Tôi không có cái ý nghĩ dại dột muốn leo vào ngồi chầu bên chiếu sử. Nhưng lịch sử dân tộc là lịch sử của tổ tiên ông bà xa gần của mình, không biết nhiều cũng biết ít vì đó là chuyện thiết thân, không thể để ai nói sao thậm chí xúc phạm, cũng được. Người không quan tâm đến lịch sử dân tộc dễ thành vong bản nên tôi mạo muội đôi lời sau khi đọc bài của Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam đăng trên Tạp chí cộng sản số 799 (tháng 5/2009).
Ông Chủ tịch hỉ hả khoe rằng cuộc hội thảo về vương triều Nguyễn do ông làm chủ xị được chuẩn bị chu đáo, thận trọng, công phu và xu hướng chung của dư luận đã đánh giá cao kết quả của hội thảo. Vậy sao sau đó Ban Tuyên giáo trung ương lại có văn bản báo cáo Ban Bí thư đề nghị chỉ đạo, quản lý chặt chẽ việc tổ chức các cuộc hội thảo có liên quan tới những vấn đề nhạy cảm trong lịch sử đã được kết luận. Và nêu đích danh như cuộc hội thảo tại tỉnh Thanh Hóa về vương triều nhà Nguyễn?! (Thông báo số 213 - TB/BTGTW ngày 13/3/2009) Phải chăng cấp lãnh đạo đã cảm nhận sự khác thường từ các cuộc hội thảo hầm bà làng mặt trận đã bị mấy thầy phù thuỷ chuyên ngành lợi dụng mưu hoán mây đảo vũ?! Chính vì thế mà nó được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và để lại một dư âm khá sâu sắc! Đức tính quan trọng nhất của người làm sử là trung thực, của người thầy là gương mẫu, mà ở đây ông dối trên lừa dưới, nói sai sự thực!
Ông Chủ tịch khoe cuộc hội thảo mở rộng có nhiều nhà khoa học quốc tế tham dự! Thưa ông, với khoa học tự nhiên, việc mở rộng cửa đón gió bốn phương thật hữu ích vì tính đặc thù của nó, dễ có cái nhìn khách quan vô tư thật sự. Nhưng với khoa học xã hội xin hãy coi chừng, nhất là môn sử học, không thể tin là có sự khách quan vô tư được vì mỗi quốc gia dân tộc còn bị chi phối nặng nề bởi những sự khác biệt về văn hóa, lịch sử, tình cảm và quyền lợi. Hỏi ông bạn phương Bắc về các cuộc Nam chinh, họ sẽ đổ lỗi do ta bất tài, bất lực, huynh đệ huých tường không bảo được nhau, phải chạy qua cầu cứu họ! Hỏi ông bạn phương Tây về cuộc chinh Đông vừa chấm dứt, người ta sẽ bảo chúng ta dại, dám mó dái con la của giáo hoàng (!) để lãnh đủ một cú đá hậu kinh hồn! Và tất nhiên họ sẽ chỉ cho ông những con người như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long, Tự Đức, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là những tấm gương ái quần ái quốc, học rộng sáng suốt nhìn xa; các ông tây giương cao biểu tượng Chúa bị đóng đinh giang tay cứu khổ, đi tiên phong dụ dân chiếm đất như Pigneau de Béhaine (Bá-đa-lộc), Alexandre de Rhodes (Đắc-lộ)… là những nhà thông thái, bác ái vị tha! Người trong một nước cũng vậy thôi. Đến hôm nay chúng ta vẫn mỗi người một ý cũng từ đấy mà ra.
Ông Chủ tịch từng sống trong một thời đại đặc biệt bi tráng của dân tộc ta, hẳn ông biết rằng ngày 30 tháng tư năm 1975, vừa chấm dứt cuộc chiến tranh can thiệp của ngoại bang, nhân dân ta còn phải chiến đấu hơn chục năm nữa để bảo vệ biên cương mà thực chất là cuộc chiến tranh khủng bố cũng do các thế lực ngoại bang kích động. Vậy là kể từ năm 1990 đến nay, nhân dân ta mới có hai thập niên được thở phào nhẹ nhõm tạm yên một bề lo chuyện áo cơm. Bao nhiêu bà mẹ mất con vẫn bơ vơ. Bao nhiêu góa phụ vẫn nhọc nhằn một nắng hai sương lo toan cho bầy con nheo nhóc. Bao nhiêu trẻ mồ côi vất vưởng lớn lên không nơi nương tựa. Bao nhiêu vấn đề tinh thần của thời hậu chiến cần phải làm ngay để trả lại sự công bằng cho những người đã vì nước quên thân trong những hoàn cảnh đặc biệt khác nhau. Bao nhiêu vấn đề cần nhìn lại trên con đường gập gềnh cả dân tộc mới đi qua. Liệu làm bao lâu mới hết khi quá trình kháng chiến chống ngoại xâm phải được coi như truyền thống kế tiếp hàng trăm năm liên tục chứ không thể ngắt lại chỉ tính phần sau? Và làm được tới đâu là thiết thực góp phần giảm đi những nỗi đau hiện hữu của đồng bào mình và làm mát những linh hồn chưa được an ủi, giải minh. Vậy mà ông trùm môn sử học đã vội đầu têu dựng lên chuyện thanh minh chiêu tuyết cho một vương triều đầy tội lỗi, mưu toan phong thánh cho những kẻ coi thường vận mệnh quốc dân!
Phải chăng, trong các môn học ở nhà trường, sử học là môn học cần nhất đến chữ tâm? Lòng dạ mình yêu ai, hướng về đâu sẽ quyết định thái độ và hành động của mình. Những ai cùng chân thành yêu một tổ quốc, yêu một cộng đồng, sẽ dễ đồng cảm với nhau trong việc nhận ra bạn, thù và người tốt, xấu.
Trong lịch sử đế chế Việt Nam, khi một triều vua thoái hóa, hủ lậu, đe dọa sự tồn tại của quốc gia, lập tức nó bị loại đi. Một vương triều mới bản lãnh hơn đảm trách và hoàn thành sứ mạng bảo vệ tổ quốc lâm nguy. Sau đó, kế tiếp nhau mở mang bờ cõi và để lại trong lòng nhân dân mối tình thâm sâu mãi theo chiều dài lịch sử. Riêng triều đại Nguyễn Gia Long là ngoài lệ và nó đã không làm tròn sứ mạng của một vương triều trước tổ quốc và dân tộc. Nó trực tiếp được hưởng lộc lớn từ triều đại Tây sơn oanh liệt đã đặt nền móng vững chắc cho việc thống nhất đất nước và bớt đi gánh lo nạn ngoại xâm cố hữu đến từ phương bắc. Vậy mà, giống như ngụy triều Mạc, vương triều nhà Nguyễn đã làm điều tệ hại nhất là tự cắt đất của tổ tiên giao cho ngoại bang. Họ Mạc dâng một khoảnh đất tương đương 5 huyện biên giới phía bắc, trong khi nhà Nguyễn hào phóng hơn, giao toàn bộ đất Nam kỳ - công lao của chín đời chúa 300 năm khai phá! Sau khi dẫn mấy vạn quân Xiêm về làm nhiều điều tàn ác, quấy nhiễu dân lành - là những người chạy theo tổ tiên mình vào phương nam mở mang bờ cõi, bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác, lãnh chúa sa cơ Nguyễn Ánh đã giao đứa con 5 tuổi cho viên giám mục tây Bá-đa-lộc làm đại diện cho mình qua cầu viện Pháp hoàng, ký bản giao ước năm 1787 đại lược rằng: Để đổi lấy vũ khí và viện binh, Chúa lưu vong cắt đứt Hội An và đảo Côn lôn cho Pháp; hứa sẽ là nguồn cung cấp binh lính và lương thực khi nước Pháp cần qua đánh ở phương đông; để cho nước Pháp độc quyền ra vào buôn bán và hàng năm nộp cống vật là một chiếc tàu như Pháp đã cho! Thì ra, những hiệp ước 1862, 1874, 1884… chỉ là các vua kế nghiệp triều Nguyễn phát triển bản thảo của tổ vương xưa! Nếu như không có chuyện vua Louis XVI và hoàng hậu Maria Antoinnette cùng đám bảo hoàng bị cách mạng Pháp 1789 treo cổ, thỏa ước trên được thực thi thì như một sử gia Pháp nhận định: Có lẽ nước Pháp đã hoàn thành cuộc bảo hộ ở An Nam từ 100 năm trước, khiến cho về sau khỏi phải dùng đến sự chiến tranh mới xong công việc! Còn một sự kiện không thể bỏ qua là khi hai mươi vạn quân Thanh đang dày xéo xứ Bắc, Nguyễn Huệ đang điều quân từ nam ra tiễu trừ lũ giặc trời thì Nguyễn Ánh cũng cho một đoàn thuyền chở đầy lương thực mang ra úy lạo quân Thanh! Việc làm tiếp tay cho giặc ấy trời không dung, đã nổi lên giông bão, đánh chìm hết người và hàng ở ngoài khơi! Lê Chiêu Thống một lần cõng rắn cắn gà nhà đã bị lên án muôn đời. Gia Long diễn lại không chỉ một lần mà nhà sử học đầu ngành của nước Việt Nam độc lập coi như một sai lầm, một tỳ vết hay là điểm mờ trong cuộc đời và sự nghiệp của người khai sinh ra vương triều Nguyễn! Còn có người vận dụng phương pháp sử học so sánh, đánh giá Gia Long như là Pie đại đế của Việt Nam! Gia Long trên cơ bạo chúa Pie về cách trả thù tàn độc. Nhưng về tầm vóc trong việc mở mang và canh tân đất nước vướn lên mà so sánh hai nhân vật ấy với nhau, e dân tộc Nga vĩ đại cười cho sự so sánh lố lăng! Ông Chủ tịch dùng chiêu gọi là phương pháp nghiên cứu khu vực học, đem so sánh nước ta với những nước lân bang lớn nhỏ, hàm ý vừa bênh triều trước vừa móc triều nay. Từ đó suy ra một nước như ta, nhỏ bé nghèo hèn thì mất nước là không tránh khỏi! Dù có làm thân trâu ngựa cho một đại quốc như Phú-lang-sa vẫn mát mày mát mặt! Cho nên đấng tiền nhân liệu sức không chống nổi vội bẻ gươm giáo quy hàng, trước hết là vì yêu nước thương dân, sau là có óc sáng suốt sớm nhìn xa xu thế thời cuộc sẽ về đâu! Từ đó suy luận rộng ra rằng cuộc trường chinh hàng trăm năm chống ngoại xâm của dân tộc ta là không cần thiết, đã tổn hao bao nhiêu xương máu mà bây giờ ta đi lại từ bước khởi đầu.
Quan Chánh sử nước Việt Nam hiện đại có đi qúa không khi nêu ra những hiệp ước của nhà Nguyễn ký đầu hàng nước Pháp, đang là cơ sở pháp lý cho ta giữ nước ngày nay? Đây là chiêu độc của ông. Ông lập bảng thành tích báo công, mập mờ biến kẻ có tội bán nước thành có công giữ nước! Ông lắt léo đưa ra những chứng cớ không còn giá trị, làm giảm uy tín của Chính phủ Việt nam kháng chiến, gián tiếp phục hồi uy tín cho một vương triều vô trách nhiệm với thần dân. Chuyện này chưa xa, sách báo có nhiều, còn nhiều chứng nhân đang sống. Để bạn đọc khỏi mất thì giờ khảo cứu tư liệu, tôi tóm lược đại để như sau: Kể từ sau hiệp ước Patenôtre, thật sự dân ta hoàn toàn mất nước. Vua chỉ là tay sai đắc lực cho chính sách thực dân lấy người bản xứ trị người bản xứ, hoàn toàn đối lập với quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Khi chiến tranh thế giới II nổ ra, nước Pháp bị xâm lược, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương bị cô lập. Phát xít Nhật từ bức ép dần tới lật đổ một chính quyền thù địch. Quân đội Pháp mau chóng tan rã, hoạc bị tiêu diệt, đầu hàng hay bỏ chạy. Đông Dương đã vào tay Nhật. Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, Đại sứ Nhật thay mặt Thiên hoàng gặp vua Bảo Đại, tuyên bố trao trả Việt Nam mà họ vừa giành được từ tay người Pháp, đương nhiên trong đó có cả Nam kỳ. Lập tức hoàng đế An Nam tuyên bố hủy bỏ mọi sự ràng buộc bởi những hiệp định trước đây Nam triều đã ký kết với nước Pháp. Nước Việt Nam được hưởng quyền độc lập. Tuy nhiên thực chất lại nằm trong tay phát xít Nhật đang hấp hối trước sự phản công mạnh mẽ của các lực lượng dân chủ toàn cầu mà mũi nhọn là quân đội Đồng minh. Nắm thời cơ lịch sử ngàn năm có một, Mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân cả nước kháng chiến chống Nhật, ủng hộ Đồng Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra gần đồng thời trong cả nước, giành chính quyền về tay nhân dân. Vua Bảo Đại ra Chiếu thoái vị, trao quyền điều hành đất nước cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trước sự hân hoan của đồng bào khắp Bắc-Trung-Nam. Người tuyên bố với toàn thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam giành độc lập từ trong tay phát xít Nhật chứ không phải từ trong tay Pháp và từ đây đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa hàng trăm năm và chế độ phong kiến hàng ngàn năm. Việt Nam là một nước cộng hòa-dân chủ, thống nhất và độc lập. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước, bầu ra quốc hội đại diện cho 20 triệu đồng bào, bao gồm nhiều dân tộc, đảng phái và các thành phần xã hội cùng tham gia. Quốc hội bầu ra Chính phủ Việt Nam kháng chiến. Bảo Đại được mời làm Cố vấn tối cao của Chính phủ và là thành viên Ban soạn thảo Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập - Xem ra so với số phận vua Phổ Nghi cuối đời nhà Thanh, bị cách mạng Trung Hoa bỏ tù, rồi làm người dọn vườn trong hoàng thành Bắc kinh cho tới chết, thật là một trời một vực.
Tuy nhiên nước Pháp vẫn không chịu để mất Việt Nam. Họ nấp sau quân đội Đồng minh để tái xâm lược nước ta. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, nhân dân Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân Nam bộ đã nổ súng kháng chiến. Chiến sự mở rộng ra. Nhân dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng. Tháng 6 năm 1946, Chính phủ cộng hòa Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Paris đàm phán. Tại Hội nghị Fontainebleau, trước chính giới Pháp và công luận thế giới, Hồ chủ tịch tuyên bố: Miền Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, tiếng súng kháng chiến lan ra toàn quốc. Chính phủ rời Hà Nội lên Việt Bắc lập chiến khu kháng chiến. Tuy nhiên, trước đó, từ tháng 3 năm 1946 Hồ Chủ tịch đã cử Cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thụy và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam đi công cán qua Trùng Khánh, Hồng Kông, dùng ảnh hưởng cá nhân để vận động dư luận quốc tế ủng hộ và công nhận nước Việt Nam độc lập. Thế nhưng Cố, Bộ rủ nhau đào nhiệm. Vua tôi mỗi người một ngả. Phế đế giải buồn trên chiếu bạc đỏ đen và các cuộc tình. Trong khi cuộc tái xâm lược của người Pháp ở Việt Nam đi vào bế tắc. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh thất bại. Họ đành giở lại bài bản cũ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh - dùng người bản xứ đánh người bản xứ và đã nhắm cựu hoàng Bảo Đại đang nương náu ở Hồng Kông là con bài tẩy trong tình thế mới. Trai tứ chiếng, gái giang hồ cặp nhau thật dễ. Cái Chính phủ Nam kỳ tự trị trước đây do quân Pháp nặn ra dưới họng súng khi mới trở lại Việt Nam, đã vô duyên lại vô dụng. Thế là năm 1948, Pháp gạ Bảo Đại sinh ra cái Hiệp định Hạ Long, cho ra đời cái Chính phủ Việt Nam thống nhất lâm thời nhố nhăng, do tên Đội Xuân, nhập làng tây, không biết nói tiếng mẹ đẻ, làm thủ tướng! Lập tức, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên bố cảnh cáo: Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy. Đối với các nước trên thế giới tôi thay mặt chính phủ và nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố không bao giờ thừa nhận những giấy tờ gì do bọn bù nhìn ký kết với bất cứ nước nào! Cái chính phủ ấy chỉ ăn hại trước lũ quan chức tây ta ở Nam kỳ phá đám và Bảo Đại biết cái giá của mình lúc này, làm mình ăn vạ ông chủ cũ. Năm 1949, tại điện Elysée, Tổng thống Pháp làm một việc cực kỳ vô lý là ký một nghị định trao trả Nam kỳ cho Bảo Đại. Ngay sau đó, Nghị viện Nam kỳ thuộc địa - đã như một cái thây ma, nhóm họp, bỏ phiếu tán thành việc sáp nhập Nam kỳ vào Việt Nam! Với kịch bản ấy, coi như nước Pháp hoàn thành thủ tục gọi là theo pháp lý (!) để chính thức có được một nước Việt Nam thống nhất, làm cơ sở cho ra đời cái Quốc gia Việt Nam do phế đế làm quốc trưởng kiêm luôn thủ tướng. Thật ra từ năm 1945, xứ Nam Kỳ nói riêng và nước Việt Nam nói chung đã có tới ba lần qua tay sang chủ mới và người chủ cuối có đầy đủ tư cách pháp nhân, tình cảm dân tộc và là người chủ chân chính duy nhất của nước Việt Nam thống nhất - Đó là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, đang thực sự điều hành đất nước vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Nếu không có cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thì nước Pháp chưa thể nhả ra cái xương hóc Nam Kỳ. Vậy đúng ra chủ thể chính danh phải là Chính phủ Việt Nam kháng chiến, không ai thay thế được. Người Pháp trao cho Bảo Đại cái mà họ không có, giống như trao lá bùa cho một cái bóng! Bảo Đại lộ nguyên hình là kẻ phản bội chớ không đủ tư cách đại diện cho ai và chính người Mỹ cũng không đếm xỉa tới ông ta! Sự thật lịch sử là như thế. Vậy mà nhà sử học chính danh lại phụ họa theo luận điệu của quân cướp nước và phường bán nước! Ông nói: Cũng vì cơ sở lịch sử và pháp lý đó(?) mà năm 1949, Tổng Thống Pháp ký với Bảo Đại hiệp ước Élysée trả lại đất Nam bộ cho Quốc gia Việt Nam chứ không phải một chủ thể nào khác đang vận động vùng đất này (!), làm cho người ít hiểu biết về lịch sử dễ ngộ nhận rằng nhờ có Bảo Đại và cái vương triều thối nát kia mà Nam kỳ mới được trở về trong lòng dân tộc!
Tổng luận chính sử Nguyễn triều là như vậy. Đó là giá trị đích thực của nó ngoài mấy vị vua có lòng với nước đã liền bị đi đày biệt xứ. Muốn ngồi yên trên ngai vàng bệ ngọc thì vua phải bỏ dân quên nước, phụ họa với giặc hãm hại bách tính muôn dân. Đương nhiên, việc quản lý xã hội, biên cương lãnh thổ, dù triều nào hay dở đều phải làm. Cũng như triều Nguyễn được thừa hưởng giải đất từ Lạng sơn tới Phú yên mà các triều đại trước tiếp nhau khai phá. Vấn đề là có giữ được đất, yên được lòng dân không? Trong Chiếu thoái vị, vua Bảo Đại xúc cảm bất thường, nói thật lòng: Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nưốt cay! Hiện nay, trong cuộc đấu tranh ngoại giao, dù ta có trưng ra những chiếu chỉ sắc phong của triều đại nào còn lưu giữ được là để làm bằng chứng cụ thể về chủ quyền đất nước với một địa danh nào. Khác với công khai phá mở mang giữ gìn bờ cõi của từng triều đại đều được ghi rõ trong sách sử. Dù thể chế xã hội nào, người làm sử chân chính cũng không thể đổi đen thành trắng, biến thau thành vàng, tôn vinh một vương triều như thế.
Tôi nghĩ cái mà ông Chủ tịch gọi là học thuật thực ra chẳng có gì xa lạ đến nỗi chỉ bậc cao nhân mới biết. Nhưng với mớ từ mơ hồ rối rắm ông đưa ra chỉ là những thủ thuật mà lúc thế sự tù mù, những kẻ có mưu đồ bất chính tung ra để che mắt đánh lừa người ta, không khác gì những trò xảo thuật của gánh xiếc rong, những phép tà thuật của thầy phù thủy, chỉ hù được con nít và mấy người yếu bóng vía mà thôi.
Hẳn nhà sử học muốn chỉ ra những giá trị văn hóa hiện hữu mà hôm nay chúng ta thừa hưởng. Vâng, những cung điện, đền đài, lăng tẩm… được coi là di sản chung của nhân loại, cũng là niềm tự hào của mỗi chúng ta. Phải chăng, dưới con mắt nhà sử học, nhìn những vật thể hiện hữu đồng thời phải nghĩ tới ý nghĩa tinh thần của nó? Những kỳ tích tuyệt tác ở đâu cũng là sáng tạo của tập thể những người lao động trí óc và chân tay. Nhưng xây dựng đền đài cung điện nguy nga trong cảnh nước mất nhà tan, dân tình thống khổ, có là tội ác? Trước những tuyệt phẩm muôn đời khâm phục, mà lòng người vẫn không khỏi xúc động oán hờn khi chính những con người tạo ra nó lại bị đày đọa bất công! Trên thế giới này, chưa có hoàng đế nào để lại những công trình hùng vĩ như Tần Thủy hoàng. Nhưng đời sau vẫn coi ông là bạo chúa chớ không ai tôn là bậc minh quân. Nét đặc trưng của vương triều Nguyễn là mỗi hoàng đế lên ngôi, dù đang sống nơi cung cấm vàng son đã nghĩ đến một nơi yên nghỉ vĩnh hằng ít ra không thua lúc sinh thời. Đó là một trong nhiều nguyên nhân gây cảnh loạn trào giặc giã, chính sự bất an, như một căn bệnh trầm kha của Nguyễn triều. Mất dân thì mất nước! Thánh nhân dạy rồi. Mặt khác, nhà sử học có tìm hiểu hoàng thành Thăng Long bị ai phá huỷ? Trước đó, khi quân tướng nhà Thanh tháo chạy, xác chết trôi đầy sông Nhị, làm sao kịp phá? Khi chúa Nguyễn Ánh kéo quân ra Bắc, gần như không có sự chống đối nào đáng kể. Chỉ trong vòng một tháng, chúa trẻ đã thâu tóm cả xứ bắc bao la hiểm trở. Hoàng cung hầu như nguyên vẹn. Phá di sản để xoá sạch dấu tích các tiền triều là sự ngu xuẩn hiện thân thành tội ác của phong kiến phương đông, mà dưới triều Nguyễn lại được một nền văn minh phương tây đến đây nhân danh khai hóa, tiếp tay hủy diệt!
Điều hậu thế cần với môt vương triều là di sản tinh thần để lại. Các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn còn để lại không ít công tích biến thành di sản tinh thần phi vật thể trong khi những di sản vật thể thật hiếm hoi, mà những đời sau vẫn thấy tự hào. Riêng triều Nguyễn Gia Long dù để lại bao nhiêu thành quách, lăng tẩm, đền đài… nhưng mối hận mất nước của cả dân tộc và nỗi nhục nô lệ của nhiều thế hệ, vẫn là một trang sử đen tối đau buồn xen giữa những trang sử vàng vinh quang Đại Việt.
Tôi nhớ tới người anh hùng Hoàng Hoa Thám - hùm thiêng Yên thế một thời. Ông có một người thầy. Vì qúa sợ sức mạnh bạo cường của giặc hay bị khuất phục bởi nền văn minh của đại quốc phương tây mà ông thầy nhiều lần khuyên học trò bẻ gãy giáo gươm quy hàng quân cướp nước! Học trò trái lời thầy vì nước trọng hơn nhà, nghĩa thầy trò phải dựa trên đạo ái quốc trung quân. Nhưng vua đã bỏ dân thì không còn là vua nữa và dân vi thượng! Cuối cùng ông thầy đồng lõa với giặc, đặt chất nổ trong cái cháp của mình, mang vào tận căn cứ nghĩa quân mưu hại học trò! Tôi nghĩ những luận cứ khoa học và những bài giảng đầy tính học thuật của ông thầy đầu ngành sử học nước Việt Nam đương đại, liệu có trộn lẫn thuốc nổ chăng?
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2009
NVT
|