tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
18.01.2009
Ngô Thanh Hương
Nhà xuất bản Văn học: Gặp gỡ thân mật cuối năm và Giới thiệu tác phẩm mới

Chiều ngày 16-1-2009, tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn học đã tổ chức gặp gỡ thân mật giới truyền thông đại chúng và giới thiệu tác phẩm vừa xuất bản: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam và đông đảo các nhà văn, báo thuộc các cơ quan truyền thông đại chúng Trung ương và địa phương tại Tp Hồ Chí Minh đã tới dự. Thay mặt NXB Văn học, Nhà văn Triệu Xuân, Trưởng chi nhánh NXB Văn học tại Tp Hồ Chí Minh đã nói lời cảm ơn chân thành với các bạn đồng nghiệp đang làm việc tại các cơ quan truyền thông đại chúng, trong năm qua, đã nhiệt thành cổ vũ hoạt động của NXB Văn học, góp ý chân tình về những khiếm khuyết để việc xuất bản tác phẩm văn học nghệ thuật ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu về chất lượng ngày càng cao của bạn đọc.


Tác phẩm Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp vừa ra lò, phát hành trong dịp Tết Nguyên Đán Kỷ Sửu nằm trong mạch những tác phẩm nhằm tôn vinh các danh nhân văn hóa, những người có công với văn hóa và lịch sử dân tộc, do nhiều nguyên nhân, bị bụi thời gian che lấp từ bấy lâu nay.


Cụ Trương Đăng Quế (1793-1865) là một quan đại thần, đồng thời là một danh sĩ, đóng vai trò quan trọng trong thời các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Cụ là một trong những tấm gương về nhân cách, tận tụy vì dân vì nước! Là con trai viên Tri phủ Quảng Ngãi triều Tây Sơn, ông nội cũng làm quan lớn thời Tây Sơn, vậy mà Trương Đăng Quế lại tiến thân bằng con đường khoa cử triều Nguyễn, rồi từng bước đạt tới chức quan tột đỉnh trong triều đình. Đây quả là điều đáng trân trọng trong chính sách dùng người hiền tài của triều Nguyễn!


Trong cuộc đời 44 năm làm quan (1819-1863), Trương Đăng Quế thể hiện lòng trung thành, công minh, liêm chính của mình bằng cách hết lòng với công việc triều chính. Một trong những đóng góp đặc sắc nhất chính là hoàn thành việc đạc điền và lập địa bạ trên vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng. Đây chính là một đóng góp to lớn vào công việc hoàn thiện lãnh thổ Quốc gia và phục hưng đất nước, đặc biệt với vùng đất phương Nam. Chỉ trong 5 tháng việc đo đạc và ghi chép địa bạ cho cả vùng đất phương Nam thể hiện năng lực  của Trương Đăng Quế nhờ vào một tầm nhìn xa và quan điểm cận dân của cụ .


Về mặt văn học Trương Đăng Quế còn để lại một sự nghiệp lừng lẫy. Cụ là vị Tổng tài Quốc sử quán đầu tiên, mở đầu sự nghiệp viết sử triều Nguyễn, Trương Đăng Quế chủ biên các tác phẩm đồ sộ còn lại ngày nay như là:


1. Đại Nam thực lục tiền biên.


2. Đại Nam liệt truyện tiền biên.


3. Đại Nam thực lục chính biên (đến Thiệu Trị).


5. Hoàng Nguyễn thực lục tiền biên.


6. Hoàng Nguyễn thực lục hậu chính biên.


Cụ cũng đã để lại nhiều sáng tác có giá trị văn hóa như là:


1. Quảng Khê văn tập.


2. Trương Quảng Khê văn tập.


3. Trương Quảng Khê tiên sinh tập (tức Học văn dư tập).


4. Sứ trình vạn lý tập.


5. Duyệt Giáp Thìn khoa Điện thí văn.


6. Về Diệu Liên thi tập.


7. Nhật Bản kiến văn tiểu lục.


Trương Đăng Quế là người đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước, được đông đảo giới trí thức thời bấy giờ kính trọng, tôn sùng như các vị hoàng thân Tùng Thiện, Tuy Lý, Mai Am..., các đại thần Hà Tông Quyền, Trương Minh Giảng, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đăng Giai... Đặc biệt, cụ quan tâm đến binh sĩ, hoàn cảnh sinh sống của người dân nghèo, đồng bào dân tộc ít người, người dân các vùng chịu ảnh hưởng chiến tranh, cụ thường tâu xin cho họ được hưởng điều này việc nọ, và đều được triều đình thông qua.


Có lẽ vì vậy mà giới chỉ huy quân đội xâm lược Pháp căm ghét Trương Đăng Quế. Chúng quy cho cụ tội cầm đầu phe chủ chiến đánh Pháp đến cùng, ngấm ngầm không công nhận hòa ước Nhâm Tuất 1862 (hòa ước cắt cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ), và chủ trương ủng hộ các phong trào kháng chiến của Trương Định.


Trương Đăng Quế tự là Duyên Phương(1), tên hiệu là Đoan Trai, biệt hiệu là Quảng Khê, người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cuối thế kỷ XIX, huyện Bình Sơn tách làm hai huyện, làng Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.


Trương Đăng Quế sinh ngày 01 tháng 11 năm Quý Sửu (1793), là con thứ ba, và là con trai út của Trương Đăng Phác. Năm 9 tuổi, Trương Đăng Quế mồ côi cha, là cậu bé chăm chỉ, thông minh, hiền lành nên được anh chị thương yêu đùm bọc.  Khoảng năm 25 tuổi, ông được anh chị cho đi Huế ăn học. Có lẽ là việc đi tìm thầy giỏi chốn kinh đô ôn luyện một vài năm trước khi thi.


Trong vòng 27 năm từ 1820 đến 1847, từ một nho sĩ con trai một tri phủ phe địch thời Tây Sơn, Trương Đăng Quế đã vươn đến tột đỉnh quan chức triều Nguyễn, một thành tích thật phi thường, nếu không có thực tài và được cả triều đình tín nhiệm thì không thể làm được. Hai lần liên tiếp, Trương Đăng Quế còn được vua ủy thác trọng trách trước lúc lâm chung. Một lần, chỉ riêng một mình ông được vua Minh Mệnh cho đến bên giường bệnh gởi gắm Trường Khánh công, sau này là vua Thiệu Trị. Lần thứ hai, ông cùng với Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp được Thiệu Trị gởi gắm Phúc Tuy công, về sau là vua Tự Đức.


Trong lịch sử nước ta, Tô Hiến Thành thời nhà Lý được vua Lý Anh tông gởi gắm Thái tử Long Cán, về sau trở thành vua Lý Cao Tông, nhưng cũng chỉ một lần hiếm hoi, ngoài ra không thấy có vị quan nào được tín nhiệm như thế. Có lẽ có nhưng trong những trường hợp không nổi bật, nên không được nhắc đến chăng?


Nhất định là Trương Đăng Quế đã có những đóng góp xuất sắc như thế nào đó cho triều đình nhà Nguyễn, triều đại quân chủ sau cùng của nước ta, dù có những hạn chế nhất định nhưng triều Nguyễn cũng đã chứng tỏ nhiều cố gắng hoàn thành và củng cố sự thống nhất đất nước mà nhà Tây Sơn đã tạo tiền đề.


Năm 1863, Tự Đức năm thứ 16, Trương Đăng Quế trí sĩ. Trước đây, Trương Đăng Quế 5 lần dâng sớ xin về hưu, nhưng vua cho Đăng Quế là cố mệnh lương thần của hai triều, cốt để nương nhờ, chưa nỡ tạm rời hai bên tả hữu, cho đình thần họp bàn, các quan đều xin ông ở lại. Nay vì già ốm, ông thiết tha xin về hưu, vua chìu theo ý muốn. Khi về, vua sai đình thần làm lễ đưa tiễn. Sau khi về làng, vua chi cho một nửa lương, quan tỉnh thường xuyên đến thăm hỏi. Vua lại dặn Đăng Quế là sau này có nghe thấy gì và nghĩ tính gì đến những việc lợi hại to có liên quan đến việc nước việc quân thì cho phép gởi tâu lên. Đăng Quế về rồi, vua lại ban cho bài thơ thất ngôn.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 808


Mùa xuân năm 1865, Tự Đức năm thứ 18, cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, Kinh diên giảng quan, Tuy Thạnh quận công, trí sĩ Trương Đăng Quế qua đời. Tháng trước, vua nghe tin Trương Đăng Quế bệnh, sai đưa sâm quế và phái viên thái y đến điều trị. Rồi sai tỉnh thần Quảng Ngãi đến thăm hỏi nếu có muốn nói việc gì lợi ích cho quốc kế thì sao đệ lên.


Đăng Quế thưa rằng:


“Trải thờ mấy triều tới nay, từng đội ơn tri ngộ, duyên phận đến như thế còn có gì hơn nữa. Việc trị nước, đại đoạn giảm bớt quan lại thì năm đầu Tự Đức đã trình bày cả rồi. Lại như việc dùng người, tìm người hiền, cũng đã trình bày những điều cốt yếu, tưởng không còn việc quan yếu nào nữa. Gần đây, lại đem ba việc lớn, bí mật trình bày (chép ở tháng 6 năm trước), không dám có ẩn dấu. Ngày trước có phụng họa bài thơ ngự chế có câu “ Bình sinh bội phục tiên hiền huấn, Phi đạo hà tằng cảm thượng trân”’. Sức học ngày thường của tôi chỉ được đến thế, nếu được thâu lượm để dùng, tưởng cũng không phải là không có chút bổ ích. Nay không dám trình bày điều gì khác thêm nữa”.


Tỉnh thần sao chép lời nói ấy dâng lên. Vua giao cho viện Cơ mật phụng giữ, để làm tài liệu cho sử biên sau này. Nghe tin Đăng Quế qua đời, vua Tự Đức bãi triều 3 ngày, tặng hàm Thái sư, cho tên thụy là Văn Lương, xuống chỉ cấp thêm 2.500 quan tiền tuất và gấm lụa các hạng. Lại sai đem rượu thượng phương - rượu vua dùng - và một bài thơ. Hôm chôn cất, lại sai quan đến tế và dựng bia ở mộ, đợi khi hết trở, sẽ theo lời tiền thánh cho tòng tự ở Thế miếu.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 906


Tên thụy là tên được ban trước khi nhắm mắt. Người ta thường đem tính hạnh của người ấy so sánh rồi đặt tên thụy. Tên thụy của Trương Đăng Quế được vua Tự Đức so sánh với toàn bộ cuộc đời của Trương Đăng Quế và đặt là Văn Lương.


 Vì tên thụy nào cũng bắt đầu bằng chữ Văn, nên ở đây, cần nghiên cứu chữ Lương trong từ Văn Lương. Có phải chăng Tự Đức muốn nói đó là một con người trung lương, một người lương thiện, một con người có lương tri, một con người có lương tâm?


Cũng là chuyện lạ, một viên quan sáu lần viết đơn xin về hưu, lần thứ nhất vào năm ông 58 tuổi và đến lần thứ sáu mới được toại nguyện khi tuổi đã vượt ngưỡng xưa nay hiếm, 73 tuổi, để rồi chưa tới hai năm sau thì qua đời. Sáu lần xin về hưu cách nhau 15 năm. Lý do xin về hưu là tuổi già, không còn đủ sức khỏe và sáng suốt để làm việc, nhưng vua và triều đình chưa cho ông về hưu mỗi lần mỗi lý do khác nhau.


Mùa thu năm 1855, Tự Đức năm thứ 8, Trương Đăng Quế làm tờ tâu xin nghỉ việc, đại ý nói:


“Thần ngày thường tự biết là làm chính sự không bằng Đặng Văn Thiêm, văn học uẩn súc không bằng Phan Thanh Giản, siêng năng không bằng Lâm Duy Thiếp, chất phác không bằng Tôn Thất Thường, chỉ có ra vào chầu hầu cố gắng làm việc, lâu ngày nên công. Gần đây ngày càng suy yếu không lợi gì cho việc chính sự...”.


Vua một mực ủy dụ không cho về, nói rằng:


“Ở đời những người làm quan, cố nhiên có người tự biết đủ (tri túc), biết yên nghỉ để không bị nhục, không bị nghi. Nhưng cũng có người lại cố gắng làm việc, không dám kêu khó nhọc, vì phải tùy thời mà tiến, lùi chưa từng cố định được. Nay theo như đức và vị của khanh, mà muốn xin nghỉ để được rảnh mình thì có 5 điều không nên...Trẫm đương tuổi nhỏ, kiến thức còn ít, mọi việc chưa quen, nên muốn dùng người cũ để giúp trẫm những điều trẫm không nghĩ đến được. Từ trước đến nay, phàm khanh có dâng điều hay, can điều trái, không điều gì mà trẫm không nghe theo, khanh còn ngại ngùng gì mà nỡ phụ lòng trẫm...”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 405-406


Tháng 9 năm 1855, chuẩn cho Trương Đăng Quế thôi việc ở bộ Binh, vẫn sung chức Cơ mật viện đại thần, Trước đó, Trương Đăng Quế dâng sớ xin sở viện về hưu. Vua phê vào tập tâu:


“Nay gặp lúc nước nhà gặp tai nạn, dù tuổi đã già yếu như Trần Văn Trung còn chưa nỡ bỏ, huống chi là phận nghĩa khí thức của một viên Đại học sĩ, lại muốn vin lệ nghỉ việc thì có nên không? Hãy đợi giúp ta giữ nước ”.


Trương Đăng Quế lại viết sớ tâu xin lần nữa. Vua lại nói rằng trong nước có người tài, thì nước mới vững vàng, sao nỡ khiết nhiên, làm trái ý ta lần nữa. Đình thần đều tâu là viên đại thần ấy là bậc lão thành, rất quen công việc, trí lự còn rất tinh tường, còn có thể mưu bàn việc lớn, giúp ích được nhiều.


Tháng 9, năm 1860, Tự Đức năm thứ 13, Trương Đăng Quế lúc này 68 tuổi, lại dâng sớ xin miễn chức về quê. Đại ý nói rằng:


“Từ khi Tây dương đến đây đã ba năm nay, mà ngồi trơ mặt ở triều ban, không vạch ra được một mưu chước gì để đánh lại được giặc Tây dương, tội ấy chối sao được. Lại bóng chiều đã xế, bệnh tật luôn luôn, gần tới cõi chết mà cố giữ địa vị, thực đáng hổ thẹn. Vậy xin cho về quê để nhường chỗ cho lớp trẻ”.


Vua giao cho đình thần xét nghĩ. Đình thần đều nói xin lưu Đăng Quế lại để tính toán giúp đỡ. Vua an ủi Trương Đăng Quế, bảo rằng đang có việc giặc Tây dương, nên hết sức làm việc, nếu một phút nào còn sống cũng phải nên cố gắng để báo đền ơn nước.


(Trích từ Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. Nhiều tác giả. NXB Văn học, 1-2009).


Trong cuộc gặp gỡ, giới thiệu sách Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp, các nhà báo đã phỏng vấn Tiến sỹ Lê Sơn, thay mặt nhóm tác giả biên soạn, và nhà văn Triệu Xuân, người biên tập tác phẩm, về những vấn đề vô cùng lý thú xung quanh chính sách dùng người hiền tài của Triều Nguyễn và đặc biệt là nhân cách sáng ngời của cụ Trương Đăng Quế, tấm gương tận tụy vì dân vì nước của nhà trí trức lớn Trương Đăng Quế.


 


 








(1) Xin thống nhất tên tự này, vì có người đọc sai âm, tối nghĩa.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »