tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
16.09.2016
Hữu Đạt
Xung quanh vấn đề dạy chữ Hán ở trường phổ thông


Trao đổi với ông Chu Mộng Long

Trước hết, tôi cảm ơn ông Chu Mộng Long đã quan tâm đến bài trả lời phỏng vấn của tôi. Để  rộng đường cùng bạn đọc suy ngẫm, tôi có vài lời thưa lại như sau:


 Khi nói đến việc dạy tiếng - tức dạy bất kỳ ngôn ngữ nào người ta cũng bàn đến tính khoa học. Chẳng hạn, khi dạy tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp hay bất cứ thứ tiếng nào khác, người ta cũng phải lựa chọn xem dạy cách nào  có hiệu quả nhất. Chẳng hạn, từ trước đến nay, riêng việc dạy tiếng Anh, người ta đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận để đánh giá hiệu quả của các giáo trình dạy theo các phương pháp khác nhau. Phương pháp dạy nghiêng về ngữ pháp, người ta gọi là phương pháp truyền thống, còn dạy nghiêng về giao tiếp người ta gọi là phương pháp dạy tiếng hiện đại. Khi thảo luận về các mặt ưu và nhược điểm của mỗi phương pháp này, người ta dựa trên các tiêu chí được đưa ra và coi đó là cơ sở khoa học.


Như vậy, khi bàn đến việc dạy chữ Hán ở trường phổ thông, tôi coi đề xuất được đưa ra là không có cơ sở khoa học vì có nhiều lẽ. Trong đó, cái lẽ đầu tiên cần bàn là những người đề xuất chủ trương trên hiện chưa chứng minh được việc dạy chữ Hán có liên quan gì đến việc học và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Họ lại càng chưa chứng minh được: nếu biết chữ Hán thì nói và viết tiếng Việt sẽ đúng hơn, hay hơn (so với người không học chữ Hán). Một đề xuất- kéo theo là một dự án (thậm chí siêu dự án) mang cấp chiến lược của quốc gia mà chưa xây dựng được luận chứng để thuyết phục người ta về mục đích và kết quả tốt đẹp của nó thì rõ ràng chẳng phải là thiếu cơ sở khoa học là gì? Vậy mà ông nói tôi “nhân danh khoa học…” cứ như là tôi muốn giành giật miếng cơm manh áo của ai đó? Thật nực cười! Ý kiến ông quả là rất hàm hồ, thiếu tinh thần khách quan học thuật mà hằn học phách lối, rất khó chấp nhận.


Ông chất vấn tôi: “Lấy một vài hiện tượng ông đã “thấy” rồi khái quát đó như là một “tác hại khôn lường” thì tôi cũng có thể dẫn ra hàng ngàn những ông, những bà rất giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp nhưng viết tiếng Việt cực kém! Ông nghĩ sao?”. Thú thực tôi không tin lắm vì theo tôi, một người rất giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp có thể không giỏi tiếng Việt nhưng không thể cực kém tiếng Việt. Việc giỏi tiếng Việt hay không còn phụ thuộc vào năng lực của từng người cụ thể. Bởi vậy, khi trả lời phỏng vấn, tôi đã nói rõ là “đa phần các bạn học Hán Nôm viết tiếng Việt kém hơn các bạn học các thứ tiếng như Anh, Nga, Pháp…”. Nhận xét này của tôi là một thực tế đã được kiểm nghiệm, dựa trên các bài kiểm tra giữa kỳ và khi hết môn học của hàng ngàn lượt người chứ không phải là “một vài hiện tượng” như ông khẳng định. Mặc dù vậy, muốn có cơ sở khoa học thực sự thì vẫn phải tiến hành điều tra xã hội học và thống kê nhiều hơn nữa mới có thể nêu ra một kết luận có tính khoa học. Một nhận xét về các hiện tượng thực tế chưa phải là kết quả của một công trình nghiên cứu khoa học mà Chu Mộng Long đặt vấn đề phê phán là chả hiểu gì cả. Ông lại càng lầm lẫn khi viết “lấy một vài hiện tượng để khái quát nó thành tác hại khôn lường”. Ở đây, tôi không hề coi cái hiện tượng kia là “tác hại khôn lường”. Cái “tác hại khôn lường” của việc đưa tiếng Hán vào dạy ở phổ thông thể hiện ở những điểm khác tôi đã nêu trong bài trả lời phỏng vấn. Xin thưa lại với ông Long như sau:


