tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
17.02.2020
Nhiều tác giả
3 bài về Liệt sỹ nhà báo, nhà văn Bùi Nguyên Khiết



Bùi Nguyên Khiết và tình yêu cuộc sống


Quê ở Ninh Bình, nhưng lại sống đến hơi thở cuối cùng ở miền biên giới phía Bắc của Tổ quốc, Bùi Nguyên Khiết không chỉ là nhà văn, nhà báo mà còn là một chiến sĩ đích thực, chiến đấu và hy sinh anh dũng ngay trên chiến hào...


ảnh 1


Bùi Nguyên Khiết (trái) trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc 1979


“Nhức đầu thì uống Sê-đa”


Tập trung về học lớp “Bồi dưỡng những người viết văn trẻ” khóa 7 (1974-1975) tại Quảng Bá - Hà Nội, do Hội Nhà văn tổ chức, tôi mới biết Bùi Nguyên Khiết.  Hồi đó, anh em sống rất khổ. Nói chung là ai cũng nghèo. Chiêu đãi nhau hậu hĩnh lắm, chỉ kẹo lạc, kẹo dồi, chén rượu “cuốc lủi”, lạc rang. Nhưng đặc biệt, sống rất vui và tếu. Những học viên của khóa 7 lúc bấy giờ ai cũng nhớ đến Khiết với mái tóc dày, miệng cười tươi, pha trò cực kỳ duyên. Khiết tự biên bài hát về người thợ, hoặc cũng có thể anh sưu tầm trong dân gian, trong đó có câu: “Anh với em xì và gò. Xì và gò. Tình tang tang, tính tang tang tang!” Xì, là thợ hàn xì. Gò, là thợ gò. Hai nghề này vốn là "cặp bài trùng" trong các xưởng cơ khí. Khiết còn có một kho tiếu lâm với các câu thơ nhại Bút Tre. Tôi chỉ còn nhớ được một câu, đại ý: “Nhức đầu thì uống Sê-đa/ Đau bụng thì cứ Té-ta-xì-lìn”. Thời ấy đơn giản chỉ thông dụng hai loại thuốc Sê-đa chữa nhức đầu và Tê-ta-xi-lin là loại kháng sinh chữa “bách bệnh”. Câu thơ kiểu Bút Tre của Khiết cùng với câu thơ của Phạm Tiến Duật: “Đau bụng trần bì, bổ tì bạch truật” như thể “đại diện” cho hai trường phái chữa bệnh Tây y và Đông y, mà anh em nói đùa, là tất cả các loại bệnh trên thế gian này, chỉ cần điều trị bằng bốn vị thuốc kể trên.


Chuyện nhớ đời


Ngày đó tôi và Khiết có một kỷ niệm nhớ đời. Tuần đầu, sau mấy bài giảng khơi mào, nhà trường yêu cầu anh chị em nộp một bản thu hoạch đặc biệt. Đó là một truyện ngắn (với người viết văn xuôi) hoặc một chùm thơ (với người làm thơ). Sau vài ngày thầy đọc, sẽ có buổi “bình” tác phẩm. Không có đủ thời gian “bình” hết của cả lớp, nên chỉ chọn những truyện hoặc bài thơ gây ấn tượng. Trước bữa cơm trưa, thầy giáo bỗng nói với cả lớp: “Chiều nay, các anh các chị sẽ được nghe một truyện ngắn của anh Đỗ Bảo Châu”.


