Song phải nói ngay rằng, đó là những sự để lại dấu tích không giống nhau. Nếu ở Quỳnh Côi, Thái Bình - quê vợ Nguyễn Du, nơi ông vì trốn tránh nhà Tây Sơn mà phải sống "mười năm gió bụi" suốt từ 1786 (năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc) đến 1796 (năm Nguyễn Du bị bắt khi định chạy vào Gia Định theo Gia Long); hay ở Tiên Điền, Hà Tĩnh - quê cha, nơi ông làm "Hồng sơn liệp hộ" (phường săn núi Hồng) và "Nam hải điếu đồ" (nhà chài bể Nam) từ 1796 đến 1802; hay ở trấn Sơn Nam và Sơn Nam Thượng, ở Phú Xuân, ở Quảng Bình v.v... những nơi ông sắm vai một ông quan của triều đình nhà Nguyễn, thì những mảnh đất ấy đã in dấu trong thơ Nguyễn Du ngay lập tức, để trở thành những trang nhật kí thi ca của một cuộc đời chìm nổi.
Thế nhưng, kinh thành Thăng Long, nơi ông sinh ra và sống những năm tháng hoa niên, rất lạ là không để lại dấu tích trong thơ Nguyễn Du theo kiểu như vậy: cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được bằng chứng để nói rằng Nguyễn Du có viết về Thăng Long trước năm 1786.
Chuyện chỉ diễn ra sau đó gần 30 năm: năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Lúc này Thăng Long trở thành một chặng trên sứ trình của ông, và chỉ đến lúc này Thăng Long mới in dấu trong thơ ông bằng bốn bài mở đầu tập "Bắc hành tạp lục". Một sự đến muộn, có thể nói vậy, và vì đến muộn mà kinh thành Thăng Long với Nguyễn Du là một kinh thành Thăng Long dồn ứ hoài vọng quá khứ lẫn cảm quan hiện tại.
Theo sách "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" (NXB Văn Học, 1978), bốn bài mở đầu tập "Bắc hành tạp lục" lần lượt là: "Long thành cầm giả ca" (Bài ca người gảy đàn đất Thăng Long), hai bài "Thăng Long", và "Ngộ gia đệ cựu ca cơ" (Gặp người hát cũ của em).
Với hai bài "Long thành cầm giả ca" và "Ngộ gia đệ cựu ca cơ", ngay ở tên bài đã cho thấy nghề nghiệp của nhân vật được nhắc đến trong bài: "cầm giả" - người gảy đàn, "ca cơ" - người (con gái) hát. Hiện ra ngay một sự lạ: viết về đất cũ Thăng Long, Nguyễn Du không lấy cảm hứng từ sự tái ngộ với các danh sĩ, các bậc công hầu khanh tướng hay những nhân vật quyền cao chức trọng, thay vào đó lại là những người mưu sinh bằng việc lấy tiếng đàn tiếng hát mua vui cho thiên hạ, những kẻ vẫn bị thế gian gọi một cách đầy miệt thị rằng "xướng ca vô loài".
Dĩ nhiên là từ sự kiện này, ta hoàn toàn có thể nói đến một chủ nghĩa nhân đạo ở Nguyễn Du: ông hướng sự quan tâm và dành niềm thương cảm cho những thân phận "dưới đáy" xã hội. Nhưng dường như không chỉ có vậy. Ta nhớ rằng năm 13 tuổi, khi cha mẹ mất cả, Nguyễn Du đã ở với anh trai là Lại bộ thượng thư Nguyễn Khản.
Mà ông này, như Phạm Đình Hổ chép trong "Vũ trung tuỳ bút", thì: "Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở cũng cứ cho tiền nó bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc. Khi ông có tang quan tư đồ (tức Nguyễn Nghiễm, cha của Nguyễn Khản, Nguyễn Du) ngày rỗi cũng vẫn sai con hát đồ khúc gọi là "ngâm thơ nôm".
Bọn con em quí thích đều bắt chước chơi bời, hầu như thành thói quen". Những anh em khác của Nguyễn Du như Nguyễn Nễ (chính là người tổ chức cuộc hát có sự tham gia của người gảy đàn đất Thăng Long mà Nguyễn Du từng gặp hồi ông còn trẻ), Nguyễn Ức (chính là người "gia đệ" trong nhan đề bài "Ngộ gia đệ cựu ca cơ") cũng là những người rất thích tổ chức các cuộc hát tại gia.
Trong một môi trường sống như vậy, sự quan tâm gắn bó của Nguyễn Du với những cầm giả, ca cơ, thiết nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Vả lại, là người rất nhạy cảm với những biến thiên, những phôi pha và tàn úa, có lẽ không gì hợp với Nguyễn Du hơn là thân phận của nghệ thuật, thân phận của những người sống bằng nghệ thuật: một cái gì đó mong manh dễ vỡ, một cái gì đó tinh tế đến mức có khi trở thành phù phiếm trước sóng gió cuộc đời.
Hãy thử đọc lại bài "Ngộ gia đệ cựu ca cơ": "Con người buổi loạn khác xưa/ Hạc tiên trở lại bây giờ ai hay/ Áo hồng giọng hát những ngày/ Bạc đầu gặp lại chốn này lênh đênh/ Chậu nghiêng nước đổ thôi đành/ Ngó sen tuy đứt tơ mành còn vương/ Lấy chồng nghe đã ba con/ Áo xưa ngán nỗi vẫn còn mặc đây" (Phạm Khắc Khoan và Ngô Ngọc Can dịch).
Trong cái nhìn của Nguyễn Du, sự khác biệt giữa xưa và nay ở người con hát mà ông từng quen biết đã bật lên qua hai sắc màu: màu hồng của ống tay áo (hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển) và màu trắng của mái đầu (bạch đầu tương kiến khốc lưu ly).
Đó cũng là sự khác biệt giữa tuổi trẻ và tuổi già, giữa cường tráng và lão suy. Tàn tạ theo thời gian, xét cho cùng, cũng là lẽ thường. Nhưng thời gian của sự tàn tạ, như nhà thơ đã xác định trong câu đầu bài thơ, là thời loạn. Vì thế sự tàn tạ không còn là sự tàn tạ tự nhiên nữa: nó là con người bị vò nhàu bởi hoàn cảnh.
Câu cuối, hình ảnh người con hát đã "ba con", mặc "chiếc áo ngày trước" (khứ thời y) nhuốm một niềm chua chát và thương cảm: cái áo như một nỗ lực vãn hồi đầy tuyệt vọng, lại như một tiếng cười mỉa của quá khứ vàng son trước hiện tại tang thương.
Hoài Nam
Nguồn: antgct