- Hiện nay, con em của chúng ta đã quá sức chịu đựng vì phải học một chương trình rất nặng nề (so với các nước khác). Nay cần phải tính sao để giảm thiểu bớt chương trình chưa được lại nhồi cho học sinh một cái môn học chẳng có ích lợi gì thiết thực (về nhiều mặt). Thế chẳng phải là đem trẻ thơ ra làm cuộc thí nghiệm hay sao? Tác hại quá đi chứ. Nó làm hao tổn sức lực và trí tuệ của nhiều thế hệ trẻ sao không gọi là tác hại? Khi đề xuất trên vừa mới đăng tải trên báo thì đã có bao nhiêu phụ huynh ở các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội nháo nhác lên rồi, huống hồ nếu đem áp dụng thì chẳng những gây ra nỗi lo cho các bậc phu huynh mà còn gây ra nỗi lo cho cả xã hội nữa!


- Để thực hiện được một dự án như thế, chắc chắn phải có vài trăm ngàn tỷ đồng, trước hết dùng để đào tạo đội ngũ giáo viên. Mà để đào tạo một đội ngũ có đủ trình độ đứng giảng dạy tiếng Hán trên lớp ít nhất cũng phải 4-5 năm. Đó là chưa kể nếu yêu cầu cao thì một người giỏi tiếng Hán thực sự chí ít cũng phải học từ 7 đến 10 năm. Sẽ có biết bao công của đổ vào đó? Thứ nữa, chủ trương này nếu thực hiện, biên chế giáo dục sẽ tăng lên không nhỏ. Từ cấp tiểu học lên trung học phổ thông có 12 khóa. Mỗi khóa ở mỗi trường lại có bao nhiêu lớp? Đội ngũ giáo viên này phình ra sẽ là một con số khổng lồ trong khi ta đang loay hoay với kế hoạch “tinh giảm biên chế”. Như thế chẳng phải là mâu thuẫn về đường lối, chủ trương ư? Chẳng phải ta tự chuốc lấy những tác hại quá lớn là gì? Hơn nữa, để tiến hành dạy tiếng Hán theo kiểu đại trà như vậy lại phải đầu tư tiền của để xây dựng thêm phòng ốc. Chưa kể người học chữ Hán xong sẽ sử dụng vào việc gì??? Học các sinh ngữ (kể cả tiếng Trung hiện đại) còn có thể làm việc trong các công ty liên doanh, phiên dịch… nhưng học cái chữ Hán cổ xong rồi thì biết làm gì đây? Nội dung tôi giải đáp vấn đề là rất rõ ràng, nhưng ông Chu Mộng Long cố tình gán ghép ý nọ sang ý kia để ngụy biện nhằm phê phán với mục đích xảo thuật. Nếu bạn đọc tinh ý sẽ nhận ra ngay cái đuôi con thò lò của ông thực chất là đang cổ súy, vận động cho một “lộ trình”… mà tôi chẳng cần nói thêm mọi người cũng hiểu!


Bài viết của ông Chu Mộng Long chẳng những thiếu thiện chí về tinh thần, thái độ mà còn bộc lộ sự quá non kém, ấu trĩ về tri thức, trình độ chuyên môn và khả năng tư duy triết học. Ông viết: “Xem ra, việc giữ gìn sự “trong sáng” (*) của tiếng Việt, như tôi đã nói, không hề phụ thuộc vào cái gì ngoài chính nó”. Viết như vậy, chứng tỏ ông chẳng hiểu gì về các khoa học lịch sử, triết học, chính trị… Xin thưa, sự trong sáng của tiếng Việt nói riêng và của các ngôn ngữ nói chung không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của hệ thống ngôn ngữ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Vị trí độc lập của một dân tộc, chính sách ngôn ngữ của Nhà nước… Xin hỏi ông: Nếu năm 1945 chúng ta không giành được độc lập thì liệu tiếng Việt có được địa vị như hiện nay không? Hàng ngàn năm chịu cảnh đô hộ của phương Bắc và gần 100 năm bị ách đô hộ của thực dân, tiếng Việt luôn ở địa vị thấp kém (bị trị) và không được chọn làm ngôn ngữ chính thức trong giao tiếp hành chính quốc gia. Nhờ sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, chúng ta đã giành lại non sông, đem nền độc lập về cho dân tộc. Tiếng Việt vì thế mới có cơ hội giành lại vị trí chính thống, có tư cách trong giao tiếp hành chính nhà nước, trong giáo dục và giao dịch quốc tế. Cùng với việc khẳng định vị trí to lớn của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách ngôn ngữ để giữ gìn sự trong sáng và phát triển. Phát biểu như ông chẳng những là nói liều, bạt mạng, bất chấp tất cả mà còn là sự bội bạc trắng trợn với các thế hệ đi trước đã có công trong việc giành lại vị trí và chăm lo cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (để tránh phát biểu bừa bãi về vấn đề này, ông nên đọc một số công trình của GS.TS Nguyễn Văn Khang “Ngôn ngữ học xã hội” (Nxb Giáo dục, 2012) và “Chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, 2014) và một số luận án nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ trong các quốc đảo vùng Đông Nam Á đang lưu giữ tại các thư viện).


Sự non kém trong vốn học của ông còn bộc lộ ở chỗ, trong một bài viết ngắn mà ông lẫn lộn rất nhiều thuật ngữ và khái niệm cơ bản của tri thức khoa học. Thưa ông, kí tự và chữ viết là các khái niệm hoàn toàn khác nhau. Vì u u minh minh trước những khái niệm này nên ông viết Ông xem “chữ Hán là chữ của người Hán” cũng là một hiểu biết thiển cận, không khác định kiến của những người bình thường”. Quả là một cách tư duy quá kỳ quặc. Chữ Hán chẳng của người Hán thì của ai? Của một khu vực như ông nghĩ sao? Đó là khu vực nào? Khu vực sông Hoàng? Khu vực châu Á hay Đông Bắc Á??? Ông viết như thế không sợ thế giới họ cười khi nhìn vào trình độ của một nhà Hán học của nước Việt ta à? Để bạn đọc rõ thêm cái lối nói bạt mạng của ông Chu Mộng Long, tôi xin thưa: Các loại chữ viết cùng được xây dựng theo hệ chữ cái Latin (trong bài viết ông Long gọi là kí tự), nhưng không bao giờ nó là cái của khu vực như ông Long nghĩ. Chữ quốc ngữ được tạo ra trên cơ sở hệ chữ cái Latin để ghi âm tiếng Việt đích thị là của người Việt rồi. Cũng như vậy, cũng được xây dựng theo hệ chữ cái Latin, nhưng chữ của người Pháp là của dân tộc Pháp, chữ của người Anh là của dân tộc Anh. Vì rất lơ mơ và không hiểu được nội hàm của các khái niệm khoa học nên ông Long nói lung tung, rối mù chẳng đâu vào đâu cả. Ông đặt ra câu hỏi quá đỗi ngô nghê: “Nói vậy thì theo ông Đạt, chữ của người Việt thực sự là chữ gì? Chữ “con giun” cổ như nhiều người giả thiết hay là chữ Latin hiện nay?”. Một nhà Hán học như ông mà không hiểu được chữ viết của dân tộc mình là gì thì không phải là “Lạ” mà là “quái đản” ông ạ! Thưa ông: Chữ của người Việt không phải là “chữ Latin hiện nay” như ông nghĩ. Chữ của người Việt là chữ quốc ngữ, được xây dựng theo hệ chữ cái Latin. Đây là loại chữ ghi âm được hình thành từ thế kỷ XVII do một số giáo sĩ phương Tây và các thầy dòng người Việt tạo ra (ông có thể đọc một số công trình viết về lịch sử ra đời chữ quốc ngữ, chẳng hạn cuốn “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659” của Đỗ Quang Chính do Nxb Tôn giáo ấn hành năm 2008). Ngược dòng lịch sử, người Việt còn có chữ Nôm là loại chữ do các nho sĩ phong kiến chế tác dựa trên nguyên liệu chữ Hán. Vì nó là chữ của người Việt nên người Hán, dù giỏi đến đâu nếu không học chữ Nôm cũng không thể đọc và hiểu được nó. Nếu tiếp tục đi ngược thời gian thêm nữa xem người Việt có loại chữ gì thì phải chờ kết quả nghiên cứu của nhiều ngành: Ngôn ngữ học, Sử học, Khảo cổ học… ông ạ.


Trong bài trả lời phỏng vấn, không có chỗ nào tôi coi tiếng Hán phồn thể là tử ngữ cả. Ông Long đọc bài đã chẳng hiểu gì lại còn cao đạo phê phán người khác theo cách tư duy ông đồ làng (lúc nào cũng tưởng mình là nhất thiên hạ nên chưa đọc kỹ người khác đã phê người ta: kiến thức lỗ mỗ). Tôi chỉ coi chữ Hán cổ mà nhiều người đang muốn đưa vào chương trình tiểu học ở nước ta là tử ngữ thôi. Đó là quan niệm đúng đắn vì nếu chữ Hán cổ không phải là tử ngữ thì tất phải là sinh ngữ. Người Việt có ai dùng chữ Hán để giao tiếp đâu? Khi phát biểu về vấn đề này, ông Long đã không phân biệt được khái niệm chữ viết với tư cách là một phương tiện biểu hiện của ngôn ngữ với khái niệm ngôn ngữ. Vì bài viết chỉ có giới hạn nên tôi không có thời gian để phân tích thêm. Muốn hiểu rõ các khái niệm này, xin ông tìm đọc cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F.d Sausure để nắm được những đặc điểm cơ bản của tín hiệu ngôn ngữ trước khi làm cái gọi là “trao đổi ý kiến” (cuốn này đã được dịch sang tiếng Việt từ gần nửa thế kỷ nay). Hoặc ông có thể đọc cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” (tập I, II) của Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán… Chứ cứ như thế này, tôi phải giải thích cho ông từng khái niệm sơ đẳng nhất thì mất thời gian quá!


Dù loanh quanh thế nào, cuối cùng cái đuôi con thò lò của ông Long vẫn lộ ra khi ông viết: “Ngay cả học để phát triển thì cũng không đồng nghĩa với một sự phát triển không nền tảng, cắt đứt hoàn toàn với cội nguồn. Sự thật Nhật, Hàn, hay bất cứ quốc gia nào phát triển bền vững cũng đều dựa vào nền tảng, cội nguồn cả đấy. Chỉ có ăn xổi ở thì mới bất chấp những gì vốn có. Mà ăn xổi ở thì thì thưa ông, không cần phải học đâu ạ!” Không cần phân tích bạn đọc cũng hiểu ông Long đang tự mâu thuẫn với tuyên ngôn của mình ở đầu bài viết và đang hết sức nhiệt liệt cổ súy cho việc dạy chữ Hán ở phổ thông. Việc ủng hộ, tung hô hay phản đối là quyền của ông tôi không bàn, nhưng xuyên tạc tư tưởng của người khác thì không được ông Long ạ. Trong bài trả lời, tôi đã nói khá kỹ. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh thêm: Không thể mù quáng tới mức nô dịch, mông muội và điên rồ là phải học chữ Hán mới không cắt đứt hoàn toàn với cội nguồn và không thành kẻ ăn xổi ở thì theo cách lập luận ngớ ngẩn của ông Long. Thưa ông, để xây dựng một lập luận có tính thuyết phục, ông cần đọc thêm các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp và các công trình nghiên cứu về lô gich học, lô gich hình thức của Bùi Thanh Quất, Nguyễn Đức Dân… Chứ ông viết như vậy, thiên hạ họ buồn cười về cái sự ngô nghê của ông lắm lắm!