Câu nói của thầy đồng nghĩa với một hiện tượng đặc biệt. Cả lớp nhìn tôi, xuýt xoa như vừa phát hiện ra một nhân tài. Còn tôi thì hồi hộp vô cùng. Không biết truyện ngắn của mình có gì nổi trội, mà được thầy bình riêng như thế? Và tôi thấp thỏm chờ... Buổi chiều, khi thầy đọc xong truyện ngắn, các bạn trong lớp xì xào, nhưng chưa ai dám phát biểu, bởi thấy khuôn mặt thầy có gì khác lạ. Linh tính báo cho tôi có chuyện chẳng lành. Y như rằng, nhận xét của thầy khiến tôi và cả lớp lạnh toát người. Thầy nói đại ý: Câu chuyện khiến cho người đọc cảm giác heo hút, có cái gì đó thê thảm. Tóm lại là một cảm giác buồn, bi lụy, xa lạ với không khí chiến đấu đang hừng hực, sôi sục khắp hai miền... Tôi cũng xin nhắc lại điều này. Thời điểm 1973-1974 có một số truyện ngắn, bài thơ được coi là “có vấn đề về tư tưởng” như “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Sẹo đất” của Ngô Văn Phú, “Cây táo ông Lành” của Hoàng Cát, v.v... Bởi thế mà truyện của tôi được coi là gieo không khí u ám trong lòng bạn đọc.  Đến phần phát biểu ý kiến của học viên, mọi người không ai muốn (hoặc dám) phát biểu. Thầy động viên mãi, mới có ý kiến của Bùi Nguyên Khiết, đại ý rằng, đúng là một câu chuyện buồn, không khí u ám và... ghê ghê thế nào... Sau buổi bình truyện, tôi mất ăn mất ngủ, vì hoang mang. Buồn hơn khi Khiết, tôi coi như người bạn thân nhất trong lớp học, lại không có lấy nửa lời bênh vực tôi.  Hai ngày sau, vào lúc chạng vạng, cơm chiều xong, Khiết bỗng ngoắc tay, ra hiệu. Tôi hiểu ý, lẳng lặng lên đê, vào quán chè chén năm xu của bà Tý béo. Khiết đã đợi tôi trong một góc khuất. Hai chén rượu “cuốc lủi” rót ra từ lúc nào. Và một cái đĩa nông toen hoẻn lạc rang...


“Mày phải hiểu cho tao, một thằng viết văn quèn miền núi. Đủ mọi sức ép, kể cả kinh tế. Tao không dám mạnh mồm. Nhưng giả dụ như tao không nói gì. Bây giờ, tao thấy mình hèn quá”.


Khiết dốc cạn chén rượu. Tôi nắm lấy tay Khiết, lắc lắc. Tôi hiểu rằng, Khiết ân hận vì đã không bảo vệ được tôi.  Cũng may sau đó, truyện của tôi cũng chìm trong quên lãng. Và chúng tôi kết thúc khóa học một cách vui vẻ.


 


Nhà văn - Chiến sĩ


Học xong, học viên lại trở về địa phương. Ít lâu sau, cơ quan cử tôi đi thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi với Khiết chỉ liên hệ với nhau qua thư từ. Nhưng cũng khá đều đặn. Khiết hẹn tôi khi nào ra Bắc, thì phải bố trí lên Lào Cai ngay (Khiết đã về làm ở báo địa phương). Khiết nói sẽ “thiết kế” một chuyến đi các huyện miền núi rất thú vị. Năm 1978, tôi ra Bắc. Và chuyến công tác đầu tiên, là đi Lào Cai. Hồi đó, vợ chồng Khiết có đứa con nhỏ mới lẫm chẫm biết đi. Gia đình khó khăn, thiếu thốn lắm. Đi công tác xa, Khiết phải chuẩn bị cho vợ đủ thứ, kể cả những thứ lặt vặt như mắm muối, gạo củi... Chúng tôi đi huyện Bắc Hà. Uống rượu ngô say túy lúy. Đến thăm các trại trồng tam thất, ngắm nhìn và chụp ảnh ruộng bậc thang. Nhìn những cánh đồng vàng óng, nhấp nhô bóng người, tôi chợt nhớ đến truyện ngắn tuyệt hay “Mùa vàng thao thức” của Bùi Nguyên Khiết. Tôi không ngờ rằng, đó lại là lần gặp và chuyến đi cuối cùng với Bùi Nguyên Khiết. Đầu năm 1979, chiến tranh biên giới Việt- Trung nổ ra, anh không chỉ cầm bút, mà còn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Và anh đã anh dũng hy sinh ngay trên chiến hào...


Bùi Nguyên Khiết, một nhà văn, một chiến sĩ. Những trang viết của anh không nhiều, nhưng những gì đã viết ra, đều thiết tha yêu cuộc sống. Anh không chỉ để lại những trang văn sống động, đầy ắp tình người, mà còn để lại một nhân cách đẹp, có trách nhiệm trước cuộc sống.


Đỗ Bảo Châu


anninhthudo.vn


 


 


 


Nhớ về nhà báo – Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết


15/02/2019 18:20


Nhà báo - nhà văn - Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết, phóng viên Báo Hoàng Liên Sơn là phóng viên duy nhất của cả nước đã anh dũng hy sinh tại một điểm cao trên biên giới xã Tả Ngải Chồ, huyện Mường Khương ngày 17/2/1979 khi đang trực tiếp cầm súng cùng bộ đội địa phương tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lào Cai) chặn đánh quân địch từ bên kia biên giới tràn sang.


 


Nhà báo chiến sỹ Bùi Nguyên Khiết (người cầm súng đứng phía sau) trước ngày hy sinh 17/2/1979. (Ảnh do cố nhà báo Phạm Văn Mạc, phóng viên Báo Hoàng Liên Sơn chụp).


Nhà báo Vũ Văn Thụ, nguyên Tổng Biên tập Báo Hoàng Liên Sơn kể lại: Cuối năm 1978 và đầu năm 1979, tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc rất căng thẳng do phía bên kia biên giới gây ra, nhà báo trẻ Bùi Nguyên Khiết khi ấy là biên tập viên của Tòa soạn Báo Hoàng Liên Sơn, trụ sở tại thị xã Yên Bái đã nhiều lần xung phong lên biên giới Lào Cai nắm tình hình viết bài, chụp ảnh đăng báo.


 


Nguyện vọng của nhà báo Bùi Nguyên Khiết đã được cấp trên đồng ý và anh đã ngã xuống ở mặt trận Mường Khương ngay trong ngày 17/2/1979 trên cương vị nhà báo chiến trường khi đang cùng bộ đội chặn đánh quân địch.


Nhà báo - nhà văn - Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết đã nêu tấm gương sáng cho những người làm báo cách mạng Việt Nam, tỉnh Hoàng Liên Sơn (cũ) và tỉnh Lào Cai và Yên Bái ngày nay.


 


Thể theo nguyện vọng gia đình năm 1995, Báo Lào Cai và Hội Nhà báo tỉnh Lào Cai đã xin phép di chuyển hài cốt Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết từ Nghĩa trang liệt sỹ huyện Mường Khương về Nghĩa trang liệt sỹ huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình), nơi năm xưa gia đình anh từ quê hương Xích Thổ (Ninh Bình) lên lập nghiệp.


Năm 2014, Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai đã quyết định lấy tên nhà báo – Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết để đặt tên cho một tuyến đường ở thành phố Lào Cai. Tuyến đường này nằm trên địa bàn phường Bình Minh, nối đại lộ Võ Nguyên Giáp với đường mang tên cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân khu 2.


Đoàn cán bộ, phóng viên Báo Lào Cai cùng gia đình viếng nhà báo - Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết tại Nghĩa trang liệt sỹ Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình).


Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết sinh năm 1945, tại xã Xích Thổ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trước khi trở thành phóng viên Báo Hoàng Liên Sơn, anh từng là giáo viên cấp 2 có nhiều năm gắn bó với sự nghiệp giáo dục đào tạo vùng cao Lào Cai. Anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam sau khi hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc ngày 17/2/1979. Trước đó, nhà báo Bùi Nguyên Khiết là cộng tác viên thân thiết của Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Phụ nữ qua các bút ký báo chí, phóng sự văn học, truyện ngắn... mang tính thời sự viết từ vùng biên giới Lào Cai.


Kỷ niệm 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, nhân dân Lào Cai và những người làm báo lại càng nhớ anh và thêm tự hào về nhà báo - Liệt sỹ Bùi Nguyên Khiết, một nhà báo cách mạng anh dũng hy sinh vì đất nước khi đang tác nghiệp nơi chiến trường ác liệt trên biên giới Lào Cai ngày 17/2/1979.


Phạm Ngọc Triển


baolaocai.vn


Liệt sĩ, nhà báo Bùi Nguyên Khiết: Người nằm lại trên mảnh đất Mường Khương


Đã 40 năm kể từ ngày liệt sĩ, nhà báo, nhà văn Bùi Nguyên Khiết nằm lại trên mảnh đất Mường Khương (Lào Cai) yêu dấu nhưng người làm báo đương thời vẫn không thôi nhắc về anh - một nhà báo sắc sảo, tâm huyết, một chiến sĩ kiên cường, dũng cảm.


Lòng yêu nước đặt lên trên hết


Trong gần 600 liệt sĩ - nhà báo Việt Nam hy sinh trên khắp các chiến trường, Bùi Nguyên Khiết - nguyên phóng viên chiến trường của báo Hoàng Liên Sơn (cũ) là một nhà báo đặc biệt. Cuộc đời anh gắn liền với những giai thoại hào hùng, khí phách, hiên ngang. Suốt 4 thập niên qua, anh vẫn sống như một “tượng đài” trong lòng người làm báo đương đại. Anh không chỉ là nhà báo năng nổ, nhiệt huyết, có nhiều bài viết sắc sảo “đánh địch” trên mặt trận tư tưởng văn hóa mà còn là người không ngần ngại đi vào điểm “nóng” chiến sự để rồi trong tình thế cấp cách, nguy nan đã cầm súng tiêu diệt nhiều tên địch trước khi hy sinh trên điểm cao 1378 chốt biên giới Lao Páo Chải đúng ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra (17/2/1979).


Là người con của quê hương Ninh Bình, năm 19 tuổi, sau khi tốt nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm Hòa Bình (nay là Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình), mặc dù có nhiều cơ hội dạy học ở thành phố nhưng Bùi Nguyên Khiết đã bỏ qua tất cả để tự nguyện đến với mảnh đất biên cương Lào Cai bởi anh đã say mê cái “chất” của con người, văn hóa và phong cảnh nơi đây qua một số tác phẩm của các nhà văn đàn anh như: Tô Hoài, Ma Văn Kháng... Bắt đầu từ đây, hành trình rong ruổi đem “cái chữ” đến với bản làng dân tộc được anh hết sức cố gắng, nỗ lực và quyết tâm.


Thời ấy, anh không những nổi lên là một thầy giáo có phương pháp sư phạm giỏi, hết mực thương yêu học trò mà còn biết đến là một nhà văn với những tác phẩm văn chương giàu lòng nhân ái. Cuộc đời chỉ vỏn vẹn có 36 năm nhưng anh đã sớm ý thức được việc tạo dựng cho mình một sự nghiệp khi đã để lại gương mặt, tiếng nói, dáng hình trong 6 cuốn sách (3 cuốn NXB Kim Đồng, 2 cuốn NXB Phụ nữ, 1 cuốn NXB Tác phẩm mới (nay là NXB Hội Nhà văn) và 1 bản thảo truyện dài ghi tên đề Pháo đài trên núi thẳm đang viết dở dang tập 1 đến trang 104 cùng loạt bài lẻ tẻ đăng rải rác trên các báo từ Trung ương đến địa phương.


Thế rồi, bảng đen, phấn trắng, những góc sân trường “nhỏ bé” đã không níu được bước chân và con tim anh - một con người ham mê sáng tạo, tìm tòi cái mới. Anh đã đến với công việc làm báo từ năm 1976. Tài năng báo chí của Bùi Nguyên Khiết đã được thể hiện qua những bài viết sinh động, đầy chất “thép” mà người đọc dễ dàng nhận thấy như anh đang sở hữu một “vũ khí đặc biệt” như trong câu thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.


Trong những ngày sục sôi của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, khi bọn phản động gây rối ở biên giới Hoàng Liên Sơn, dùng người Hoa làm con bài chính trị vu cáo Việt Nam “bài xích khủng bố, tước đoạt tài sản người Hoa” gây ra sự kiện “nạn kiều”, anh đã dồn trí tuệ, thông minh và lòng căm thù của mình vào ngòi bút, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, thâm độc và lừa bịp của chúng. Anh còn viết nhiều bài trên báo chí địa phương và Trung ương vạch trần âm mưu thủ đoạn lấn đất của quân phản động ở Kho Tàu (bến mũi thuyền huyện Bát Xát), ở Nậm Chảy (huyện Mường Khương). Những bài báo của anh phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã góp phần xé toang màn dối trá lừa bịp dư luận thế giới của bọn phản động, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ sự thật về việc họ lấn đất, gây rối an ninh trật tự, âm mưu thôn tính nước ta. Đó là những đòn đánh mạnh vào bọn phản động trên mặt trận dư luận rộng rãi trên thế giới.


Dẫu ở thể loại văn chương hay báo chí, Bùi Nguyên Khiết luôn đề cao tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc. Trong tập truyện ngắn đầu tay với nhan đề Cái quý giá nhất của cuộc đời, thầy giáo Bùi Nguyên Khiết khi ấy mới 22 tuổi đã viết: “Cái quý giá nhất của cuộc đời là lòng yêu nước”. Và bài bút ký cuối cùng ông viết 20 ngày trước khi mất thể hiện một ý chí sắt đá đáng khâm phục: “Đêm xuân này tôi ngủ lại Mường Khương mà thấy lòng ấm áp một sức xuân. Hãy giao cho tôi một khẩu súng. Tôi quyết bảo vệ mảnh đất này. Có chết, tôi cũng chết ở đây!”.


Hơn nữa, trong một bức thư gửi nhà văn Ma Văn Kháng vào năm 1964 khi anh Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, Bùi Nguyên Khiết đã viết: “Tôi cùng tuổi với Nguyễn Văn Trỗi. Anh Trỗi 24 tuổi đã chói sáng một tấm gương anh hùng còn tôi chưa làm được gì ra hồn cho đất nước, tự thấy hổ thẹn quá!”. Thế nhưng, sự thật thì cả cuộc đời anh đã có thể ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Sống chân thành với cuộc sống, gắn bó máu thịt với đất nước bằng tình yêu cháy bỏng, sẵn sàng xả thân để bảo vệ những tín hiệu thiêng liêng, đó là phẩm chất cao quý, là tư thế của một nhà văn, nhà báo chân chính đã được biểu hiện rực rỡ trong con người anh.


Lễ khánh thành con đường mang tên Bùi Nguyên Khiết tại thành phố Lào Cai.


Sống đẹp trong lòng bè bạn


Thời ấy, ở Lào Cai nổi lên 3 nhà giáo lại là nhà văn nổi tiếng, đó là Ma Văn Kháng, Mã A Lềnh và Bùi Nguyên Khiết. Riêng nhà văn Ma Văn Kháng lại có một điểm chung nữa với Bùi Nguyên Khiết là cùng ở dưới xuôi lên lập nghiệp, vì thế mà họ sống với nhau như anh em ruột thịt. Đến hôm nay đây, tác giả Đồng bạc trắng hoa xòe đã ở tuổi 83 nhưng nói về người em thân thiết trong giới văn chương, giáo dục, ông vẫn rưng rưng xúc động: “Sống thật với cuộc sống, mê đắm từ mỗi góc nhỏ, cảnh vật gắn bó với mỗi biến cố và các giai thoại dân gian của đời sống, Khiết là vậy. Và đó là một phẩm chất quan trọng của nhà văn. Hết mình với cuộc sống dấn thân, ở nghề thầy, Khiết là một giáo viên dạy giỏi. Ở nghề văn, anh là một nhà văn có tài. Vì vừa hiểu biết, vừa tiềm ẩn sức khám phá cái đẹp trong một khuynh hướng thẩm mỹ lớn, anh đã có cả loạt truyện ngắn mà mới chỉ đọc tên truyện có thể nhận ra vẻ đẹp lấp lánh, sâu xa của nó”.


Hơi bay bổng, lãng mạn, nhà thơ Trúc Thông thì nhìn nhận về Bùi Nguyên Khiết một cách đầy chất thơ: “Khiết nó đẹp và trong sáng như bông hoa rừng Sa Pa, chỉ Lào Cai mới có được”. Và nhà thơ Trúc Thông đã từng viết những câu thơ đầy xúc cảm để chia tay người bạn văn của mình: “Những bông hoa phúng điếu sẽ tàn/ Bông hoa trắng đời anh ngắt mãi/ Anh thích là bông hoa tí tẹo náu mình trong cỏ/ Thơm rất dịu dàng mà chẳng biết hoa đâu/ Bạn bè còn mang hương thơm của đời anh/ Sáng tạo những gì không tàn héo/ Anh ngã trong ác liệt/ Rất nhẹ nhàng hương ở mãi trong ta...”.


 


Còn với tôi - một người sống và cầm bút cách liệt sĩ, nhà văn, nhà báo Bùi Nguyên Khiết hàng nửa thế kỷ vẫn xúc động, nghẹn ngào khi nghĩ về hình ảnh người chiến sĩ họ Bùi nằm xuống bên cạnh một hòn đá to, trong tay vẫn còn nắm chặt quả đạn cối và chiếc máy ảnh đeo trên người. Và tôi tin rằng không chỉ tôi mà nhiều người trong chúng ta sẽ không khỏi quặn lòng, xót xa nhưng cũng đầy kiêu hãnh, tự hào về hình ảnh đầy lẫm liệt, hiên ngang ấy.


 


Bùi Nguyên Khiết ra đi giữa những ngày xuân tươi đẹp trên đất Mường Khương khi hoa ban nở trắng rừng Tây Bắc. Ông mất đi nhưng tâm hồn đã mãi mãi hòa vào dòng nước sông Hồng, sông Chảy nơi đây, hòa vào núi đá, đất trời Mường Khương làm tô thắm thêm vẻ đẹp hùng vĩ, hào hùng của mảnh đất biên cương địa đầu này. 36 năm ngắn ngủi trên cõi đời nhưng ông đã có một cuộc đời đáng sống, đáng trân trọng và đáng được tôn vinh.


 


Liệt sĩ, nhà báo, nhà văn Bùi Nguyên Khiết (1943-1979) sinh ra tại xã Xích Thổ, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Sau khi hy sinh, ông đã được kết nạp chính thức vào Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam. Năm 2002, Bùi Nguyên Khiết là tác giả đầu tiên được UBND tỉnh Lào Cai truy tặng đợt đầu Giải thưởng Phan Si Păng. Đây là Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật cao quý nhất của tỉnh Lào Cai xét tặng 5 năm một lần với những tiêu chí hết sức khắt khe, nghiêm ngặt cho các tác phẩm xuất sắc nhất viết về mảnh đất này.


 


Để ghi nhận những đóng góp to lớn của liệt sĩ, nhà báo, nhà văn Bùi Nguyên Khiết với mảnh đất Lào Cai, năm 2014, đã có một đường phố ở khu trung tâm đô thị mới Lào Cai - Cam Đường (phường Bình Minh, thành phố Lào Cai) mang tên ông. Trong những ngày tháng 4/2018, một Quỹ học bổng mang tên ông đã được thành lập dưới sự phối hợp giữa Hội Nhà báo, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Hưng Yên, đồn Biên phòng Pha Long và UBND xã Tả Ngải Chồ (huyện Mường Khương).


 Giang Phú


suckhoedoisong.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »