tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
29.03.2009
Tư liệu
Báo động từ di tích!

Báo động từ di tích!


Trên Tuổi Trẻ ngày 23-3, nhà văn Nguyên Ngọc vừa cất lên một lời than: Trùng tu, hết chịu nổi! Nhưng “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” ấy không chỉ có ở riêng di tích, đền chùa nào. Phóng viên và cộng tác viên Tuổi Trẻ tiếp tục ghi nhận.


Bài 1: Dân thôn “tô tượng” phá đền chùa!


Có lẽ chưa bao giờ công cuộc trùng tu tôn tạo di tích ở Việt Nam lại đi vào "cao trào" như hiện nay. Bà con các nơi thi nhau lập hòm công đức, vận động tiền trong các tổ chức, cá nhân để bằng mọi giá tô lại tượng, sửa đình chùa miếu mạo quê mình. Họ coi đó như một cách bày tỏ tín tâm, sự sùng kính đối với chư vị thần linh. Nhưng…


Xin "tha mạng" cho một ông hộ pháp!


Chúng tôi đi khảo sát số phận các ngôi chùa vùng Thuận Thành, Bắc Ninh cùng nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ hàng đầu, họa sĩ, giảng viên Ðại học Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng. Ông Thượng sống ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) đã nhiều năm, không phải ông xuất gia tu hành mà vì yêu kính di sản văn hóa tuyệt kỹ Bút Tháp. Và vì nữa, quá đau đớn với thực trạng tàn phá di sản dưới danh nghĩa trùng tu ở khắp nơi, ông Thượng đã chọn một chốn để nỗ lực nghiên cứu và coi sóc, xem như cõi "tháp ngà nghệ thuật" hi vọng sẽ còn sót lại của mình.


Khi nhắc đến chuyện tô tượng, sửa chùa làm "tan biến" các giá trị nghệ thuật cổ, họa sĩ Phan Cẩm Thượng khoát tay kể ra một loạt "điểm nóng": chùa Dâu, chùa Bình, chùa Tướng, chùa Phật Tích ở Bắc Ninh; chùa Chuông ở Hưng Yên; chùa Trăm Gian, chùa Sủi (Hà Nội)... "Mà chẳng đâu xa, ngay trong chùa Bút Tháp nơi tôi đang ngồi với các vị đây cũng đã bị người ta xông vào "cung tiến" việc sơn lại các pho tượng tuyệt đẹp. Sểnh một cái họ thuê đám thợ chuyên đi làm đồ giả cổ, mua sơn hộp công nghiệp về bôi kín cả nhóm tượng chân dung các bà hoàng!".


Với hai ông hộ pháp khổng lồ trong chùa, khi các thợ sơn kiểu chuyên làm đồ gia công mỹ ký sơn xong một pho ai nấy mới tá hỏa: thế là giết chết pho tượng quý, sơn tượng cổ mà như bôi phẩm màu. Quyết định được ban ra muộn màng: xin hãy tha mạng (không sơn mới) pho hộ pháp còn lại. Bây giờ một ông cũ, một ông mới sơn vẫn đứng đó liếc nhìn nhau, chắc cả hai đều... rất đau.


1 triệu đồng "làm mới" đền thờ Sỹ Nhiếp!


Suốt thời kỳ Bắc thuộc dài dặc, Luy Lâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta, trường học đầu tiên của Việt Nam tại đây được mở rộng dưới thời ông Sỹ Nhiếp (186-226). Thời phong kiến, dân Việt Nam ta tôn ông Sỹ Nhiếp làm "Nam Giao học tổ", đền thờ ông trong thành Luy Lâu được gọi là "Văn miếu tiên nho". Tuy nhiên, lần này trở lại đền thờ Sỹ Nhiếp, chúng tôi ngỡ ngàng thấy tượng thờ, kiệu lễ, hoành phi câu đối trong đền đều nhất tề bị… sơn lại bằng sơn hộp công nghiệp trông rất phản cảm.


Cụ Nguyễn Văn Vịnh, 68 tuổi, người được dân giao coi đền thờ Sỹ Nhiếp, khoe: "Chúng tôi vừa sơn lại bảy pho tượng, cả tượng "đức ngài Sỹ Vương", hết hơn 1 triệu đồng". Cụ hào hứng kể: "Thôn chúng tôi có 152 hộ dân, chỉ đi vận động mất hơn nửa tháng là đủ tiền sơn lại toàn bộ tượng. Sơn xong, chúng tôi quay ra sơn nốt câu đối, bộ bát bửu, sơn cả cái đòn khiêng kiệu, ôi giời, nhiều hạng mục phải làm cho đẹp lên lắm. Chúng tôi vận động được tiền rồi nói với cán bộ văn hóa xã, huyện rằng cho chúng tôi "quang diện" (sơn cho đẹp đẽ - NV) lại toàn bộ mà". Hỏi: "Có chỗ nào trong đền mình chưa sơn lại không hả cụ?". Trả lời: "Có mấy cái mới mua chưa sơn lại thôi. Chúng tôi toàn nhờ anh Quỳnh, thợ sơn thuê ở ngoài Mãn Xá (xã bên - NV), sơn cho ấy mà".


Tôi quay sang hỏi ông Phan Cẩm Thượng có phải sơn Nhật không, ông trợn mắt: "Làm gì được sơn hộp của Nhật, đây là sơn hộp ta, dùng để phết cửa rả ở quê ấy". Các pho tượng đỏ lòm, vàng chóe, bôi quết ngoang nghếch, đặc biệt các vị quan văn quan võ của ông Sỹ Nhiếp đều được thợ vườn vẽ râu vẽ ria, mắt trắng dã, méo xẹo như trong một vở tuồng cấp xã. Trong khi pho tượng cổ râu ria của các ngài được cắm từng sợi rất cẩn thận và thẩm mỹ.


Ông Thượng như chết đứng, lẳng lặng bỏ ra ngoài đền đi chụp khung cầu đá cổ nổi tiếng còn nguyên vẹn trên con đường dẫn vào đền. Tôi đi theo, ông Thượng lẩm bẩm: "Bà con đã sơn lại hết rồi, biết làm sao được!". Sơn dỏm này đã giết chết các pho tượng quý, cả tượng Nam Giao học tổ chỉ bằng 1 triệu đồng (thế là còn đắt!). Ðáng sợ hơn, sơn công nghiệp kín mít làm các pho tượng không thể thở được (như dùng sơn ta), chỉ một thời gian tượng sẽ phá ra và hỏng toàn bộ.


 "Mình có Thập điện Diêm vương rồi, còn nhận thêm 10 ông kia nữa làm gì?"









Nhà nhà “trùng tu tôn tạo” di tích


Ở Việt Nam có khoảng 7.300 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nằm rải rác khắp các tỉnh, thành. Theo thống kê, chỉ riêng trong các năm từ 2006-2008, Nhà nước đã đầu tư tới 863,42 tỉ đồng cho mục tiêu chống xuống cấp và tôn tạo 506 lượt di tích.


Số tiền khổng lồ này, theo cục trưởng Cục Di sản văn hóa Đặng Văn Bài, mới chỉ chiếm 50-80% tổng số vốn đầu tư thực tế ở các dự án (số còn lại huy động từ nguồn xã hội hóa). “Ngành văn hóa đã thống kê giai đoạn 2001-2005, ước tính số kinh phí do dân đóng góp để chống xuống cấp di tích khoảng 500 tỉ đồng, giai đoạn 2006-2008 khoảng 145 tỉ đồng/năm. Riêng tại Hà Nội từ năm 2002 đến nay, nhân dân đóng góp 449 tỉ đồng trùng tu 900 di tích (chưa kể hiện vật và ngày công)…”.


(Nguồn: Trang thông tin điện tử của Bộ Văn hóa - thể thao & du lịch, đề ngày 24-2-2009)



Khủng khiếp hơn là ở chùa Tướng, thờ Pháp Lôi, nằm trong hệ thống thờ Tứ Pháp tối cổ của nước ta, cùng thời với chùa Dâu, có từ thế kỷ thứ 2. Anh Chăm, 47 tuổi, người nhang khói ở chùa..., thở dài khi gặp lại tôi: "Chúng tôi vận động bà con trong xóm và khách thập phương lấy tiền để sơn tượng rất kỳ công đấy nhé".


Trời ạ, không dám tin vào mắt mình nữa, ngôi chùa Phật giáo đứng vào hàng cổ nhất của Việt Nam mà chỉ trong vài năm, toàn bộ các pho tượng biến từ màu đen sang màu... vàng chói chang. Một cái "mốt" thay màu tượng thờ quái đản. Những gì ông Thượng chụp ảnh và viết trong các cuốn sách của mình giờ không thể nhận ra! Anh Chăm và bà vãi hiền lành đi theo tôi giải thích: "Tượng mới sơn lại nhưng cứ bị bạc màu dần trông hơi xấu. Có tiền, nhà chùa chúng tôi lại cho sơn lại cả sang màu vàng cho nó đẹp".


Tôi và bà vãi cứ đi lan man trong một thế giới tượng được sơn phết bằng sơn công nghiệp, râu ria vẽ loằng ngoằng, màu mè xanh đỏ chói gắt. Trong chùa Tướng, nền lát gạch hoa, toàn bộ bêtông, đèn xanh đỏ trùm kín mặt tượng, đèn điện nháy tràn cung mây. Ðặc biệt, bên cạnh "Thập điện Diêm vương" bị bôi vẽ do các thợ vườn mỹ ký, các bà buôn ở TP Bắc Ninh còn cung tiến vào chùa các bộ "Thập điện Diêm vương" mới với 10 cụ vàng chóe, đỏ đòng đọc sơn công nghiệp, tượng nào cũng vuông rìa sắc cạnh như đồ chơi trẻ em.


Ông Thượng thắc mắc với anh Chăm: "Mình có tám vị Diêm vương cổ rồi còn lấy thêm 10 ông Diêm vương mới nữa làm gì, nó phá vỡ hết không gian được bố trí rất tài tình của chùa Tướng". Anh Chăm gãi đầu gãi tai: "Họ cho thì lấy". Có người cung tiến cả tượng Quan Âm bằng thạch cao, cao đến 3m, không đưa vào được, nhà chùa đành để ngài trắng toát ngự giữa sân với đủ ngai, tán lọng, bệ thờ, bậc gạch như một ngôi miếu mới!


ÐỖ LÃNG QUÂN


Cổ vật - cá rán hớ hênh trước miệng mèo gian


Nhiều năm nay, dường như câu chuyện mất cắp cổ vật trong các di tích cổ ở VN đã trở nên “biết rồi, khổ lắm” khi đạo chích ngày càng nhiều, càng tinh vi còn phương pháp bảo vệ cổ vật của chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở mức…  “rào giậu”.


Ngành văn hóa và liên ngành hữu quan từng bàn đến phương pháp tạo dựng các “chứng minh thư” cho các pho tượng cổ, cổ vật quý để khi tóm được đạo chích và những kẻ vận chuyển, tàng trữ cổ vật… thì biết chỗ mà trả về. Sự thật là công an, hải quan, biên phòng đã bắt được rất nhiều đối tượng buôn bán cổ vật, giữ cổ vật trong kho (đến mục ruỗng) mà không biết trả về đình chùa nào. Phương án bàn thảo “nát nước nát cái” rồi… để đấy.


Vả lại, với khoảng 40.000 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, ngôi chùa thậm chí có gần 300 pho tượng (như chùa Mía, Hà Nội), thì “lăn tay chụp ảnh” cho tượng đến khi nào mới… xong? Tiếp đó, hệ thống báo động còi hú inh ỏi được gắn thí điểm vào một số di tích quan trọng (như chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh). Gắn vài hôm, chuột cắn đứt hết dây, khi chuột cắn thì còi báo động hú om sòm, nhưng khi kẻ trộm vào khiêng các “đức ngài” cổ kính đi bán thì còi chả thèm kêu.


Trói hạc, nhốt rùa, đóng gông bàn thờ: mất vẫn cứ… mất!









Đành ngồi chờ lương tâm của... kẻ cắp?


Có một câu chuyện “châu về Hợp Phố” rất bi hài: đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ (Hà Nội) - điểm thờ cúng quan trọng nhất trong hệ thống các đền thờ Hai Bà Trưng - bị trộm phá cửa, ăn trộm một lúc 22 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến, sáu thanh kiếm thờ, hai lư hương cổ. Trung ương và địa phương tá hỏa, công an ráo riết điều tra mãi chưa… ra.