Từ bài trả lời phỏng vấn lần trước đến bài này, trước sau tôi vẫn khẳng định: Học chữ Hán là cần thiết và chỉ cần thiết với những ai thích đi vào chuyên ngành Hán Nôm và những người say mê với loại chữ này. Nó hoàn toàn không cần với học sinh phổ thông. Cái cần với học sinh là từ Hán Việt chứ không phải chữ Hán. Nếu ông Long cổ súy việc đó, ông cần trả lời cho rõ: dạy chữ Hán ở phổ thông là dạy ngoại ngữ hay dạy ngôn ngữ của dân tộc Việt với tư cách là công cụ tư duy hay là ngôn ngữ thứ 2?


Sự liều lĩnh, bạt mạng của ông Chu Mộng Long còn thể hiện ở nhiều nhận định bừa bãi. Ông viết: “kí tự hay chữ viết chỉ là kí sinh của ngôn ngữGiới ngôn ngữ học không ai không biết điều này, trừ ông Đạt? Đọc câu này, tôi càng thấy cái phương pháp tư duy kiểu “ông đồ làng” của nhà Hán học Chu Mộng Long là rất buồn cười. Xin thưa ngay: Trong giới ngôn ngữ (không phải riêng tôi) không ai ngớ ngẩn hiểu chữ viết chỉ là kí sinh của ngôn ngữ như ông nghĩ đâu. Ông nói thế là chụp mũ bừa cho họ. Nếu các nhà ngôn ngữ học trên thế giới mà đọc được câu này thì có lẽ họ cười vỡ bụng vì sở học của bậc Hán học nước Nam như ông mất. Để hiểu thêm điều này, ông nên tìm đọc cuốn sách dạy cho sinh viên năm thứ nhất đại học. Đó là cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”(lúc đầu có tên là Khái luận ngôn ngữ học) mà bộ môn chúng tôi biên soạn từ năm 1960. Sau này, cuốn sách đó đã được một số thành viên trong tổ bổ sung nhiều lần.


Nếu trao đổi lại tất cả các ý mà ông Long nêu ra thì còn nhiều lắm. Trước khi kết thúc, tôi muốn bạn đọc lưu ý đến một điều liên quan đến việc dạy và học tiếng Việt mà ông Long nêu: “Nhiều người không cần học chữ, và phải nói thêm, không cần học cái món ngữ pháp cấu trúc với cụm chủ vị, thành phần câu mà mấy ông Việt ngữ học như ông Đạt lâu nay bắt học sinh học từ tiểu học lên đến đại học ấy, họ vẫn nói lưu loát và hết sức trong sáng”. Ở đây, ông Long hoàn toàn không hiểu gì về đặc điểm ngôn ngữ ở các phong cách chức năng. Bởi, sử dụng một ngôn ngữ đương nhiên phải bao gồm các kỹ năng: nói, viết, nghe, đọc, hiểu. Một người không học chữ nhưng có thể nói năng lưu loát là nhờ năng khiếu và học theo kiểu truyền miệng. Đó là học các mẫu câu mà người đi trước đã dùng trong đó có không ít các câu do những người có chữ dạy cho. Học theo kiểu này rất hạn chế về phát triển năng lực tư duy, chính vì vậy từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam ta vẫn coi trọng đạo học và tôn xưng những người làm thầy. Là nhà Hán học chẳng lẽ ông không biết câu thành ngữ “không thầy đố mày làm nên” hay câu ca dao “Muốn sang thì bắc cầu kiều/Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” mà lập luận mâu thuẫn lung tung như vậy ???. Đó là chưa kể ông buộc tội chúng tôi “cái món ngữ pháp cấu trúc với cụm chủ vị, thành phần câu mà mấy ông Việt ngữ học như ông Đạt lâu nay bắt học sinh học từ tiểu học lên đến đại học ấy”. Đọc xong câu này tôi cứ ngẩn ra vì không biết ông Long quá hồn nhiên nên đã phát biểu giống như một học sinh lớp 3 hay là do ông lú lẫn nữa? Thưa ông, mấy nhà Việt ngữ và tôi làm sao đủ quyền bắt người ta học “cái món” ấy từ tiểu học đến đại học! Đó là chủ trương của Nhà nước đấy chứ. Nếu ông thấy nó vô ích thì cứ nêu ý kiến đề nghị Bộ Giáo dục, Chính phủ, Quốc hội bỏ đi. Việc gì phải kéo chúng tôi vào để ngụy biện, đánh lừa thiên hạ? Cứ theo cách tư duy của ông, tôi có thể coi đây là sự vu khống và đưa ông ra tòa!


Thưa ông Chu Mộng Long! Xin lỗi ông, sau bài viết này dù ông có công kích thế nào chăng nữa, tôi cũng xin phép không hồi đáp lại. Đây là bài duy nhất và cuối cùng tôi trao đổi với ông. Vì lẽ gì, chắc ông đã rõ!


Trước khi ngừng lời tôi đề nghị ông một việc: Trong các bài viết của tôi, khi nêu ra bất cứ hiện tượng nào tôi đều có dẫn chứng cụ thể về người, địa chỉ cụ thể có liên quan đến sự việc. Nay đề nghị ông chỉ rõ cho tôi và bạn đọc được biết:


1.     Ai là người rất giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp lại hết sức kém tiếng Việt?


2.     Ông nói: Giới ngữ học ai cũng hiểu chữ viết chỉ là kí sinh của ngôn ngữ. Xin ông nêu tên cụ thể một hoặc hai người làm ví dụ?


Ngoài ra, để ghi chú thêm, tôi xin thưa cùng bạn đọc: tại bài viết của ông Chu Mộng Long, tôi lại có thêm một ví dụ sinh động về ảnh hưởng của Hán học với tư duy tiếng Việt. Cụ thể, cuối bài viết của ông Chu Mộng Long có một chú thích được ghi “Bài phát ngôn của PGS Nguyễn Hữu Đạt trên Soha: PGS nói về đề xuất dạy chữ Hán: “Sao bắt con em ta học tử ngữ?”. Ai hiểu tiếng Việt cũng thấy ngay cách dùng “bài phát ngôn” là thiếu chuẩn mực rồi. Trước hết, nhà Hán học Chu Mộng Long không hiểu đúng thể loại bài viết này. Xin thưa: Đây là bài trả lời phỏng vấn báo chí chứ không phải là “bài phát ngôn”. Muốn chỉ ra đúng thể loại của nó, xin ông đọc các công trình nghiên cứu về phong cách, thể loại và ngôn ngữ báo chí của các tác giả như Đức Dũng, Dương Xuân Sơn, Nguyễn Đức Dân, Vũ Quang Hào… trong đó có cuốn “Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật” của Dương Xuân Sơn, “Các thể ký báo chí” của Đức Dũng…. Còn riêng cái tổ hợp “bài phát ngôn”, bạn đọc không cần nghĩ lâu cũng thấy ngay nó là cái thứ tiếng Việt lủng củng của nhà Hán học Chu Mộng Long rồi. Vì “bài” cũng chính là một văn bản, một diễn ngôn, một phát ngôn. Vậy, dùng “bài” thì không cần thêm “phát ngôn” và ngược lại. Để có thể dùng các khái niệm như phát ngôn, diễn ngôn, văn bản… một cách chính xác, xin ông Long đọc thêm các công trình nghiên cứu về ngữ pháp văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán của các GS Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa... Vì trong bài viết của ông có quá nhiều lỗi nên tiếp tục phân tích sẽ mất rất nhiều thời gian. Đề nghị ông đọc các cuốn: “Tiếng Việt văn Việt người Việt” của Cao Xuân Hạo (Nhà xuất bản trẻ 2001), “Viết nhịu” của Sái Phu (Nhà xuất bản trẻ 2005), “Từ câu sai đến câu hay” của Nguyễn Đức Dân (Nhà xuất bản trẻ 2013)… để tự kiểm tra chính mình. Trong bài viết, ông nói thiên hạ biếng học, vậy mà tôi thấy ông chẳng chịu đọc ai cả. Nếu ông chịu khó đọc, dù chỉ một vài cuốn thôi, thì trong bài viết của mình sẽ không có quá nhiều lỗi trầm trọng như vậy!


Kính chào ông!


 



Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »