tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
04.08.2009
Tư liệu
Cụ Phan Thanh Giản

Phan Thanh Giản (chữ Hán: 潘清簡; Sinh ngày 11 tháng 11 năm 1796[1], mất ngày 4 tháng 8 năm 1867) là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn. Ông tự là Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Ước Phu, Lương Khê. Phan Thanh Giản xuất thân trong một gia đình nghèo khổ. Tương truyền tổ phụ Phan Thanh Giản là Phan Thanh Tập, hiệu Ngẫu Cừ, sống thời nhà Minh[2]. Sau khi nhà Minh bị nhà Mãn Thanh tiêu diệt, Phan Thanh Tập di cư sang phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (Việt Nam). Nơi đây ông cưới vợ tên Huỳnh Thị Học, sinh được một trai tên là Phan Thanh Ngạn tục gọi là Xán. Năm 1771, gia đình ông Ngạn vào Nam tạm cư ở Thanh Trông, thuộc tỉnh Định Tường Sau đó lại dời về Mân Thít, thuộc trấn Vĩnh Thanh (thuộc Vĩnh Long ngày nay); rồi lại dời về ở huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, cũng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Cuối cùng ông Ngạn đến lập nghiệp tại thôn An Hòa, làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thạnh (nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Năm 1802, ông cưới người vợ tên Lâm Thị Bút, hạ sinh được một trai tên Phan Thanh Giản tại đây.


Năm ông lên 7 (1802), mẹ ruột qua đời; cha cưới bà Trần Thị Dưỡng để có người chăm sóc con. May mắn thay, ông không những được mẹ kế hết mực thương yêu mà còn cho ông đi học với vị sư Nguyễn Văn Noa ở chùa làng Phú Ngãi.


Năm 1815, vì sự cáo gian của kẻ có thù riêng với gia đình [3], cha Phan Thanh Giản lúc ấy đang làm Thủ hạp, là một viên chức nhỏ, phải ngồi tù oan uổng.


Nóng lòng vì cha bị hàm oan, ông đệ đơn lên quan hiệp trấn Lương ở Vĩnh Long xin được thay cha vào tù. Dù không thể giúp được gì, nhưng viên quan này rất cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của chàng trai 20 tuổi, nên lựa lời an ủi và giúp ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau giồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày[2].


Sau khi cha được mãn tù, nghe lời quan hiệp trấn và được cha đồng ý, Phan Thanh Giản ở lại Vĩnh Long để tiếp tục học và chờ đợi khoa thi. Tại đây, ông gặp thêm được một tấm lòng rất đáng quí khác, đó là người đàn bà tên Ân. Nhờ vậy, ông mới có đủ áo cơm... để tiếp tục theo đuổi việc đèn sách[4].


Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam bộ.


Ông từng giữ chức Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp Quảng Bình và là giám khảo thi Hương trường Thừa Thiên (1828). Năm 1829 ông Quyền nhiếp Tham hiệp Nghệ An rồi được triệu về kinh giữ chức Phủ doãn Thừa Thiên. Khoảng năm 1831 ông làm Hiệp trấn Quảng Nam và bị giáng (lần thứ nhất) làm Tiền quân hiệu lực vì bị thua trận trong khi được phái đi dẹp loạn Cao Gồng ở Chiên Đàn (phía Bắc tỉnh Quảng Nam).


Tới năm 1832 ông được bổ chức Hàn lâm viện kiểm thảo sung Nội các hành tẩu, Viên ngoại lang bộ Hộ, quyền ấn phủ Thừa Thiên rồi Hồng lô tự khanh và được cử làm phó sứ sang sứ nhà Thanh (1832). Khi trở về, năm 1834 ông được thăng Đại lý tự khanh Cơ mật viện đại thần. Tới năm 1835 ông làm Kinh lược trấn Tây rồi Bố chính Quảng Nam, hộ lý Tuần phủ quan phòng. Năm 1836, do can gián vua Minh Mạng trong chuyến ngự giá tuần thú Quảng Nam, từ hàm tòng nhị phẩm ông bị giáng (lần thứ 2) xuống chánh lục phẩm, làm một chức quan chuyên lo việc quét dọn bàn ghế trong công đường.


Tới khoảng năm 1836-1837, ông giữ chức Nội các thừa chỉ rồi Tả thị lang bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần. Ông bị giáng (lần thứ 3) năm 1838 xuống làm Lang trung biện lý hộ vụ, vì sơ ý để thuộc viên bỏ sót, không áp kiềm (ấn, triện) vào một tờ sớ tấu.


Năm 1839, từ Thái Nguyên ông được triệu về triều lãnh chức Thông chánh phó sứ rồi thăng lên Thị lang bộ Hộ, nhưng sau đó lại bị giáng (lần thứ 4) xuống Thông chánh phó sứ vì bị vua Minh Mạng cho là có "tư tưởng bè phái" trong việc ông không ký vào bản án của Cơ mật viện quy Vương Hữu Quang tổng đốc Bình Định tội vô đạo phải trảm thủ vì đã dâng sớ can ngăn vua hay xem hát bội và xin hủy bỏ bản tuồng Lôi Phong Tháp (mặc dù sau đó, vua Minh Mạng vẫn tha tội cho tổng đốc Vương Hữu Quang và ra lệnh đốt bỏ bản tuồng).


Từ Thông chánh phó sứ ông lại bị giáng (lần thứ 5) một cấp, vì là Phó chủ khảo của trường Thừa Thiên khoa thi năm đó, nhưng đã để lọt bài phú của cử nhân Mai Trúc Tùng (mắc lỗi trùng vận), nhưng sau đó lại được thăng Binh bộ tả thị lang (1840); Tham tri bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần và là Chánh chủ khảo trường thi Hà Nội (1841); Hình bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần (1847); Lại bộ thượng thư (1848); Kinh diện giảng quan rồi Kinh lược sứ các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận (1849); Lại bộ thượng thư sung Nam Kỳ Kinh lược phó sứ, lãnh Gia Định tuần vũ, gồm coi các đạo: Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên (1851).


Ông từng được vua Tự Đức ban thưởng một tấm kim khánh trên khắc 4 chữ: "Liêm, Bình, Cần, Cán" (1852); được triệu về Kinh lãnh chức Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Binh bộ thượng thư, sung chức ở tòa Kinh diên và viện Cơ mật (8-1853); Chánh tổng tài Quốc sử quán, trực tiếp chỉ đạo việc biên soạn bộ Khâm định Việt Sử thông giám cương mục (1856-1859); Hiệp biện đại học sĩ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc Tử Giám sự vụ (1859). Sau khi 3 tỉnh miền Đông bị mất, ông cùng Nguyễn Thông có xây Văn Thánh Miếu và lập Văn Xương Các ở Vĩnh Long để qui tụ các sĩ phu về đấy.


Như vậy trước sau từng giữ các chức vụ quan trọng như thượng thư Bộ Lễ, Bộ Hình, Bộ Hộ, làm Hiệp biện Đại học sĩ, làm quan trải qua 3 đời vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (từ 1826 đến 1867).


Ông là người tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm, được nhiều người kính phục. Ông cũng từng được cử đi sứ Trung Quốc, Pháp, và nhiều nước khác...


 


Thương nghị với người Pháp


Khoảng thời gian này, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng rồi lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Ông Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn.


Hiệp ước gồm 12 khoản, theo đó, 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn (Côn Đảo) được nhượng cho Pháp (Khoản 3 Hiệp ước); triều đình phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha một khoản bồi thường chiến phí là 4 triệu piastre trong 10 năm, mỗi năm 400.000 đồng (quy ra bạc là 288 nghìn lạng - Khoản 8 Hiệp ước); đổi lại, người Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế, nhưng kèm theo điều kiện là triều đình Huế phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 Hiệp ước). Do hành động này mà dân gian có câu truyền "Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân" (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước; triều đình coi thường dân chúng). Theo nhà sử học Phan Huy Lê, nguồn gốc và xuất xứ của câu này chưa được làm rõ, theo ông câu này không thấy ghi chép lại trong những tác phẩm viết về Trương Định của những tác giả đương thời, như Nguyễn Thông.


Tuy việc thương nghị với phía Pháp, vua Tự Đức có cho ông tùy nghi tình thế mà định đoạt nhưng về việc cắt đất, nhà vua có căn dặn hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc lại 3 tỉnh với giá 1.300 vạn lạng còn nếu phía Pháp đòi cắt đất luôn thì kiên quyết không nghe nhưng Phan Thanh Giản đã phải cắt đất lại còn bồi thường chiến phí. Do đó mà hai ông khi trở về đã bị quở trách thậm tệ.[5]


Việc chuộc 3 tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long và ông lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú ThứNgụy Khắc Đản) sang nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông (1863) nhưng không có kết quả. Được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, sung Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây là: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và được tha tội cách lưu (1865).


Ngày 20 đến 24 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863) rồi An Giang và Hà Tiên. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.


Khi sang Âu Châu thương nghị với phía Pháp, tận mắt chứng kiến sự hùng mạnh của người Tây, ông đã viết bài Tự Thán


Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,


Thấy việc Âu châu phải giật mình.


Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,


Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…


 


Nhận định về Phan Thanh Giản


Phan Thanh Giản được người đời kính trọng vì tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm, không ai không kính phục. Trong cơn nước biến, thái độ ôn hòa của ông đã khiến một số người không đồng tình. Lấy lý do này, vua Tự Đức đã kết tội ông làm mất vùng đất Nam Kỳ, án trảm giam hậu[6] và cho đục bỏ tên ông ở bia Tiến sĩ (tháng 11 năm 1868). Tuy nhiên, có nhiều trí thức đương thời tỏ lòng chia sẻ những nỗi niềm của ông. Nguyễn Thông đã từng dâng sớ lên vua Tự Đức để giãi bày nỗi oan cho ông. Năm 1886 ông được vua Đồng Khánh khai phục nguyên hàm Hiệp tá đại học sĩ và cho khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ[7].


Khi sắp mất, Phan Thanh Giản có dặn con cháu, không được cộng tác với giặc Pháp và tự tay viết mấy dòng chữ trao cho người nhà: "Minh tinh thỉnh tỉnh, nhược vô, ưng thư: Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu" (Tấm triệu (ghi chức tước của người chết đi theo sau quan tài) nên bỏ, nếu không thì chỉ cần ghi: linh cữu người học trò già họ Phan ở nơi góc biển).


Nhà thơ đương thời Nguyễn Đình Chiểu tỏ thái độ thương tiếc và trân trọng đối với ông Phan Thanh Giản qua bài thơ điếu:


Minh tinh chín chữ lòng son tạc


Trời đất từ rày mặc gió thu.


Trong bài "Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong", ông Đồ Chiểu một lần nữa nêu cao Trương Định và Phan Thanh Giản:


Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh


Ý người đặng xem tấm bảng phong trần, Phan học sĩ hết lòng cứu nước.


Hai con trai của ông, Phan Tôn (1837-1893, tự Quý Tướng), Phan Liêm (1833-1896 tức Phan Thanh Liêm), nổi lên chống Pháp tại tỉnh Vĩnh Long, lập thành nhóm Cần Vương từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1867. Khi bị dẹp, hai ông bỏ trốn ra Bình Thuận. Người ta lại gặp hai ông bên cạnh Nguyễn Tri Phương ở Hà Nội, rồi bị bắt làm tù binh ngày 20 tháng 11 năm 1873, sau hòa ước Giáp Tuất hai ông được trao trả cho triều đình Huế, rồi sau đó đưa sang Pháp. Một thời gian sau, Pháp đưa hai ông trở về VN. Phan Liêm trở thành thầy dạy của Bửu Lâm 10 tuổi, sau là vua Thành Thái.


Một sĩ quan Pháp là Reunier, người đã từng tham gia chiến tranh ở Trung Quốc và Nam Kỳ cũng như là người phản đối việc chính phủ Pháp triệt binh ra khỏi Nam Kỳ cũng từng nhận xét về vị đại thần nhà Nguyễn trong một quyển sách của ông:


Sống trong 4 tháng gần vị lão thành cao thượng ấy, chúng tôi có thể đánh giá các đức tính của ông ta... trong thời gian vượt biển này (chuyến đi sứ sang Pháp) ông không ngớt được khuyến khích bởi lòng nhiệt thành ái quốc của ông, và thúc đẩy bởi nguyện vọng thực hiện được công chuyện hữu ích cho nước nhà...[8]


Trước đây, có những ý kiến, những đánh giá khác nhau về Phan Thanh Giản. Năm 1963, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử phát hành tháng 10 có đăng bài viết của ông Trần Huy Liệu với tiêu đề "Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản" kết tội ông là kẻ "bán nước".[9] Bởi vậy mà sau ngày giải phóng, ở nhiều nơi những con đường mang tên Phan Thanh Giản đều bị xóa tên, tượng ông bị đập phá và mồ mả đền thờ bị bỏ phế.


Cho tới những ngày đầu năm 2008, Viện Sử học Việt Nam đã thống nhất kết luận rằng ông nổi tiếng về đạo đức, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc, nên đề nghị tôn vinh ông, cho khôi phục, tôn tạo những di tích và những gì gắn liền với ông (và đã được giới có thẩm quyền chấp thuận)... Vào năm học 2008-2009, trường THPT Ba Tri ở tỉnh Bến Tre được đổi thành THPT Phan Thanh Giản và tượng ông sẽ được dựng lại[10].


Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, Bến Tre.


Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang vẫn coi ông là một vị thần.(xem ảnh bên dưới)


Tác phẩm


Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn với nhiều tác phẩm giá trị.


Lương Khê thi thảo


Lương Khê văn thảo


Sứ Thanh thi tập


Tây phù nhật kí


Ước Phu thi tập


Tích Ung canh ca hội tập


Sứ trình thi tập


Việt sử thông giám cương mục (Chủ biên)


Minh Mạng chính yếu (Chủ biên).


Ông còn là vị Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn trông nom biên soạn nhiều bộ sử quan trọng của Việt Nam(như Đại Nam Thực lục).


Chú thích


^ 12 tháng Mười năm Bính Thìn âm lịch


^ a b Phan Thanh Giản (1796 – 1867) Trang chủ chính thức tỉnh Vĩnh Long. Truy cập ngày 6 tháng 3, năm 2008


^ Theo GS Trịnh Vân Thanh, sách đã dẫn bên dưới. Còn Web Vĩnh Long thì cho biết: Phan Thanh Ngạn, đang làm thủ hiệu Phòng Công chánh Vĩnh Long bị lỗi vì chuyện thuế má phải chịu một năm tù[1]


^ Phần tiểu sử dựa theoThành ngữ điển tích danh nhân từ điển của GS Trịnh Vân Thanh (tác giả tự xuất bản, Sài Gòn, 1966, tr.993)


^ Tập san Sử Địa chuyên khảo Phan Thanh Giản tr 91


^ Đại Nam thực lục, t.32, Hà Nội 1974, tr.269.


^ Đại Nam thực lục, t.37, Hà Nội 1997, tr.223, 225.


^ Tập san Sử Địa số 7-8 Đặc khảo về Phan Thanh Giản tr26


^ Trần Huy Liệu: Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 55, tháng 10-1963, tr. 18-19


^ Theo Báo Tuổi trẻ ngày 14 tháng 3 năm 2008[2][3]


 


Phan Thanh Giản đã được giải oan sau 150 năm


Tháng 8 vừa qua, tôi mới được về  xứ dừa. Đất Bến Tre đã sinh ra những tên tuổi lẫy lừng. Chỉ riêng tướng lĩnh cách mạng đánh Pháp và đánh Mỹ, Bến Tre đã có tới 18 vị…


Trong chuyến “về nguồn” ấy, tôi đã rất toại nguyện được đến thăm đền thờ và lăng mộ của  cụ Phan Thanh Giản ở huyện Ba Tri. Cụ Phan là một nhân vật lịch sử, là nhà thơ, nhà sử học lớn của dân tộc mà tôi rất khâm phục và ngưỡng mộ.


Đã 141 năm, kể từ ngày 4/8/1867, cụ Phan Thanh Giản kết thúc đời mình bằng 17 ngày nhịn ăn và chén thuốc độc tự vẫn vì buồn đau, thương dân thương nước. Bi kịch đời cụ là bi kịch lịch sử cần được làm sáng tỏ. Chuyện ấy đã thành sự thật.


Khi thăm mộ và đền thờ Phan Thanh Giản, chúng tôi thấy rất nhiều vòng hoa đang còn tươi của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân tỉnh Bến Tre, Huyện ủy, UBND, HĐND huyện Ba Tri, rồi các ban ngành, sở, xã Bảo Thạnh (Ba Tri) đến viếng nhân ngày giỗ của cụ ngày 4/8.


Nghĩa là đám giỗ cụ đã được tỉnh long trọng tổ chức, chỉ một tuần trước khi chúng tôi đến Bến Tre. Dịp này, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long cũng đã tổ chức lễ rước và an vị tượng Phan Thanh Giản tại Khu Di tích Văn Thánh Miếu Vĩnh Long - nơi Kinh lược sứ đại thần Phan Thanh Giản tuẫn tiết.


Pho tượng do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phụng hiến. Tượng đúc bằng đồng, cao 85 cm, nặng 250 kg, được tỉnh Vĩnh Long đặt trang trọng tại nơi thờ trong Văn Thánh Miếu.  


Thật vui khi được biết, ngày 24/1/2008, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Đặng Văn Bài vừa có công văn gửi UBND tỉnh Bến Tre, cho biết Cục đã làm việc với Viện Sử học và cơ quan này có công văn nêu rõ, các nhà sử học đánh giá cao công lao của cụ Phan Thanh Giản trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa.


Cụ nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên các lĩnh vực văn học, sử học... Viện Sử học kết luận: “Với nhận thức mới trên quan điểm lịch sử cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau”. Đó là sự phán quyết  công bằng. Như vậy Phan Thanh Giản đã được giải oan sau gần 150 năm mang tiếng “bán nước”.


Cụ Phan Thanh Giản sinh năm 1796, đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa thi Đình năm Bính Tuất (1826) ở Huế. Cụ là người đỗ Đại khoa tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ.


Tháng 9/1835, cụ được phong Hiệp biện Đại học sĩ, đó là chức quan hàm tùng nhất phẩm, trên thượng thư một bậc. Năm 1834, cụ được phong Sung Cơ mật viện. 1848 đổi sang Thượng Thư Bộ lại; 1851 làm Kinh lược phó sứ Nam Kỳ; 1853 Thượng thư Bộ Hình, Sung Cơ mật viện; 1856: Chánh tổng tài Quốc sử quán…


Những năm 1836, 1840  bị giáng chức vì can ngăn vua, có năm phải đi khai mỏ vàng ở Thái Nguyên (1838) sau đó lại được phục hồi chức phẩm. Cụ là Tổng tài phụ trách việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục trong ba năm 1856-1859, là bộ Quốc sử đồ sộ, lớn nhất thời Nguyễn  gồm 53 quyển.


Về văn thơ cụ có Lương Khê thi thảo gồm 454 bài thơ và Lương Khê văn tập (1876) do các con tập hợp in sau khi cụ mất. Cụ còn có các tập thơ, nhật ký như Sứ Thanh thi tập, Tây phủ Nhật ký, ghi chép trong chuyến đi Pháp…


Cụ cùng Nguyễn Thông đã có công xây Văn Thánh Miếu và lập Văn Xương Các ở Vĩnh Long… Chỉ ngần ấy thôi cụ cũng đã là nhà văn, nhà văn hóa, nhà sử học lớn của dân tộc.


Nhưng nói về Phan Thanh Giản từ 150 năm nay có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Không ít người cho rằng ông là người có tội trong việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ vào tay quân Pháp khi ông làm Chánh sứ toàn quyền đại thần ký hòa ước Nhâm Tuất 1862, từ đó có câu ca dân gian lên án Phan Thanh Giản “bán nước” “Phan, Lâm mãi quốc; triều đình khi dân”.


Vua Tự Đức, ông vua “chủ hòa” đã cho rằng cụ đã làm mất Lục tỉnh Nam Kỳ, nên phán: ”xét phải tội chết, chưa đủ che được tội” và nghi án “truy đoạt lại chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậu”.


Các nhà sử học cũng không đồng nhất quan điểm. Nhiều nhà sử học quê hương Nam Bộ hiểu nhân cách và khí tiết Phan Thanh Giản đã không đồng thuận với phán xét của vua Tự Đức và quan điểm của chính sử đương thời.


Năm 1963, ở miền Bắc, kết luận tổng kết cuộc tranh luận về Phan Thanh Giản trên Tạp chí Lịch sử, một nhà sử học đã lại lên án Phan Thanh Giảm phạm tội “bán nước”, “dâng thành hiến đất cho giặc”. Dù vậy, cũng không giải tỏa được băn khoăn của nhân dân và giới sử học.


Nhưng quan niệm của đồng bào Nam Bộ lại khác. Ngay sau khi cụ tuẫn tiết, nhân dân Vĩnh Long đã đưa linh vị của cụ vào thờ ở Văn Thánh Miếu.  Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ, nhà yêu nước cùng thời, cùng sống ở Ba Tri với Phan Thanh Giản lại có thơ điếu ca ngợi cụ: “Minh tinh chín chữ lòng son tạc…”.


Trong Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong, cụ Đồ Chiểu viết về Phan Thanh  Giản: “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”. 10 năm sau khi Phan Thanh Giản tự vẫn, năm 1886, vua Đồng Khánh đã xét lại công tội của cụ và đã ra chiếu chỉ  “khai phục nguyên hàm” và khắc lại tên trong bia tiến sĩ ở Văn Miếu Huế cho cụ Phan Thanh Giản. Dưới chân núi Ba Thê, Thoại Sơn, An Giang có đền thờ Phan Thanh Giản từ trăm năm trước.


Ở xã Tương Bình Hiệp (Bình Dương), từ khi cụ mất, nhân dân đã thờ cụ ở trong Đình làng. Và ngày 25/8/1924, vua Khải Định đã sắc cho đình Tương Bình Hiệp thờ cụ làm thần.


Bản sắc dịch ra như sau: “Nay sắc cho xã Tương Bình Hiệp, tổng Bình Phú, tỉnh Thủ Dầu Một phải phụng thờ Tam giáp Tiến sĩ, Hiệp tá đại học sĩ, Sung cơ mật viện đại thần Phan Thanh Giản tướng công làm thần giữ nước giúp dân. Vì ông thường linh ứng nên nhân tiết tứ tuần đại khánh trẫm ban bửu chiếu phong cho ông vào bậc ĐOAN TÚC DỰC BẢO TRUNG HƯNG TÔN THẦN, chuẩn cho phụng thờ ông làm thần để giúp đỡ và che chở dân đen của ta...”.


Như vậy các vua Nguyễn sau Tự Đức đã hiểu đúng công lao của Phan Thanh Giản!


Trước năm 1867, trong thư gửi cho Tổng đốc An Giang và Tổng đốc Hà Tiên, Chánh sứ Phan Thanh Giản viết: “Lá cờ ba sắc (chỉ cờ Pháp) không thể phấp phới bay trên một thành lũy ở đó Phan Thanh Giản còn sống…”.


Theo sử sách thì cụ Phan có ba người con trai là Phan Hương, Pham Liêm và Phan Tôn sau khi cha mất đã cầm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Ba Tri, Bến Tre cuối năm 1867.


Khi cuộc khởi nghĩa bị quân Pháp đàn áp, ba anh em dùng thuyền chạy thoát ra Bình Thuận. Phan Hương ở lại Phan Thiết, ẩn mình sống bằng nghề nông. Còn Phan Tôn và Phan Liêm đi bộ ra Huế, sau đó theo Nguyễn Tri Phương ra Bắc chống Pháp, tử thủ bảo vệ thành Hà Nội. Sau khi bị bắt, hai anh em được đưa sang Pháp.


Năm 1888, chính phủ Pháp cho về lại Việt Nam, Phan Liêm được bổ làm Phủ doãn Thừa Thiên và là người thầy dạy dỗ Bửu Lâm 10 tuổi, tức vua Thành Thái mới lên ngôi.


Thầy Phan Liêm đã truyền cho vị vua trẻ ý chí chống Pháp, nên vua đã liên hệ với nhóm Trần Cao Vân kháng chiến, bị bọn Pháp phế truất, đày sang đảo La Réunion…


Cuối năm 1994, tại Vĩnh Long, hai tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long phối hợp với Hội khoa học lịch sử đã tổ chức cuộc Hội thảo khoa học lớn về Phan Thanh Giản với ý muốn làm rõ hơn công tội của cụ.


Cuộc Hội thảo này có nhiều  bài tham luận công phu, sâu sắc, là một bước tiến mới, công bằng hơn trong đánh giá Phan Thanh Giản. Sau cuộc hội thảo này giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (lúc đó) đã có một bản kết luận sâu sắc và công tâm.


Có thể đây là một cơ sở để giúp cho Cục Di sản và Viện Sử học đi đến quyết định “phục hồi danh dự” cho cụ Phan Thanh Giản năm 2008.


… Người dân Miền Tây hiểu rất rõ công tội của cụ Phan Thanh Giản, rằng thời kỳ đó, triều đình Huế là mới là nguyên nhân chính để mất lục tỉnh Nam Kỳ, vì đã quyết “chủ hòa”.


Cụ Phan Thanh Giản không thể tự mình làm trái ý vua. Nên không thể quy cho cụ tội “bán nước” hay “phản bội Tổ quốc”. Mặc dù cụ vẫn ý thức được hoàn cảnh và trách nhiệm của mình.


Trong lá sớ gửi vua Tự Đức trước khi tự vẫn, cụ viết: “Nghĩ tôi đáng chết, không dám sống cẩu thả để cái nhục lại cho quân phụ”!


Đứng trước mộ cụ Phan Thanh Giản tôi cứ nghĩ miên man về nỗi niềm lịch sử. Hết lòng vì dân vì nước nhưng lại không được người đời hiểu mình.


Hơn ba chục năm qua, tất cả những đường phố, trường học mang tên Phan Thanh Giản đều bị gỡ bỏ. Tượng cụ ở Châu Thành, ở trường Trung học Cần Thơ cũng bị gỡ. Hẳn nhiên bức tượng nằm trong lòng dân mới là vĩnh cửu. 


Một tin vui nữa là tại kỳ họp lần thứ 13 HĐND tỉnh Bến Tre khóa VII (ngày 10 và 11/4/2008) đã thông qua việc đổi tên trường THPT Ba Tri thành trường THPT Phan Thanh Giản từ năm học 2008-2009. Sắp tới tỉnh sẽ dựng lại tượng cụ Phan Thanh Giản.


Rời Ba Tri, tôi cứ ước ao không chỉ ở Bến Tre, Vĩnh Long mà tên của Đại thần Phan Thanh Giản tài hoa, khí tiết sẽ được đặt cho nhiều trường học và đường phố miền Nam như trước đây.


Bến Tre - Huế, 8-2008


Ngô Minh


(Tham khảo sách: Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam; TTBTDT Cố đô Huế; Tạp chí Xưa & Nay xuất bản, năm 2002).  


 


Trường trung học Phan Thanh Giản (Cần Thơ)


 


Trường trung học Phan Thanh Giản, tiền thân là Collège de Can Tho là một trường trung học tại Cần Thơ. Thành lập năm 1917, trường là một trong các cơ sở giáo dục lâu đời nhất của Cần Thơ và Việt Nam.


Lịch sử


Ngày 17.3.1879, Collège de My Tho (nay là trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho) được thành lập. Vì số học sinh quá đông, nên đến năm 1917, trường My Tho mở một chi nhánh ở Cần Thơ với tên gọi Collège Can Tho [1]. Học sinh học xong lớp bổ túc tiểu học (Cours Complémentaire) ở Collège Can Tho sẽ được chuyển sang học ở Collège My Tho cho đến hết năm thứ tư (4e Année de l'Enseignement Primaire Superieur Franco Indigène, tương đương lớp 9 hiện nay). Mãi đến những năm 1924-1926, khi đã mở đủ các lớp thuộc bậc Cao đẳng tiểu học, Collège Can Tho mới tách riêng ra và không còn là chi nhánh tuỳ thuộc Collège My Tho nữa [1].


Lúc đầu, trường chỉ có một dãy tầng lầu, còn được dùng làm nơi nội trú cho học sinh của trường Sơ Học tỉnh Cần Thơ ở đối diện [2]. Đến năm 1921, trường xây hoàn tất dãy lầu thứ hai và thêm những kiến trúc phụ thuộc nối liền hai dãy lầu [2].


Tháng 6 năm 1929, và cũng là lần đầu tiên, trường Collège Can Tho chính thức gởi thí sinh thi Brevet Elémentaire và Brevet D'Enseignement Primaires Supériers Franco Indigènes (bằng Cao đẳng tiểu học Pháp, tương đương với bằng tốt nghiệp cấp 2 hiện nay, lúc đó bằng cấp này đã là khá cao trong xã hội). Số thí sinh ghi là 21, ngoại trừ 1 người bỏ cuộc, còn tất cả 20 đều đậu [2].


Trong giai đoạn chiến tranh Đông Dương, 1941-1942, trường cũ bị sung công và chỉ đến năm 1956 mới trả lại cho trường [3].


Bắt đầu từ tháng 8 năm 1945 trường chánh thức lấy tên là trường Trung học Phan Thanh Giản [2]. Giai đoạn 1956-1975 là giai đoạn có số lớp học cao nhất trong lịch sử của trường, gồm 112 lớp Ðệ Nhất cấp (tương đương trung học cấp 2 hiện nay) và Ðệ Nhị cấp (cấp 3) với hai môn sinh ngữ Anh vănPháp văn[3]. Đến niên học 1963-1964, khu trường Ðệ Nhất cấp Nam (cấp 3 trung học) chuyển sang khu trường Phan Thanh Giản cũ để giao trường mới (dùng từ năm 1942, khi trường cũ bị sung công) lại và thành lập trường Nữ trung học Đoàn Thị Điểm, từ đó trường Phan Thanh Giản là trường chỉ còn có học sinh nam [3].


Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, trường tách ra làm 2, Ðệ Nhị Cấp (Cấp 3 hiện nay) sang học ở Khu trường mới (tức trường Ðoàn Thị Ðiểm cũ), Ðệ Nhất Cấp (tức cấp 2 hiện nay) học ở trường Phan Thanh Giản và đổi tên là Trường An Cư 1 [3].


Đến năm 1983, Cấp 3 trở lại trường Phan Thanh Giản cũ (trường An Cư 1) và cấp 2 học rải rác trong nhiều phường, gọi là Phổ thông Cơ sở. Trường Đoàn Thị Điểm cũ mang tên Phổ thông cơ sở An Cư 1 còn Trường cấp 3 (Phan Thanh Giản cũ) mang tên Trường Phổ thông Trung học Cần Thơ [3].


Vào tháng 11 năm 1985, trường đổi tên là trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm. Trường Phổ thông cơ sở An Cư 1 đã được trở về tên cũ là trường trung học Đoàn Thị Điểm từ năm học 1992-1993 về sau [3].


 


Hiệu trưởng qua các thời kỳ










1921-1924 : Ông Paul Espelette


1924-1925 : Ông Louis Reybouder


1926-1926 : Ông Louis Boulliard


1927-1929 : Ông Pierre Manière


1930-1930 : Ông C. Cadilion


1931-1931 : Ông A. Bizot


1931-1934 : Ông Charles Paquier


1934-1935 : Ông Gabriel Jalat


1935-1936 : Ông Charles Paquier


1936-1937 : Ông V. Vincenti


1937-1944 : Ông P. de Fautereauvassel


1944-1945 : Ông Maurice Lamarre


1946-1946 : Ông Nguyễn Bá Cường



1947-1947 : Ông Trương Vĩnh Khánh


1947-1949 : Ông Nguyễn Bá Cường


1950-1951 : Ông Dương Văn Dỏi


1952-1957 : Ông Nguyễn Băng Tuyết


1957-1957 : Ông Bửu Trí


1957-1962 : Ông Nguyễn Văn Kính


1962-1964 : Ông Lưu Khôn


1964-1967 : Ông Phạm Văn Đàm


1967-1970 : Ông Nguyễn Trung Quân


1970-1971 : Ông Phạm Duy Khiêm


1971-1973 : Ông Trương Quang Minh


1973-1975 : Ông Võ Văn Trí [3]



 


Cựu học sinh nổi bật


Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, nhà nông học


Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng Việt Nam Cộng hòa [4]


Châu Văn Liêm, nhà cách mạng


Phạm Văn Bạch,


Nguyễn Văn Kiết,


Lương Định Của, nhà nông học


Sơn Nam, nhà văn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »