành Liêu Tây (5).


              Nhớ thương, đau xót rồi dỗi hờn vì người đi đi mãi không về. Nỗi lòng của người chinh phụ được Thôi Đạo Dung diễn tả trong bài Xuân khuê (Phòng khuê ngày xuân):


                                                            Dục tiễn “nghi xuân” tự,


                                                            Xuân hàn nhập tiễn đao (6).


                                                            Liêu Dương tại hà xứ?


                                                            Mạc vọng ký chinh bào.


                            Sở Bảo dịch:


                                                            Vừa toan cắt chữ “nghi xuân”,


                                                    Hơi xuân thấm lạnh kéo cầm buốt tay.


                                                            Liêu Dương ở chốn nào đây?


                                                    Xin đừng mong đợi gửi ngay áo bào !


            Gặp buổi tiết xuân giá rét, thương chồng phải nằm sương gối tuyết chốn sa trường, người chinh phụ muốn may áo gửi cho chồng để chàng đỡ lạnh. Nàng định cắt hai chữ “nghi xuân” thêu vào áo để thay lời chúc, nhưng vừa cầm đến kéo thì tay đã giá buốt nên phải ngừng lại. Trong khi suy nghĩ vẩn vơ, tình thương nhớ bỗng đổi ra hờn dỗi: hãy cứ để cho mà rét, ai bảo cứ đi, đi mãi không về, chẳng nghĩ gì đến cảnh chăn đơn gối chiếc lạnh lùng của người vợ trẻ chốn khuê phòng. Liêu Dương xa cách nghìn trùng, đừng vội mong gái này gửi áo ! Sự hờn dỗi của người thiếu phụ thật đáng yêu !


            Có người cho rằng những bài thơ trên đây là thơ “phản chiến”, có ý chống đối chiến tranh, nhưng người khác lại cho đó là những bài thơ có tính cách hiện thực, hiện thực khách quan. Các tác giả nhìn chiến tranh bằng con mắt khách quan của nhà tư tưởng, nhà triết học. Họ chỉ nói lên một sự thật hiển nhiên, một thực tế hãi hùng mà ai cũng thấy.


                                                                ***


            Chiến tranh là cái đại họa của nhân loại. Kẻ thắng, người thua cũng đều bị tàn hại. Một viên tướng thành công đã phải trả giá bằng cái chết của hàng vạn chiến binh, cho nên người xưa đã nói “nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Biết bao chinh phụ trở thành quả phụ, bao đứa trẻ sớm mồ côi, cha mẹ già không ai phụng dưỡng. Nỗi đau ấy biết lấy gì bù đắp được.


            Thơ đời Đường đã phản ánh khá trung thực những cuộc chiến tranh ác liệt và dai dẳng giết hại biết bao người, nhưng chỉ mới nói lên được một phần nhỏ niềm đau của các bậc cha mẹ già, của những người con thơ vợ trẻ.


HV.


Nguồn: Trung Hoa, Tình, Thơ và Mộng. NXB Trẻ, 2012.


www.trieuxuan.info


_______________ 


              (1) Nguyên văn chữ Hán:“Quân giả chu dã, thứ nhân giả thủy dã; thủy tắc tái chu, thủy tắc phúc chu” (Tuân Tử).


              (2) Khinh phì: nhẹ, béo; mặc áo cừu nhẹ, cưỡi ngựa béo. Chỉ cảnh giàu sang, phong lưu của bọn quan lại.


              (3) “Quan san nguyệt” là một khúc hát của người lính thú đời xưa.


              (4) Vô Định là tên một con sông ở tỉnh Thiểm Tây, vì có nhiều cát, chỗ nông chỗ sâu, hay thay đổi bất thường nên mới gọi là Vô Định. Ngày xưa trên bờ sông này đã diễn ra nhiều trận giao phong ác liệt giữa quân Trung Hoa và quân Hung Nô, người chết nhiều lắm.                    


              (5) Liêu Tây: miền tây tỉnh Liêu Ninh ngày nay. Đời Đường có lính thú đồn trú tại đấy.


              (6) Tiễn đao: cái kéo.                                                      

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »