tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
04.10.2018
Tư liệu
Rừng trong trường ca “Rừng cổ tích” của Đặng Bá Tiến


Bài của Lê Vĩnh Tài


Khi nhiều thứ trong cuộc đời đã hóa thành cổ tích thì tôi được đọc trường ca Rừng cổ tích của nhà báo – nhà thơ Đăng Bá Tiến, nối dài thêm những cái tên của các nhà thơ đương đại viết trường ca về vùng đất Tây Nguyên.


Có những cái tên mang âm hưởng của sự cảnh báo và dự đoán, nhưng cái tên của trường ca này không mơ hồ như thế, mà là sự thật đến phũ phàng của Tây Nguyên hôm nay. Chữ RỪNG chùng xuống nghẹn ngào và CỔ TÍCH vút lên lần cuối cho sự mất Rừng ở xứ sở nổi tiếng một thời khi chiều xuống loang đầy Rừng lạnh. Trước & sau trường ca này, RỪNG còn ám ảnh bao nhiêu nhà thơ nữa trong vang vọng của chữ và dự đoán của thi sĩ? Chữ CỔ TÍCH không những làm tính từ, bổ nghĩa cho chữ RỪNG mà còn phải bổ nghĩa cho bao nhiêu điều/thứ/cái nữa chúng ta đành buông tay để mọi thứ thành cổ tích giữa thế kỷ 21 này?


Ám ảnh RỪNG chạy xuyên suốt 10 chương của trường ca. RỪNG là cánh cửa mở ra, cũng chính là cánh cửa để khép lại, nhưng không kết thúc mà hướng người đọc đến những cảm xúc khác. Sự đau đớn vì con người đã tàn phá một vùng thiên nhiên hùng vĩ đến cạn kiệt cứ xoáy mãi vào lòng người đọc hôm nay. Tiếng dội của nó còn âm vang ở bên ngoài tác phẩm, tê dại.


Rừng cổ tích có 10 chương, 2 chương cuối HỒI TƯỞNG & VĨ THANH có dung lượng nhỏ nhắn như một bài thơ trữ tình mà tác giả hóa thân thành nhân vật “ANH” của câu chuyện trữ tình để khép lại sự đau đớn và tuyệt vọng, ánh lên lần cuối sự lạc quan mà ít người làm thơ hôm nay vẫn còn giữ được:


CHƯƠNG IX: HỒI TƯỞNG


Mười năm


rồi… ba mươi năm trôi


đêm nay anh ngồi bên dòng Sê Rê Pôk


mẹ thương anh héo lòng


đã về cùng cái đất


H’Lan chờ anh tóc đã sợi trắng, sợi xanh


30 năm


đám cưới chưa thành


sống giữa thời bình mà thời gian hẹp quá


người chờ đợi vẫn ngồi mòn bậc đá


nửa trái tim anh vẫn thao thức nỗi Rừng…


30 năm anh nào có phút dừng


mà chẳng kịp tới hôn trường khi son trẻ


mà chẳng kịp làm vui lòng mẹ


mẹ ơi


mẹ thương con xin thương cả những dại khờ…


CHƯƠNG X: VĨ THANH


Từ ấy


giữa Rừng Bản Đôn có căn gác đơn sơ


vợ chồng người gác Rừng sống với lá hoa, muông thú


cổ thụ chín tầng cành, xòe ô che chở


mỗi ban mai chim hát, múa quanh nhà


mỗi chiều tà


tù và lại rúc lên bổng trầm tha thiết


cây nghe tiếng tù và xanh biếc, đầy hoa


chim nghe tiếng tù và lời ca thêm thánh thót


voi nghe tiếng tù và ngà mọc dài thêm…


Rừng Bản Đôn nổi tiếng linh thiêng


mấy thế kỷ sau tiếng tù và còn vọng


giữa Rừng đêm lúc trầm lúc bổng


như ru cây, ru muông thú ngủ yên lành


như người gác Rừng chưa khuất


vẫn cầm canh


giữ cho Rừng bình yên mãi mãi!


Tám chương còn lại “RỪNG” & “ANH” thay nhau là nhân vật của cảm xúc thẩm mỹ. Cái mà nhà thơ tìm kiếm vẫn nằm trong mạch kể chuyện của một trường ca cổ điển, nhưng nó lôi cuốn chúng ta bởi tiết tấu, vận tốc của chữ, cú pháp, cách diễn đạt… Tất cả đều tràn đầy nồng nhiệt của một người yêu Rừng như con trai yêu người Mẹ. Những cơn sóng dồn dập từ lúc:


Ấy là những đêm hành quân


được chợp mắt trong hương Rừng


trong tiếng suối ru


trong bàn tay vuốt ve của lá


anh đã mơ…


Một chút binh đao khói lửa chiến tranh được gợi lại làm đề từ:


hết Tây Nguyên


tràn về Bình Phước, Đồng Nai


anh đi


nhưng tâm trí tình yêu ở lại


với cánh Rừng bạt ngàn


dòng sông thác trắng, hùng vĩ, mộng mơ


Để cuối cùng “ANH” trở lại “RỪNG”:


anh tự dặn mình phải trở lại nơi đây


trở lại với điệp trùng Rừng cây


trở lại với những mùa lễ hội


những mùa săn voi


những đêm ăn trâu


những ngày cúng thần bến nước, cúng thần cây đa


những đêm rượu cần mềm môi


những ngày tìm ong


những ngày lấy măng


những mùa trỉa bắp…


Sẽ trở lại nơi này


sống chết với đất này


anh nguyện với lòng anh!


Những biến tấu này không có gì khác hơn là tình yêu cháy bỏng với RỪNG, là tiếng gọi tha thiết: RỪNG ƠI…


Tám chương còn lại, số 8 tình cờ hay nhà thơ cố ý, để 8 cuộc ganh đua về âm thanh và chữ nghĩa chạy theo nhau suốt từng chương, cả khi nhà thơ thương quê mới ngẫu hứng nhớ về quê cũ:


ngả nghiêng với nỗi nhớ quê


dẫu làng Chùa nơi anh cắt rốn, chôn nhau tháng tám  ngày ba sống nhờ đọt mưng, khoai chạc


nỗi nhớ mẹ cồn lên như ghềnh như thác


năm nay mẹ đã bảy mươi tròn


ngày anh đi đã nửa đầu tóc bạc


giờ mẹ còn ngồi vuốt ngực đợi chờ anh?


người yêu giờ đã lỡ tuổi xuân xanh


đã lấy chồng?


hay còn chờ anh thì khổ


ngày chia tay cả nụ hôn cũng vội vàng dang dở


dang dở cả ngàn đêm


không tròn giấc ngủ…


Cắt ngang những tâm sự ấy, nhà thơ trở lại với ám ảnh truyền kiếp của RỪNG. Rõ ràng RỪNG quyến rũ nhà thơ hơn cả, kéo “ANH” vào những con chữ, đôi khi làm “ANH” quên kể chuyện với những thi hứng bất ngờ. Tình yêu, và bây giờ là sự tuyệt vọng khi RỪNG đã mất, là điểm xuất phát và cũng là cái đích của “ANH”. Nhưng quan trọng nhất, những tình cảm ấy rất cổ điển, rất thơ.


“ANH” làm trung tâm thì “RỪNG” làm đối trọng, cả hai thay nhau vị trí như người đang soi gương, gặng hỏi, tha thứ, đau đớn, trách móc, những khía cạnh nhỏ nhất, vô định nhất của tâm hồn nhà thơ. Không phải ngẫu nhiên mà nhà báo – nhà thơ Đặng Bá Tiến rất say mê chụp ảnh, vì “ANH” luôn luôn muốn ngắm nhìn thế giới xanh biếc, ngắm nhìn “RỪNG” qua ống kính của mình, ống kính tâm hồn và ống kính nghệ sĩ. Con đường làm anh chọn lựa vùng đất này và cũng là con đường để anh dấn thân thành nghệ sĩ, tìm những khúc quanh của đời mình, lý giải hành trình đến với thơ ca và nghệ thuật.


Một chi tiết thú vị khi anh cho câu hát ay-ray và câu ví dặm hợp hôn với nhau, như máu của chàng trai Xứ Nghệ chảy trong tim của cô gái Ê Đê, như RỪNG gặp BIỂN, như Lạc Long Quân gặp Âu Cơ trong truyền thuyết lãng mạn sinh ra dân tộc. Cuộc tình ảo hay thật này đã làm cho hai nền văn hóa lồng vào nhau, như người nghệ sĩ hàng ngày soi gương và tự vấn. Nó là âm hưởng của những phản chiếu, những thay đổi của chính Tây Nguyên những tháng ngày này:


Ôi câu ay-ray


ôi câu ví dặm


ta muốn rước về ở chung một buồng tim


ta muốn đưa về ở chung một bếp


ta muốn chiều chiều ngồi trên bến nước


nghe khúc ay-ray và nghe câu ví dặm ân tình


ta muốn đứa con yêu thương của ta được ru bằng câu


ví dặm của cha


được nựng ngọt ngào bằng lời ay-ray của mẹ


nó sẽ lớn lên với vóc hình dũng sĩ


có tâm hồn thiết tha như câu ví


và nồng nàn mơ mộng như điệu ay-ray


RỪNG đã mất. Nhưng thời gian và ám ảnh liệu có còn? Và đó là sự níu giữ của trường ca với những suy nghĩ về hiện tại đang diễn ra, hoang mang vì sự ngắn ngủi, mong manh… gần như không tồn tại của nó. Điều đau xót đến vô lý này đã xảy ra ở Tây Nguyên, và đã lấy đi của chúng ta một trong những vùng Rừng đẹp nhất, RỪNG CỔ TÍCH và không biết bao nhiêu chữ nghĩa đã đổ xuống còn hơn nước mắt Nữ Thần Mặt Trời, để kêu cứu và tuyệt vọng cùng RỪNG.


RỪNG đã mất. Nhưng ký ức về RỪNG thì sẽ còn mãi mãi trong thơ ca, trong nhiếp ảnh và nghệ thuật của những nghệ sĩ bám trụ ở vùng đất này như Đặng Bá Tiến, để giữ lại những ánh sáng văn hóa, bập bùng mãi không thôi. Bằng cách thắp lửa như vậy, nhà thơ đã chạm tới những kỷ niệm thiêng liêng, những nguyên lý riêng bí hiểm nhất, cuồng dại nhất, đau đớn nhất…


*


Đương nhiên, những tập thơ hay nhất là những tập thơ ảo, nhưng chúng ta cần những tập thơ thật sự và có ích hơn là cứ mong chờ tuyệt vọng một tập thơ đẹp nhất chưa bao giờ viết ra. Điều quan trọng nhất là tình yêu. Bằng tình yêu, nhà thơ đã không ngừng ươm mầm cho thơ, cho cuộc đời, cho tương lai… để vùng đất này luôn xứng đáng với tên gọi: Một vùng sử thi.


Với những chuyện Khan chưa bao giờ dứt bên bếp lửa nhà dài và bây giờ là những trường ca, Tây Nguyên đang là vùng đất của hạnh phúc, vì nền văn học đa dân tộc, đa màu sắc, đa văn hóa đang hiện hữu và múa hát tại đây, quanh ché rượu cần này, những lời yêu này và đang chảy trong máu…


Phố Núi, ngày có người về xứ biển


Tháng 8 – 2012


Lê Vĩnh Tài


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »