Cá anh vũ (danh pháp khoa học: Semilabeo notabilis là một loài cá thuộc họ Cá chép (Cyprinidae).
Nơi sinh sống của cá anh vũ là khu vực thượng lưu hệ thống sông Hồng, sông Kỳ Cùng và sông Lam (các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Hòa Bình, Lạng Sơn, Nghệ An) và các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam (Trung Quốc); chủ yếu tại các vực sâu nước chảy, đáy có đá. Ổ đẻ ở các hang đá của đáy sông. Thuở xa xưa, nghe nói Ngã ba Bạch Hạc, Việt Trì là "thủ đô' của loài cá huyền thoại này! Cá anh vũ được xem là một loài cá quý và thường được làm cá tiến vua trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam. Nhà văn Triệu Xuân có gia đình thông gia sống ở đây, nhưng mỗi lẫn về thăm, ông thông gia không thể nào tìm mua được loài cá ấy. Nó chỉ có trong mơ!

Cá có thân dày, thuôn dần về phía đuôi, có hai đôi râu. Thân cá có màu xám tro, bụng màu vàng nhạt. Miệng phía dưới, rạch ngang, có môi dưới rộng hình tam giác, với nhiều gai thịt tròn nổi. Cá anh vũ có kích thước trung bình, chiều dài toàn thân từ 31-67 cm, trọng lượng có thể lên đến 5 kg. Vây ngực (14 tia vây), vây bụng (8-9 tia vây), vây hậu môn (5 tia vây) có màu xám pha vàng. Vây lưng (8 tia vây), vây đuôi (?) có màu xám. Thành thục sinh dục sau 1-2 năm tuổi, mùa đẻ vào tháng 2-4[1], nhưng có tài liệu cho là từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau[2]. Thức ăn của cá anh vũ chủ yếu là tảo lục, tảo khuê và các loại động vật không xương sống nhỏ sống dưới nước bằng cách dùng môi cạo thức ăn bám trên đá.
Theo bách khoa toàn thư Việt Nam: (Semilabeo notabilis), loài cá xương nước ngọt, họ Cá chép (Cyprinidae). Thân dày, thuôn dần về phía đuôi, lưng xám tro, bụng vàng; miệng phía dưới, rạch ngang, có môi dưới rộng hình tam giác, với nhiều gai thịt tròn nổi. Sống ở tầng đáy, vùng trung lưu Sông Hồng, Sông Đà, Sông Lô, Sông Gâm, Sông Cầu, Sông Mã... và các suối, ngòi thuộc các sông trên; chủ yếu tại các vực sâu nước chảy, đáy có đá. Cá cỡ trung bình, thường nặng khoảng 0,5 - 1 kg, có con nặng tới 3 kg. Ăn các loại tảo bám, động vật nhỏ, mảnh vụn hữu cơ bằng cách dùng môi cạo thức ăn bám trên đá. Thành thục sinh dục sau 1 - 2 năm tuổi. Mùa đẻ vào tháng 2 - 4. Ổ đẻ ở các hang đá của đáy sông. Thịt rất ngon. Mùa khai thác chính vào tháng 1 - 5; khai thác bằng chài, lưới vét, te, xẻo hoặc lặn xuống tìm hang bắt bằng tay hoặc bằng bẫy lồng neo đá thả xuống đáy sông.
Sinh sản thành công cá anh vũ
Thạc sĩ Bạch Thị Tuyết, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 (Bộ Thuỷ sản) đã xác nhận: các nhà khoa học của Viện đã sinh sản thành công loài cá tiến vua cực kỳ quý hiếm, hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng...
Để thực hiện sinh sản nhân tạo loài cá này, Viện đã phải thu mua số lượng khá lớn cá anh vũ từ các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang và Cao Bằng, rồi thuần hóa.
Theo thạc sĩ Bạch Thị Tuyết, thời gian đầu việc thuần hoá thức ăn cho cá còn nhiều khó khăn do tập tính ăn của cá ngoài tự nhiên thường ăn rêu đá và các loài tảo khuê, và chưa quen với điều kiện nuôi nhốt. Nhưng sau một thời gian, cá đã bắt đầu quen sống với điều kiện nuôi nhốt, thức ăn công nghiệp và đã cho kết quả là cá sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt, có màu sắc đẹp.
Sau thời gian thuần hoá, cán bộ tại Viện đã thử nghiệm sinh sản nhân tạo thành công bằng tiêm kích dục tố LHRH-A + DOM cho cá anh vũ. Tổng số cá hương thu được là 140 con. Tổng số có 38 cá thể thành thục được (10 cá cái và 20 cá đực), chiếm 15% tổng số lượng cá đưa vào nuôi vỗ sinh sản. Và trong lần sinh sản nhân tạo mới đây, cán bộ khoa học của Viện cũng đã sử dụng phương pháp tiêm kích dục tố LHRH-A + DOM và kết quả cho thấy trứng cá được ấp trong bình và khay với tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ ra bột khá cao (tỷ lệ thụ tinh khoảng 70-75%, tỷ lệ ra bột đạt 11,5-15,5%). Cá bột được ương trong giai và theo dõi tỷ lệ sống, sinh trưởng từ cá bột lên cá hương, cá hương lên cá giống.
"Sau khi sinh sản nhân tạo thành công, quá trình theo dõi cho thấy tỷ lệ sống từ cá bột lên cá hương đạt khá cao, trung bình là 71,8%. Giai đoạn ương nuôi cá có tốc độ sinh trưởng nhanh không kém những loài cá nuôi nước ngọt truyền thống. Hiện nay tổng số cá hương thu được khoảng 3.000 con, số lượng cá trên đang được nuôi trong giai và trong bể xi măng thành cỡ cá giống để phục vụ cho nuôi thương phẩm và làm các thí nghiệm, nhằm hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi cá anh vũ" - bà Tuyết cho biết thêm.
Trong quá trình cho sinh sản nhân tạo loài cá quý hiếm này, các nhà khoa học cũng bước đầu xác định được mùa vụ sinh sản của cá kéo dài từ tháng 3-4 và tháng 10-11 hàng năm.
Ngồn: Website Hội Nông dân Việt Nam |