Bỗng một ngày ông từ coi đền nhận được một phong thư gửi từ bưu điện ở khu vực Hà Đông, trong đó có trọn vẹn 22 đạo sắc phong và một lá thư, rằng cổ vật của các cụ vô giá, mong các cụ phải giữ cẩn thận. Lá thư của bọn trộm dường như nhắc tất cả chúng ta: cổ vật của chúng ta rất quý. Chúng ta phải có một chế tài, một hệ thống công cụ và phương pháp bảo vệ xứng tầm, chứ đừng ngồi chờ “châu về Hợp Phố” bằng cách… đợi bọn kẻ cắp thức tỉnh lương tâm!



Các phương pháp bảo vệ mới chỉ được thí điểm dở chừng ở vài di tích tầm cỡ quốc gia, còn vài vạn đình chùa miếu mạo khác đạo chích mặc sức tung hoành. Các di tích là địa chỉ tín ngưỡng, tâm linh, chiêm bái của khách thập phương suốt nhiều thế kỷ, kết cấu không gian rộng mở, ai đến cũng được chào đón, các ngôi đình bốn bề thoáng đãng, không cửa rả, không rào giậu, vô hình trung đã biến cổ vật trong đó trở thành món đồ mà trộm muốn lấy lúc nào cũng được. Đúng là cổ vật như cá rán hớ hênh trước miệng mèo gian.


Xứ Đoài là quê hương của các ngôi đình cổ to lớn nhất, kiến trúc và điêu khắc đẹp nhất, cổ kính nhất VN. Đình Quang Húc (xã Đông Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội) như một viên ngọc kiến trúc. Với hệ thống cây cổ thụ trùm phủ, đình nằm ở đầu làng ven cánh đồng thẳng cánh cò bay, không rào giậu, không tường kín, điều đó đã tạo cơ hội cho kẻ trộm thả sức “nhặt” đồ cổ. Đình có đôi hạc cổ, đẹp, vào loại cao lớn nhất trong hệ thống đình mà chúng ta đã biết (cao tới 4,5m). Một đêm, các cụ ngủ dậy thấy đình trống hoe, suốt mấy trăm năm đứng trang nghiêm ở đình, giờ hạc thiêng vỗ cánh bay đi đâu?


Tin được tá hỏa báo công an, cơ quan chức năng về điều tra, lấy hết tư liệu về đôi hạc, rồi chưa thấy ai quay lại nói xem việc điều tra đến đâu. Dân thôn đành ngồi bàn tính: phải trói toàn bộ ngai thờ, án gian, cờ quạt, võng lọng, kiệu thờ, chấp kích, câu đối, hoành phi còn lại của đình bằng dây sắt. Họ đóng những khung sắt lớn, khoan, hàn chết xuống nền đình rồi bắt vít toàn bộ cổ vật xuống đó. Số còn lại cho hết vào nhà kho trong hậu cung, sắm 10 cái khóa Việt Tiệp lớn và dây xích lớn: thứ nhất, khóa các cổ vật lại thành một bó không thể khiêng lọt cửa hậu cung, thứ hai, đổ một khối bêtông lớn làm mỏ neo, neo toàn bộ khối đồ thờ đó xuống nền đất, khóa lại.


Cụ Oánh, người trông coi đình, thở dài: khi có hội, phải ba thanh niên lực lưỡng phá một ngày mới gỡ được đồ thờ ra khỏi gông sắt. Phương án bảo vệ đôi rùa (cõng hạc) được chú trọng đặc biệt nhất. Rùa được khiêng vào hậu cung khóa chặt.


Bất ngờ thay, ít ngày sau trộm vẫn cắt toàn bộ dây xích, phá cửa rả vào lấy nốt đôi rùa đi. Các cụ khóc than, biết kêu ai bây giờ? Không lẽ toàn bộ bô lão phải trải chiếu ra đình làng nằm giữ cổ vật mới được? Cụ Oánh và ông Vân (bô lão ở Quang Húc) ngậm ngùi mua thêm xích sắt, bớt ngủ hằng đêm, khóa toàn bộ cổ vật còn lại vào, rồi treo chùm chìa khóa vào cổ mình. Làm thế nhưng vẫn cứ lo.


Đánh ôtô đi ăn trộm cổ vật!


Đình Đông Viên ngay xã bên - nơi nổi tiếng với các bức phù điêu được in trong… sách giáo khoa, được Bộ Văn hóa (trước đây) xin phép mang về Hà Nội để bảo vệ đặc biệt - dù ba bốn lượt “bố phòng”, trói cả chân hạc vào các tấm gỗ đan cài như chiến thuyền Xích Bích, xích cả đùi hạc bằng xích sắt to đùng mà vẫn mất trộm. Trộm phá cửa, gạt bỏ hết đồ thờ, đẩy đổ bát nhang, phá tan các bức vách để tọt vào tít chốn thâm nghiêm khiêng bốn bộ cửa khám vô giá đi. Trộm “tấn công” bằng ôtô tải hạng nặng, chó làng sủa ran, các cụ râu dài tóc bạc lật đật chạy ra đình thì chỉ còn làn khói khét lẹt của chiếc xe tải.


Ngôi đình đẹp nhất VN - đình Tây Đằng mất cả ngai thờ thành hoàng, đình Câu Cương mất 11 đạo sắc phong, đình Đông Viên mất cửa võng tuyệt kỹ, chùa Cao mất tượng Phật, đình Chu Minh mất chấp kích, đình Mông Phụ mất đủ cả sắc phong, nghê đá, đỉnh đồng, chùa Mía mất một loạt pho tượng đẹp nhất... Các sư, vãi ở đình Đông Viên cố thủ bằng cách nuôi một đàn chó gần chục con, nhốt trong các cũi lớn án ngữ các góc chùa. Toàn bộ đình xứ Đoài được “lấp cửa, rào tường”, nội bất xuất, ngoại bất nhập.


Rời xứ Đoài, chỉ mấy chục phút đi đò, bên kia sông Hồng, tỉnh Vĩnh Phúc, theo một thống kê được TTXVN đăng tải: chỉ trong bốn tháng nơi này mất tới 1.000 pho tượng cổ, 37 đạo sắc phong gốc, bốn hạc thờ cổ và hàng trăm hiện vật quý giá đã hàng trăm năm tuổi: kiệu, thanh chấp kích, đỉnh đồng, khảm thờ, chóe sứ, bát hương... Có ngôi chùa mất một lúc 31 pho tượng cổ, có ngôi đình mất cả một ôtô cổ vật gồm hai kiệu thờ, 11 thanh chấp kích khổng lồ. Cho nên vấn đề đặt ra là: với hàng vạn di tích của chúng ta, với cơ chế bảo vệ và cung cách chống nạn vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ, “sử dụng” cổ vật đầy bất cập như hiện nay thì dĩ nhiên di sản phải rỗng ruột.


Khi “chợ đen” đồ cổ tràn khắp thủ đô, dĩ nhiên các tên đạo chích phải được “đặt hàng” để ăn trộm cổ vật. Khi cổ vật được mua với giá của những báu vật thì các bô lão mắt mờ chân chậm không thể “chống lại” được việc đồ thờ bị khiêng đi, phải có “bàn tay thép” một cách hiệu quả hơn của Nhà nước trong công tác bảo vệ các di tích.


ĐỖ LÃNG QUÂN


 


Bài 3: Trùng tu: trăm tuổi thành một tuổi!


Một câu chuyện... không thể cười nổi về một di tích được đề nghị hủy bỏ quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa vì bị trùng tu mất hết yếu tố gốc!


Báo động từ di tích! - Bài 3: Trùng tu: trăm tuổi thành... một tuổi!


TT - Trải bao tao loạn chiến tranh, thiên tai bão lũ, những di sản ông cha để lại cần được trùng tu tôn tạo là đương nhiên. Thế nhưng trùng tu đến mức xóa sạch di tích gốc quả là chuyện đáng lo. Đình làng Lộc Điền (Quảng Bình) đã chịu số phận như thế.


Chúng tôi quay lại xã Quảng Thanh (Quảng Trạch, Quảng Bình) khi câu chuyện về việc phá bỏ dấu tích cuối cùng là hai trụ biểu của ngôi đình làng được công nhận di tích lịch sử văn hóa này diễn ra đã hơn nửa năm nhưng vẫn còn rất nóng sốt.


Qua đình ngả nón... thương đình


Phía trước ngôi đình làng Lộc Điền vừa được xây mới, dưới bến sông những đoạn gãy gập của hai trụ biểu ngôi đình cũ nằm chỏng chơ bên mép nước như xà bần. Không ai nhìn ra dấu vết trăm năm đời làng đã in dấu rêu phong lên dáng trụ. Ngôi đình từng được công nhận di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Quảng Bình, sau vụ “triệt tiêu” trụ biểu, đã gây sốc đến mức Sở Văn hóa - thể thao & du lịch tỉnh phải họp với làng, xã, huyện đề xuất thu hồi bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa của đình.


Sử sách chép lại rằng đình Lộc Điền được xây dựng từ cuối thế kỷ 17, sát ngay bờ sông Gianh. Ban đầu chỉ làm bằng tre nứa, gỗ, qua nhiều lần tôn tạo, phục hồi vào các năm 1820, 1890, 1922, 1934 trở thành ngôi đình đẹp nổi tiếng cả một vùng sông nước này. Đặc biệt sau lần đại trùng tu năm 1922, đình có phần kiến trúc nề nổi bật là hai trụ biểu (dân vùng này gọi là cột nanh).


Hai trụ biểu này đứng làm cổng chính, cao trên 5m, chân cột rộng 0,8m, trên đỉnh trụ đắp tượng nghê, thân trụ hình rồng cuốn với nhiều họa tiết, hoa văn vô cùng sinh động và có tính nghệ thuật kiến trúc cao. Mặt tiền trụ biểu là đôi câu đối được khảm bằng những mảnh sành sứ cổ xưa quý hiếm, do cụ cử nhân Ngô Khắc Hựu phụng soạn:


Tứ diện sơn hà, đắc nhất dĩ linh, ngưng chính khí/Lưỡng gian thiên địa, lập trung bất ỷ, ngật cao tiêu.


(Tạm dịch: Bốn mặt núi sông, đắc nhất hồn thiêng, ngưng chính khí/ Đôi dòng trời đất, đứng thẳng không dựa, ngất trời cao)


Những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ, đình bị máy bay, pháo hạm của địch phá hủy, chỉ hai trụ biểu trên là còn sót lại nguyên vẹn một cách may mắn kỳ lạ. Dân làng bảo nhờ thế “lập trung bất ỷ” như câu đối của cụ cử Hựu “vận vào” nên hai trụ biểu đã đứng vững trước mưa bom bão đạn.


Chính hai trụ biểu còn nguyên vẹn này là cơ sở để năm 2003 đình Lộc Điền được UBND tỉnh Quảng Bình xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Ngôi đình xưa dù bị phá hủy nhưng nhìn vào đôi trụ biểu này vẫn thấy tầm vóc hồn vía quá vãng của ngôi đình đẹp nổi tiếng bên dòng sông Gianh.


Năm 2007, bằng nguồn kinh phí của Nhà nước và nhân dân đóng góp, UBND xã Quảng Thanh và người dân thôn Tân An (làng Lộc Điền) đã khởi động phục hồi tôn tạo đình làng với số tiền trên 1,1 tỉ đồng.


Xin hủy bỏ... xếp hạng di tích


Trong quá trình xây dựng ngôi đình, vì cho rằng hai trụ biểu cũ không còn nằm đúng vị trí trung tâm của đình mới nên xã quyết định đập bỏ để xây lại hai trụ mới. Tháng 5-2008, trong khi thợ xây đang đập một trong hai trụ thì sự việc bị phát hiện.


Ngay lập tức Sở VH-TT&DL đã có công văn do giám đốc Lê Hùng Phi ký nêu rõ: “Căn cứ thực trạng hiện nay, việc mở rộng cổng đình là hợp lý, nhưng phải giữ nguyên giá trị gốc của trụ biểu còn lại... Về trùng tu di tích chỉ được chuyển dịch vị trí chứ không được hạ giải trụ biểu, vì đây là di tích còn lại có giá trị lịch sử - văn hóa của toàn bộ di tích đình làng. Đối với trụ biểu đã bị đập phá, khi xây lại yêu cầu phải phục hồi đúng nguyên bản gốc và đối xứng trụ biểu còn lại như hiện trạng ban đầu của di tích”.


Tuy đã có công văn nhắc nhở trước khi trùng tu, rồi khi làm sai, được đề nghị gìn giữ nguyên trạng trụ biểu nhưng ban trùng tu đình vẫn... tiếp tục công việc hủy hoại “hiện vật gốc”. Trụ biểu thứ nhất bị đập vào tháng 5-2008 thì bốn tháng sau, tháng 9-2008, trụ biểu thứ hai cũng bị đập bỏ với lý do “trong khi di dời trụ biểu theo chỉ đạo của tỉnh, thợ đã làm sụp đổ trụ”, vì thế... coi như hai trụ biểu chứng tích của ngôi đình Lộc Điền đã được xóa sổ!


Cuộc họp tiếp sau sự cố trên của Sở VH-TT&DL với huyện Quảng Trạch và xã Quảng Thanh có đề nghị: việc ban trùng tu đình làng Lộc Điền tự ý phá bỏ hai trụ biểu gốc để xây mới là vi phạm điều 32 Luật di sản văn hóa. Căn cứ hồ sơ xếp hạng và hiện trạng di tích đình làng Lộc Điền thì yếu tố gốc của di tích không còn nữa nên đề nghị UBND tỉnh xem xét hủy bỏ quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh của đình làng Lộc Điền.


Đến hôm nay việc hủy bỏ hay tiếp tục công nhận đình Lộc Điền là di tích văn hóa vẫn chưa có kết luận, song với ngôi đình mới từ trong ra ngoài như thế này, rõ ràng di tích hàng trăm năm tuổi nay đã thành...(chưa được) một tuổi! 


L.Đ.DỤC - L.GIANG










“Bóc mẻ” sự ngớ ngẩn của một “đơn vị trùng tu”


Đình Mông Phụ - di tích quốc gia ở làng cổ đầu tiên ở VN (Đường Lâm, Hà Nội), hầu như không hư hỏng. Vật liệu gỗ, đá ong, đá tảng, gạch Bát Tràng cổ kính, hàng ngàn hàng triệu bức ảnh và các thước phim đã quay đình Mông Phụ có thể làm chứng cho điều này. Nhưng một ngày có dự án hơn 10 tỉ VND, người ta dỡ toàn bộ ngôi đình ra, giải phóng mặt bằng 100%, rồi dựng lại một đình mới.


Nghe phản ảnh của dân, khi chúng tôi về thì đúng lúc dân thôn, nhiều bậc túc nho lên chất vấn đơn vị thi công: “Sao các anh leo lên mái ngói mênh mông của đình làng tôi đạp cho ngói rơi ào ào xuống? Trùng tu thì phải dỡ ngói ra từng viên chứ, trùng tu gì mà mái đình không còn một viên ngói cổ nào (chỉ toàn ngói mới đỏ rực)? Sao các anh thay hết bờ tường đá ong cổ bằng đá ong mới đào dưới đất lên, trát vôi vữa ximăng trắng toát thế này?”.


Đặc biệt, cụ Kiều Văn Triệu, ngoài 80 tuổi, một bậc túc nho suốt đời sống bên đình làng, yêu các giá trị làng cổ như máu thịt, đã nhiều lần lên đình, gọi cán bộ lãnh đạo xã xuống chỗ thi công “phá dỡ đình”, gọi người đại diện đơn vị thi công ra yêu cầu sửa lại đình cho làng: “Sao các anh sửa làm lệch hướng ngôi đình mất cả mét so với hướng cũ thế này” (ông Triệu dùng thước đo cho anh Khải - người phụ trách thi công - thấy, anh này phải công nhận). Sao lại lát các mạch gạch đâm thẳng vào mặt thành hoàng của đình làng thế này? (đó là điều tối kỵ ở tất cả các ngôi đình VN, sai so với mạch gạch cũ ở đình làng Mông Phụ suốt mấy trăm năm qua). Các vì cột đặt sai vị trí, nhiều kết cấu bị lệch pha, cột đình không hỏng cũng đem đi đâu mất sạch, đơn vị thi công thú nhận đã dùng keo Con Voi 502 dán các cấu kiện gỗ cho khớp vào nhau (thay vì ghép khít như ngôi đình cũ). Cụ Triệu và các bô lão đã nói đúng.


Bởi vì sau đó đơn vị thi công đã tiến hành lát lại sân đình, lợp lại ngói đình, khắc phục các thiếu sót có thể khắc phục được. Đây là một vụ dân thôn đã “bắt tận tay day tận trán” cái việc thiếu những kiến thức sơ đẳng của các nhà trùng tu.


ĐỖ LÃNG QUÂN




Bài 4:


Tạm dừng trùng tu là bảo vệ di tích


Hãy nhìn cái cách mà người ta nhân danh phục dựng lễ hội, trùng tu di tích trong 20 năm qua để thấy họ ứng xử với văn hóa một cách phản văn hóa như thế nào? Đã có hàng chục năm say mê tìm hiểu cặn kẽ các di tích văn hóa, đặc biệt là đền chùa, họa sĩ Lê Thiết Cương và họa sĩ - nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Phan Cẩm Thượng tham gia cùng Tuổi Trẻ trong loạt bài này với cái nhìn của người trong cuộc.


Các di tích càng lớn thì sau khi trùng tu bị phá hoại càng nhiều. Càng đầu tư nhiều tiền thì di tích càng hỏng nhiều. Tại sao?


Tại sao Cục Di sản của Bộ Văn hóa - thể thao & du lịch lại đưa ra phương án trùng tu đền Và (xã Trung Hưng, Sơn Tây, TP Hà Nội) theo kiểu “dỡ trắng” ra làm mới như vậy? Ai là những người tư vấn cho cục làm điều đó? Tại sao người ta lại có thể nhân tiện trùng tu chùa Lý Quốc Sư (Hà Nội) để xây thêm một khối nhà ba tầng kệch cỡm đến thế ngay ở mặt tiền? Cơ quan quản lý nào cho phép người ta phá đi bức tường đất nghìn năm của chùa Bổ, hoặc xây một bệ tượng bêtông cốt thép làm che toàn bộ những bức phù điêu đất nung tuyệt đẹp, tiêu biểu cho mỹ thuật gốm không men Việt Nam cuối thế kỷ 16 ở chùa Trăm Gian (Hà Nội)? Rồi lại còn vụ bức tường thành cổ Bắc Ninh bị phá đi làm chỗ nuôi lợn. Có thể nói Cục Di sản không biết những điều đó không?


Phải ngăn chặn cái thói quen hễ ai và ở đâu cứ có tiền là có thể dỡ đình, sửa chùa, tô tượng vô tội vạ, bất chấp các quy tắc tối thiểu về trùng tu di tích như thế. Biết rằng làm được điều này quá khó vì đình chùa là di sản quốc gia, nhưng đình chùa lại ở làng, ở gần dân mà trình độ và sự hiểu biết của dân về bảo tồn, phục chế quá thấp. Nước xa làm sao chữa được lửa gần. Nhưng lỗi lầm đâu chỉ ở người dân!


Giá như có những công ty độc lập chuyên phản biện và giám sát các công trình trùng tu di tích.


Một đất nước có lịch sử 4.000 năm, với một số lượng di sản khổng lồ đến vậy mà không có ngành học nào đào tạo kỹ thuật viên cho tu bổ di tích. Đã đến lúc nên thành lập một trường riêng biệt (cho dù quá muộn) với các chuyên khoa về phục chế đồ gỗ, sơn mài, nề, gốm, tơ lụa...


Những di tích được phục chế tốt nhất trong mấy năm qua: ngôi nhà cổ của ông Phạm Ngọc Tùng ở Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) do Trường đại học nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) trùng tu năm 2002; các bức tranh tường trong biệt cung An Định, Huế được Hiệp hội Trao đổi văn hóa Leibniz (Đức) giúp phục hồi và chương trình hợp tác giữa chính phủ hai nước VN và Pháp trong việc phục chế 24 tác phẩm điêu khắc Champa... Tất cả đều do các chuyên gia nước ngoài giúp đỡ. Người ngoài lại hiểu di sản của mình hơn mình vì họ coi phục chế di sản là khoa học. Tóm lại phải học, phải có trường.


Đình, chùa, miếu đều là những công trình kiến trúc, là những tác phẩm nghệ thuật của người Việt. Nghệ thuật về chạm khắc gỗ, đá, đúc đồng, nghệ thuật sơn mài. Kỹ năng của các nghề thủ công truyền thống này đang mai một dần. Các nghệ nhân tuổi ngày càng cao. Tất cả sẽ mất đi. Phải coi họ là những di sản sống để học hỏi.


Phần lớn công trình trùng tu đều trở thành phá hoại. Do thiếu hiểu biết cũng có mà do hiểu nhưng cố tình làm ẩu, qua quýt, ăn bớt công đoạn, nguyên vật liệu cũng có. Thêm mươi năm nữa muốn xem về nghệ thuật điêu khắc gỗ VN thế kỷ 16 chẳng hạn, chắc chỉ còn có thể xem trong bảo tàng thôi. Bước lên sân Thiên Trù (chùa Hương, Hà Nội) du khách tưởng mình lạc sang Singapore khi thấy hai con sư tử đá vừa to vừa xấu chầu hai bên. Cổng tam quan đền Voi Phục (Hà Nội) vừa hoàn thành nhưng xem kỹ hóa ra họ copy cổng chùa Láng...


Nhiều phần sơn thếp các pho tượng trong khi phục chế ở tất cả đình chùa đều làm giả dối, sơn cầm thì pha không đúng chuẩn. Mặt và tay chân các bức tượng đều sơn phết bằng sơn công nghiệp, trong khi đúng công thức cổ là cánh dán trộn điệp không hề đắt đỏ nhưng những người thể hiện cố tình bỏ qua.


Hoành phi, câu đối, cửa võng, bát bảo, cuốn thư, ngai thờ ở chùa nào, đình nào cũng lòe loẹt, bóng lộn do dùng sơn công nghiệp, thếp bạc, hoặc thậm chí thiếc nhuộm phẩm vô tội vạ.


Nếu cứ đà này có lẽ nên dừng lại ngay lập tức việc trùng tu di tích trước khi có một quan niệm, một cơ chế, một phương pháp và một đội ngũ giỏi về trùng tu. Tạm dừng lại việc trùng tu chính là bảo vệ di tích.


LÊ THIẾT CƯƠNG


 


Bảo tồn di sản cần phải được hoạch định thành một chiến lược quốc gia. Đình, chùa, miếu, quán là nơi hội tụ, kết tinh di sản văn hóa, truyền thống, lịch sử của dân tộc. Người ta có thể xây dựng 1.000 tòa nhà hiện đại nhưng phá một ngôi đình là không xây lại được, là mất vĩnh viễn, mất lịch sử, mất truyền thống, mất tâm linh, mất văn hóa. Phá hoại đình chùa là điều không thể sửa sai, không thể sám hối.


VN chỉ có thể đến với thế giới bằng văn hóa của mình thông qua việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa truyền thống của cha ông. Chỉ có thể đi đến hiện đại bằng truyền thống. Đi đến tận cùng truyền thống thì sẽ gặp hiện đại. Điều đó không chỉ đúng trong nghệ thuật mà trong cả ngoại giao, kinh tế và các lĩnh vực khác nữa.










Thật thảm hại!


Tình hình trùng tu các di tích văn hóa nghệ thuật cổ những năm gần đây thật đáng lo ngại. Nhà nước và nhân dân tốn rất nhiều tiền nhưng kết quả thu lại là các di sản bị biến mất và thay thế bằng một di tích mới. Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng dường như tình trạng bất khả kháng làm nản lòng những tâm trạng hoài cổ.


Ở chùa Dâu có bốn chữ nho cổ Tường vân thụy khí, dù vẫn chưa mục nhưng người ta trùng tu bằng cách cho một người thợ can lại một cách đại khái rồi đục chữ mới, còn chữ cổ người ta đem đi đâu không biết. Trần thiết của ngôi chùa được vẽ rồng mây bằng sơn ta rất đẹp, anh thợ của xưởng phục chế vẽ nguệch ngoạc lại bằng sơn hộp... Nếu cứ điểm từng mục thì thật thảm hại, mà đó là công trình do một cơ quan nhà nước thực hiện.


Việc tu sửa tượng rõ ràng đã làm hỏng toàn bộ các nơi được tu sửa. Tượng cổ dùng các nguyên liệu gỗ mít, đục sơ rồi dùng đất phù sa và sơn ta sống chỉnh nét, rồi sơn thếp bằng vàng son. Quy trình này rất tốn kém, lại không thể làm bất cứ lúc nào, chỉ có thể làm trong điều kiện ẩm như mùa xuân. Vàng bạc lót trong sơn cánh dán làm lớp son và màu khác càng ngày càng trong bóng và sâu trầm, đồng thời pho tượng có sự thở theo thời tiết.


Khi sửa mới, đại bộ phận người ta dùng bạc thiếc thay cho vàng, dùng sơn Nhật thay cho sơn ta, thậm chí dùng sơn hộp. Kết quả là pho tượng bóng lộn, lớp sơn Nhật và sơn hộp có màng nilông khiến pho tượng không thở được theo thời tiết sẽ hủy dần từ bên trong một cách mau chóng. Chưa kể tô tượng là một nghệ thuật, không phải là công việc của thợ thủ công mà của nghệ sĩ, nhất là phần chân dung của pho tượng. Những pho tượng cổ được trùng tu biến dạng toàn bộ, nhất là thần thái cổ kính.


Trong một không gian nhiều đồ thờ tự, tượng thần Phật, người xưa thường dùng hoành phi câu đối không trang trí hoa văn, mà chỉ chạm chữ nho trên nền phẳng để giảm bớt chi tiết rườm rà. Trái lại hoành phi câu đối bây giờ lòe loẹt vô cùng, phần lớn chữ nho trên nền hoa gấm. Nhưng khốn thay thợ thủ công bây giờ không chạm nổi được chữ lồng trên mặt hoa gấm; họ bèn cắt chữ rời và dán trên mặt hoa văn, những câu đối như vậy tuổi thọ rất thấp, chỉ mươi năm tất cả sẽ bong tróc rời nhau. Tuy nhiên quan trọng là cảm giác chung khi vào những nơi thờ tự bây giờ là lòe loẹt, dị đoan, hỗn tạp và phi thẩm mỹ.


PHAN CẨM THƯỢNG




 


 


 


Bài cuối: "Sai sót xảy ra là điều đáng tiếc"


"Họ muốn làm cái mới cho có thêm số lượng (thêm phần việc, lấy công, lấy thêm kinh phí). Sai sót đã xảy ra, đó là điều đáng tiếc"... TS Đặng Văn Bài - cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch) - trả lời phỏng vấn xung quanh những vấn đề Tuổi Trẻ đã đặt ra trong loạt bài “Báo động từ di tích!” (từ ngày 24-3-2009).


Phải bảo tồn tối đa các yếu tố gốc


* Dư luận báo chí đã nói quá nhiều về việc trùng tu làm mới di tích, làm như thế là giết chết di tích cổ kính. Dường như quan điểm trùng tu ở nước ta vẫn chưa thống nhất giữ nguyên trạng di tích gốc hay dỡ ra làm mới thì gọi là trùng tu tôn tạo chân chính, theo ông?


- Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, chiến tranh kéo dài, bão lụt liên miên, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, điều kiện kinh tế của đất nước còn hạn chế, nhiều di tích kiến trúc gỗ của Việt Nam đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt còn giữ lại rất ít các cấu kiện gốc từ lúc khởi dựng, phần lớn đã được người dân tự phát sửa chữa nhiều lần, hiện mang dấu ấn của rất nhiều giai đoạn tu bổ khác nhau. Vì thế không thể áp dụng máy móc một nguyên tắc chung nhất cho tất cả di tích.


Mục tiêu đặt ra là phải bảo tồn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích, trong đó ưu tiên việc giữ gìn, bảo quản các di tích kiến trúc với các mảng chạm khắc nghệ thuật. Thứ nữa cũng cần chú ý đến sự bền vững lâu dài cho di tích sau khi được tu bổ. Cuối cùng là nguyện vọng của cộng đồng cư dân đang trông nom gìn giữ di tích cũng cần được tôn trọng, xem xét xử lý.


Trong thực tế có nơi cần thay thế cột mới, nhồi lõi cột rỗng hoặc gắn chắp chân cột. Trường hợp khác có thể thực hiện biện pháp ốp mang hai bên, ở giữa là lõi gỗ mới để bảo tồn các mảng chạm khắc. Tóm lại, tu bổ di tích là một ngành khoa học có tính chuyên môn cao, đòi hỏi sự sáng tạo trong các giải pháp kỹ thuật riêng cho từng trường hợp cụ thể.


* Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều chuyên gia mỹ thuật, nhiều họa sĩ và nhà văn hóa lớn của Việt Nam, họ đều phản đối kịch liệt cách dỡ trắng di tích ra dựng lại mà chúng ta đang áp dụng hiện nay. Chính Cục Di sản văn hóa cũng gặp khó khăn và khó nghĩ khi quá nhiều công trình sau trùng tu trở nên phản cảm, mất đi giá trị thẩm mỹ, văn hóa, lịch sử vốn có.


Xin hỏi ở góc nhìn của ông, ông thấy các đơn vị trùng tu di tích đang gặp khó khăn gì, nói khác đi điều gì đã dẫn họ đến kết quả… buồn bã mà ai cũng biết kia?


- Rõ ràng có sự khác biệt quá xa giữa công tác trùng tu di tích với việc xây dựng một công trình kiến trúc mới hay sửa chữa các công trình xây dựng. Sự khác biệt đó thể hiện ở tất cả các khâu hoạt động từ nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng, lập dự án, thiết kế kỹ thuật, hạ giải công trình, đánh giá cấu kiện, thi công trùng tu, giám sát thi công đến nghiệm thu, lập hồ sơ hoàn công.


Theo yêu cầu quản lý xây dựng cơ bản thì sau khi dự án, thiết kế, dự toán được phê duyệt sẽ cho thi công, nhưng trong tu bổ di tích rất nhiều vấn đề phát sinh sau khi hạ giải di tích nên cần có cơ chế đặc thù. Hoặc giả là tu bổ di tích cũng phải áp dụng cơ chế tiết kiệm 10% tổng kinh phí thì không thể đáp ứng yêu cầu chữa “lành bệnh” cho một di tích vốn đã bị xuống cấp nghiêm trọng kéo dài qua nhiều năm.


Một nguyên nhân nữa: các nhà thi công có xu hướng muốn tăng phần thay thế, tăng số lượng công việc (trùng tu nhiều hơn so với yêu cầu thực tế từ thực trạng di tích). Có hai lý do, một là làm thế thì có thể cái lợi kinh tế cho đơn vị thi công (thay mới nhiều hơn). Cái nữa là họ muốn công trình trùng tu của mình được bền vững hơn. Họ sợ 10 năm, 20 năm nữa di tích tiếp tục hỏng người ta lại bảo tại “cái thằng” (đơn vị thi công) này không biết sửa (thì mang tiếng).


Nguyên nhân thứ ba là bản thân cộng đồng cư dân ở đó rất phản đối việc hàn gắn, chắp vá cho di tích của họ. Họ bảo không cắt cắt, gắn gắn vào nơi linh thiêng ấy của chúng tôi, cái ấy là dứt khoát chúng tôi phải được thay mới! Thế là “thằng” thi công phải chiều dân vì họ ăn nằm ở trong dân, đồng thời bà con là người giám sát công việc của họ. Bây giờ chúng ta có sự giám sát cộng đồng mà. Cần thành lập tổ kiểm tra tu bổ di tích


* Trong bài viết trên Tuổi Trẻ TP.HCM, họa sĩ Lê Thiết Cương, sau nhiều năm nghiên cứu các di tích lịch sử văn hóa quý giá, chứng kiến quá trình trùng tu giết chết di tích (theo cách nói của họa sĩ), đã đưa ra một tổng kết đáng bàn luận: chúng ta đang thiếu một đơn vị giám sát độc lập các công trình dùng tiền Nhà nước trùng tu tôn tạo di tích. Có phải các đơn vị có vẻ như giám sát nhau, nhưng thật ra họ đang “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Ông bình luận gì về ý kiến tâm huyết này?


- Công trình nào cũng có giám sát mang tính độc lập, không phải là người của đơn vị thi công. Ví dụ công ty thiết bị văn hóa làm thì phải thuê công ty mỹ thuật, công ty mỹ thuật lại thuê công ty tu bổ, tức là người của đơn vị này được thuê sang giám sát đơn vị kia. Giờ đây chúng tôi cũng đã có kiến nghị: nên có một tập đoàn giám sát mạnh. Lãnh đạo Bộ VH-TT&DL nên thành lập một tổ kiểm tra tu bổ di tích để có thể hạn chế những sai sót đáng tiếc xảy ra.


* Họa sĩ - nhà  nghiên cứu Phan Cẩm Thượng và họa sĩ Lê Thiết Cương đều chung lưng kiến nghị nên có một trường dạy cách tu bổ di tích, chứ đừng dùng thợ lao động tự do đụng tay vào văn hóa.Ông nghĩ sao?


- Việc thiếu chuyên gia đầu ngành, thiếu nguồn nhân lực trong công tác trùng tu tôn tạo di tích lịch sử văn hóa là đúng.


ĐỖ LÃNG QUÂN thực hiện










Yếu tố tâm linh trong trùng tu di tích mất hết rồi…


* Thưa cục trưởng, ông lý giải làm sao khi quá nhiều các công trình tu bổ lớn của chúng ta gần đây như Lam Kinh, Đường Lâm, các ngôi đình, đền Và, chùa Dâu, Bút Tháp, chùa Kim Liên, Trăm Gian, Phật Tích… đều bị sự phản đối của dư luận và báo chí. Mà những người phản đối rõ ràng chỉ nói vì lòng xót thương di sản chứ không hàm ý cá nhân hay quyền lợi nghĩa vụ liên quan gì cả. Ông có tin vào sự chân thành, tâm huyết và tính khẩn thiết của những lời lên tiếng gay gắt đó không?


- Tôi nghĩ rằng các bác ấy lên tiếng phát biểu với tình cảm quý trọng di sản của cha ông, nên ta cần tôn trọng nghiên cứu và nghiêm túc khắc phục những gì thiếu sót. Tôi biết họ tâm huyết, có trình độ, tôi ghi nhận điều đó. Nhưng thật ra đại bộ phận trường hợp tu bổ nhìn lướt qua tốt thế thôi, nhưng người thiết kế khảo sát phải đi gõ từng hạng mục, trình bày hiện trạng đúng hay không đúng thì hội đồng người ta mới duyệt cho trùng tu.


Đặc biệt, có chuyện này tôi thấy các họa sĩ, nhà nghiên cứu kêu là rất đúng: những mảng chạm khắc bây giờ bàn tay của thợ thủ công kém (xấu) hơn ngày xưa rất nhiều, thành ra lúc tu bổ, phục hồi, người thợ chạm đục những chi tiết, hạng mục mới không mềm mại, sắc nét như bản gốc. Lý do các nghề thủ công truyền thống đã bị mai một, độ tinh xảo về kỹ thuật kém.


Lý do nữa, ngày xưa tôi làm cái này để dâng thánh, ví dụ như tôi làm đình này ở Đình Bảng, trước khi làm người ta đã cho thợ làm thử một căn nhà có kiến trúc như thế song nhỏ hơn ở nơi khác trước, nếu thấy ưng ý người ta mới bắt tay vào dựng đình. Rất công phu để dâng thờ thánh thần. Bây giờ yếu tố tâm linh đó cũng mất hết rồi. Thêm nữa, công xá đã ít, lại tiết kiệm tiền. Số tiền đó mà anh thuê thợ bậc 7 khác, thợ bậc 5 khác, để tiết kiệm ít khi người ta tổ chức thuê thợ bậc cao nên một số trường hợp phục hồi chưa được ưng ý.


Có nhiều khi việc trùng tu gặp nhiều “cảnh” rất đáng lên án, là các mảng chạm khắc cũ, có thể trùng tu giữ nguyên hiện vật cổ bằng cách bóc ra thành hai mặt miếng, rồi gắn lại bằng một cái lõi. Nhiều trường hợp người ta đã làm như thế. Cũng có trường hợp người thi công lười làm theo cách đó. Họ muốn làm cái mới cho có thêm số lượng (thêm phần việc, lấy công, lấy thêm kinh phí). Sai sót đã xảy ra, đó là điều đáng tiếc.




____________________________










Di chuyển tượng ở cổng đền Đô


Tuổi Trẻ trích đăng thư phản hồi của một độc giả sau bài viết “Trùng tu, hết chịu nổi!” (Tuổi Trẻ ngày 23-3-2009) của nhà văn Nguyên Ngọc, về chi tiết hai con sư tử... Tàu chầu trước cổng đền Đô và tượng chú Tễu ở tiền sảnh:


Xin cảm ơn nhà văn Nguyên Ngọc và nhà báo Đỗ Lãng Quân đã quan tâm đến đền Đô mà có bài và ảnh góp ý. Đền Đô bị chiến tranh phá hoại năm 1952, từ năm 1989 nhân dân Đình Bảng được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng những tấm lòng tâm thiện khắp nơi đã đầu tư công đức xây dựng lại. Riêng hai tượng kỳ lân nhân dân dâng cúng là một tấm lòng trân trọng. Xưa không có. Tiếp thu ý kiến của quý vị, ban quản lý di tích đền Đô đã di chuyển đôi tượng này tới một vị trí khác để giữ lại kỷ vật của nhân dân công đức.


Còn hai bức tượng mà tác giả băn khoăn là tượng người Việt sơ khai hay chú Tễu là hai tượng Đá Rãi trong lịch sử. Khi xây dựng lại đền Đô, các tượng này đã được tạc lại đúng theo mẫu ảnh xưa của Bảo tàng Lịch sử lưu trữ.


LÝ HIẾU NGHĨA - đền Đô (kimnt42@...)




Nguồn: tuoitre.com.vn. Loạt bài in 5 số liền, từ 24 đến 28-3-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »