Tôi sinh ra tại một làng quê Bình Định (ngày trước gọi là xã Thanh Liêm, nay gọi là xã Nhơn An – huyện An Nhơn).
Lúc bé, tôi học ở trường làng. Xã tôi không có trường, tôi phải lội sông đi học nhờ ở trường xã bên cạnh. Sau đó, tôi theo gia đình xuống Qui Nhơn rồi ra Huế, ở đó anh học hết cấp tiểu học, anh tôi đi Pháp du học, tôi lại trở về Bình Định, học trường Quốc học Quy Nhơn. Tôi đỗ bằng Thành Chung năm 1943. Hè măm đó, tôi bị tai nạn, gãy chân, không ra Huế kịp để học ban Tú tài trường Quốc học Huế. Tôi đành đi làm thư ký công nhật ở Toà sứ Quy Nhơn để giúp đỡ mẹ tôi nuôi các em và tự học để đi thi Tú tài.
Cách mạng tháng Tám thành công, tôi đi hẳn vào con đường văn học. Tôi làm thư ký trường trực ở chi hội văn hoá cứu quốc do anh Trần Mai Ninh phụ trách. Tôi viết bài ký đầu tiên về Bình dân học vụ Vén mắt được đăng ở Tạp chí Tiền phong của Hội Văn hoá cứu quốc Trung ương Hà Nội... Thời gian làm việc với anh Trần Mai Ninh tôi được anh giúp đỡ rất nhiều... Sau đó chuyển qua làm báo và được cử đi học lớp Hội hoạ kháng chiến L.K5 do hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung phụ trách. Xong lớp học, tôi lại được chuyển về làm cán bộ sáng tác (hoạ và thơ) ở Chi Hội Văn nghệ L.K.5. Tôi được bầu làm Uỷ viên ban chấp hành Đoàn Hội hoạ L.K.5... Đầu năm 1949, tôi đi sáng tác ở miền Tây Bình Định (vùng giáp cận An Khê). Tôi vẽ được mấy bức tranh, trong đó có bức Các em bé chăn bò học trên núi và được anh Nguyễn Đỗ Cung cho gửi ra Đoàn Hội hoạ Trung ương ở Việt Bắc. Tôi vẫn vừa vẽ vừa làm thơ và có khi mê làm thơ hơn vẽ. Cuối năm 1949, đầu 1950 tôi được cử đi cùng với anh Nguyễn Văn Bổng ra dự Hội nghị Văn học toàn quốc ở Việt Bắc với tư cách là một nhà thơ trẻ L.K.5. Ra Việt Bắc lần đầu tiên tôi được gặp các anh Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ... các nhạc sĩ và hoạ sĩ: Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sùng...
Về lại khu 5 tôi được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Chi hội Văn nghệ LK5. Cuối 1951 nhân có chủ trương giảm chế của Nhà nước, tôi xin về quê, vừa làm thông tin tuyên truyền ở xã, vừa kết hợp giúp đỡ cho gia đình. Liên khu 5 năm ấy đang rất khó khăn. Thấy má tôi, em gái tôi và mấy đứa cháu ngày no, ngày đó. Hơn hai năm tôi về làng vừa làm công tác thông tin văn hoá vừa thâm nhập sâu vào thực tế đời sống của người dân ở làng, đối với tôi, một người sáng tác, là hai năm vàng. Nhờ thời gian này tôi đã hiểu được thế nào là nông dân, thế nào là chân lấm tay bùn, thế nào là đầu tắt mặt tối...
Tháng 4-1954 tôi lại được Chi hội Văn nghệ LK5 gọi ra để chuẩn bị đi tập kết.
Tháng 1-1954 tôi có mặt ở Hà Nội và làm công tác đối ngoại ở Hội Văn nghệ Trung ương. Năm 1957 tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam ngay ở khoá đầi tiên nên được xem như là thành viên sáng lập Hội. Cũng năm ấy, tôi lại cùng với các anh Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài chuẩn bị và xin thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng.
Tôi làm việc ở nhà xuất bản Kim Đồng được ba năm thì lại chuyển qua làm ở nhà xuất bản Hội Nhà văn, rồi tiếp đó chuyển về làm ở báo Văn nghệ. Trước khi về báo tôi được cử đi vào Trại Kim Đồng và đóng với các em mồ côi, lưu lạc toàn Miền Bắc sang chiến tranh trong hai năm để sáng tác. Tôi tranh thủ thời gian này đi học Lớp chuyên đề văn học do Viện Văn học mở và đồng chí Đặng Thai Mai phụ trách. Đối với tôi hai năm học ấy hết sức quý giá. Ở trại "Kim Đồng" về, tôi viết tập tiểu thuyết Tình thương rồi đến báo Văn nghệ làm việc luôn một mạch từ 1965 – 1983, từ biên tập viên lên tổ trưởng tổ thơ, rồi uỷ viên Ban Biên tập rồi Phó tổng trưởng tổ thơ, rồi uỷ viên Ban Biên tập rồi Phó tổng biên tập thứ nhất của báo. Làm báo tôi được đi nhiều...
Giặc Mỹ tấn công ra miền Bắc. Tôi cùng nhiều anh chị Chế Lan Viên, Võ Huy Tâm… đi vào tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Lĩnh trong ba tháng liền... Năm 1968, tôi lại vào Vĩnh linh "Luỹ thép" để lấy tài liệu sáng tác,
Quảng Trị được giải phóng năm 1972, tôi lại cùng các anh Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Cẩm Thạnh, Ngô Văn Phú, Hữu Nhuận... vào ngay trên vùng đất anh hùng hãy còn nóng hổi và khét mùi bom đạn... Ngày Sài Gòn giải phóng, đất nước sum họp một nhà chúng tôi vào Sài Gòn, nơi lần đầu tôi được đặt chân đến... Sau chuyến này, tôi lại được đi một chuyến qua nhiều tỉnh từ Bình Định đến Cà Mau... thăm khoảng mười trường và trại nuôi dạy các cháu con em liệt sĩ và bụi đời.
Tôi trở về Hội năm 1983. Tôi làm Phó Trưởng ban đối ngoại của Hội và Chủ tịch Hội đồng văn học thiếu nhi của hội. Tôi về hưu năm 1995 (69 tuổi) và từ đó đến nay vẫn tíêp tục viết cho các em và cho cả người lớn.
*
Trong khoảng thời gian từ 9-1945 đến 6 –1999, tôi đã sáng tác được 25 tập thơ, 35 tập truyện, 10 kịch bản sân khấu, hoạt hình... dành cho các em. Và khoảng 10 tập thơ, 3 tập truyện ngắn và tiểu thuyết về phần viết cho người lớn. Từ các tập sách trên, đến nay các nhà xuất bản đã chọn in cho tôi bốn tuyển tập Chú bò tìm bạn (thơ), Ngựa thần từ đâu đến (truyện ngắn), Chuyện hoa chuyện quả (cổ tích mới), Nàng tiên nhỏ thành ốc (kịch) dành cho các em và Tuyển tập Phạm Hổ (đang in) gồm đủ cả hai phần viết cho thiếu nhi và viết cho người lớn...
* Tác phẩm chính
I. Sách viết cho thiếu nhi
Thơ: Chú bò tìm bạn (Tuyển tập thơ, chọn từ hơn 15 tập thơ in riêng từng tập, in lần thứ 3, có bổ sung, Kim Đồng, 1997).
Truyện: Chuyện hoa chuyện quả (toàn tập, Hà Nội, 1993).
Kịch: Mỵ Châu – Trọng Thuỷ (Kim Đồng, 1993)
II. Sách viết cho người lớn
Thơ: Những ngày xưa thân ái (Hội Nhà văn, 1956); Ra khơi (Hội Nhà văn, 1960); Đi xa (Hội Nhà văn, 1973); Những ô cửa, những ngả đường (Hội Nhà văn, 1982).
Truyện: Vườn xoan (Hội Nhà văn, 1962); Tình thương (Phụ nữ, 1973); Cây bánh tết của người cô (Hà Nội, 1993).
PH.
Phạm Hổ và thế giới tuổi thơ
Những ai quan tâm tới nền văn học Việt Nam hiện đại, hẳn đều biết tên tuổi nhà thơ Phạm Hổ. Ông là một nhà thơ chuyên viết cho thiếu nhi. Phạm Hổ chọn con đường đi vào thế giới tâm hồn trẻ thơ, ông đã có tiếng nói riêng và tình cảm đặc biệt dành cho thiếu nhi.
Với lòng yêu trẻ, yêu con người và cuộc sống thật đôn hậu, nhà thơ Phạm Hổ đến ngôi nhà của tuổi thơ - Cung Thiếu nhi Hà Nội ngay từ ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng năm 1975 đến năm 2005.
Trong suốt 30 năm vun trồng những mầm non, mặc dù tuổi cao nhưng nhà thơ Phạm Hổ không quản ngại vất vả, bất chấp thời tiết nắng mưa, bằng chiếc xe đạp mini cũ kĩ, ông miệt mài đi từ nhà (khu tập thể Bách Khoa) đến Cung Thiếu nhi vào những ngày thứ bảy, chủ nhật, để gặp gỡ tìm hiểu đời sống tâm hồn các em, dạy các em biết yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên và gợi cho trẻ có cuộc sống phong phú về vật chất, về tinh thần. Ông giúp các em những nguyên tắc sáng tạo và nghệ thuật thể hiện trong thơ văn. Với các em, ông đặc biệt quan tâm và chú ý đến tình bạn trong đời sống con người. Vì theo ông, trẻ em vốn rất khát khao tình bạn. Chỉ với bạn, các em mới thực sự có được nét đồng điệu trong hoạt động vui chơi và học tập hứng thú . Nhờ thế mà ông đã khơi dậy các em phát huy tối đa, niềm vui và sự sáng tạo trong sáng tác.
Từ tình yêu thương con trẻ, ông đã truyền những tình cảm, tình yêu đến cho tuổi thơ. Các thế hệ học sinh được ông chăm sóc đã lần lượt trưởng thành và nhiều người đã trở thành tài năng thật sự, họ mãi biết ơn sự dạy dỗ và dìu dắt của ông.
Nhà thơ Phạm Hổ mang lại cho các em một niềm vui thật sự, ông đã góp phần chăm chút, nuôi dưỡng tài năng. Thơ ông có một ví trí quan trọng cho thiếu nhi Việt Nam. |