1. Thời đại đồng thau và văn hóa đồng thau - những thuật ngữ đáng ngờ
Đọc các sách về lịch sử Việt Nam được biên soạn trong khoảng từ năm 1960 về sau, chúng ta nhận thấy một điều khác trước là, khi nói về thời đại đồ đồng ở nước ta, các nhà sử học đã dùng các thuật ngữ “thời đại đồng thau”, “văn hoá đồng thau”. Xin nêu vài ví dụ.
Trong Giáo trình Lịch sử Việt Nam tập 1 (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1991; các tác giả: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Lương Ninh), chúng ta gặp các thuật ngữ kể trên ở các trang 74, 75. Giáo sư Nguyễn Phan Quang và Tiến sĩ Nguyễn Xuân Đàn, trong sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884 (Nxb TP Hồ Chí Minh, 2000), ở mục Trạng thái kinh tế thời Hùng Vương có viết: “Thời đại Hùng Vương bao quát các giai đoạn phát triển từ sơ kỳ thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại sắt là một thời kỳ lịch sử lớn, một quá trình vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp về các mặt liên quan đến đời sống kinh tế”. Sách Việt Nam - những sự kiện lịch sử từ khởi thuỷ đến 1858 của Viện Sử học (NXB Giáo dục, H.2002; các tác giả: Đỗ Đức Hùng, Nguyễn Đức Nhuệ, Trần Thị Vinh, Trương Thị Yến), ở trang 11, có câu: “Khoảng 3045 năm trước, có nền văn hoá Gò Mun mang tên di chỉ phát hiện đầu tiên vào năm 1961 ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, thuộc hậu kỳ thời đại đồng thau”. Sách Đại cuong lịch sử Việt Nam (toàn tập, NXB Giáo dục, Hà.2002, do GS Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn chủ biên cùng 7 giáo sư và phó giáo sư khác chấp bút) cũng nhiều lần sử dụng thuật ngữ “thời đại đồng thau”, thí dụ như ở những câu: “Giai đoạn Phùng Nguyên tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai tr. CN, thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau”; “Giai đoạn Đồng Đậu vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ II tr. CN, thuộc trung kỳ thời đại đồng thau”; “Giai đoạn Gò Mun tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I tr. CN… Đây là giao đoạn hậu kỳ thời đại đồng thau” (trang 34, 35). Như vậy, “thời đại đồng thau” (và “văn hoá đồng thau”) là những thuật ngữ chính thức đã được các nhà sử học hiện nay dùng để chỉ một thời đại (và một nền văn hoá) đặc trưng trong lịch sử cổ đại của nước ta.
Các thuật ngữ này chỉ mới xuất hiện từ khoảng năm 1960 (hoặc trước đó vài năm là cùng), bởi vì, năm 1957, học giả Đào Duy Anh đã viết cuốn sách Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt, trong đó, Ông chỉ dùng các thuật ngữ “thời đại đồ đồng” và “văn hoá đồ đồng” chứ tuyệt nhiên không hề nói “thời đại đồng thau” và “văn hoá đồng thau”. Quyển sách đầu tiên sử dụng thuật ngữ “văn hoá đồ đồng thau” có lẽ là quyển Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Việt Nam của Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn (Sách dùng trong các trường đại học Việt Nam, NXB Giáo dục, H.1960). Ngay ở đầu Chương thứ tư với đầu đề Mạt kỳ của chế độ cộng sản nguyên thuỷ - Văn hoá Đông Sơn, có câu: “Giai đoạn cuối cùng của chế độ cộng sản nguyên thuỷ ở Việt Nam được tiêu biểu bởi một nền văn hoá đồ đồng thau rất rực rỡ, gọi là nền văn hoá Đông Sơn”. Đến năm 1963 lại có quyển sách Những dấu vết đầu tiên của thời đại đồng thau ở Việt Nam (Lê Văn Lan, Phạm Văn Kính, Nguyễn Linh, NXB Khoa học, H.1963). Hẳn đây là những tác phẩm đầu tiên đã chính thức sử dụng hai thuật ngữ này, Phải chăng, các nhà sử học thuộc thế hệ sau năm 1955 đã có công chính xác hoá các thuật ngữ nên đã dùng “thời đại đồng thau” và “văn hoá đồng thau” để thay cho “thời đại đồ đồng” và “văn hoá đồ đồng” mà trước kia các nhà sử học vẫn dùng? Nếu đúng như vậy thì chúng ta phải ghi nhận thành tích của các nhà sử học ở Hà Nội hồi thập niên 1960. Người viết bài này nghĩ rằng, câu hỏi này rất cần được giải đáp rõ ràng.
2. Hai nhóm hợp kim của đồng trong lịch sử và trên thực tế kỹ thuật hiện nay
Trong lịch sử loài người, các dân tộc đều trải qua một thời đại mà các sử gia tiền bối của chúng ta, trong đó có học giả Đào Duy Anh đã gọi là thời đại đồ đồng, tương ứng với tiếng Pháp là Age du Bronze, tiếng Anh là Bronze Age, tiếng Hán là thanh đồng thời đại 青 銅 時 代. Từ “đồng” trong “thời đại đồ đồng” chính là bronze trong tiếng Anh và tiếng Pháp, hoặc thanh đồng青 銅 trong tiếng Hán, và đó chính là đồng điếu (hoặc đồng đỏ) trong tiếng Việt chứ không phải là đồng thau.
Chúng ta đều biết rằng, loài người đã sử dụng đồng từ ở hai dạng hơp kim tự nhiên của đồng, là đồng đỏ và đồng thau.
Cách đây hơn 6000 năm, loài người bắt đầu biết sử dụng một thứ hợp kim tự nhiên của đồng có thành phần chủ yếu là đồng và thiếc. Gọi là hợp kim tự nhiên, bởi vì nó được sản xuất từ một loại quặng đã chứa sẵn các kim loại vốn tồn tại cùng một chỗ hoặc được pha trộn, sau khi tinh luyện thì thành một hợp kim. Trong thiên nhiên, đồng thường tồn tại gần với thiếc, mà thứ quặng này lại dễ tinh luyện, cho nên loài người đã biết khai thác và chế biến nó trước tiên để mở ra thời đại đồ đồng. Thứ hợp kim này tương đối cứng, có độ bền cao, ít mòn và dễ đúc nên dễ chế tác thành những vật có hình dạng phức tạp, vì vậy, được dùng để đúc các công cụ lao đông, vũ khí và các đồ dùng khác. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, thứ hợp kim đó có tên là bronze, còn tổ tiên của chúng ta thì gọi nó là đồng đỏ, bởi vì khi mới chế tác hoặc ở trạng thái chưa bị hoen gỉ thì nó có màu đỏ nâu. Ngoài ra, nó còn có tên là đồng điếu, có lẽ là vì nó được dùng để đúc tiền, mà ngày xưa, những đồng tiền ấy được gọi là tiền điếu (Theo Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Sài gòn 1895). Ở Trung Quốc, hợp kim đồng này được sử dụng từ rất sớm và được đúc thành những đồ cúng tế rất đồ sộ, lâu ngày thì nó bị oxy hóa một lớp mỏng, biến thành màu xanh cho nên trong tiếng Hán nó được gọi là thanh đồng 青 銅, nghĩa là “đồng xanh”.
Sau đó vài ngàn năm, vào khoảng thế kỷ 8 trước Công nguyên, loài người mới biết sử dụng loại hợp kim thứ hai của đồng có thành phần chủ yếu là đồng và kẽm, thích hợp với phương pháp gia công bằng áp lực như gò, tán, v.v... mà tiếng Anh gọi là brass, tiếng Pháp gọi là laiton, tiếng Hán gọi là hoàng đồng 黃 銅 , còn tổ tiên chúng ta gọi là đồng thau. Đây cũng là hợp kim tự nhiên của đồng, nhưng thứ quặng chứa đồng và kém thì khó tinh luyện hơn, cho nên, ở bất cứ ở nơi nào trên thế giới, đồng thau thường xuất hiện sau đồng đỏ vài ngàn năm, sau khi con người đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm qua quá trình nấu luyện đồng đỏ. Loại hợp kim này có màu vàng rất đẹp nhưng mềm, dễ dát mỏng nên ngày xưa người ta dùng những tầm đồng thau bóng loáng để làm gương soi. Ngoài ra, đồng thau rất khó đúc vì khi nung chảy, nó có độ nhớt (viscosity) cao, rất khó điền đầy khuôn. Những người thợ đúc đồng mỹ nghệ ở làng Đại Bái hyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cho biết, muốn cho các lư hương, đỉnh đồng có màu vàng chóe đẹp đẽ thì họ phải pha một ít đồng thau vào đồng đỏ để đúc. Thông thường, cứ 100kg đồng đỏ thì pha khoảng 3kg đồng thau. Cứ cho rằng, đồng thau chứa 20 - 30% kẽm thì với cách pha trộn như thế, tỷ lệ kẽm trong sản phẩm đúc chí là 1% trong khi hàm lương thiếc lên đến hàng chuc, phàn trăm. Nếu tăng thêm nữa thì rất khó đúc, vật càng lớn càng khó đúc, sản phẩm sẽ bị “rỗ”, nghĩa là có nhiều lỗ hỗng nham nhở, rất xấu xí.
Khi sử dụng công cụ bằng đá đẽo (ở thời đại đồ đá mới), tuy con người đã biết tách chẻ, ghè đẽo đá, nhưng chủ yếu chỉ dựa vào trực quan là chính, chưa có tính toán và so sánh, chưa biết đúc kết kinh nghiệm. Bước sang Thời đại đồ đồng (mà đồng ở đây là hợp kim tự nhiên của đồng và thiếc, tức là bronze, hay đồng đỏ theo tiếng Việt), loài người đã tiến một bước thật trọng đại, trong đó, trí tuệ đóng vai trò cực kỳ to lớn, làm thay đổi hẳn điều kiện sinh sống của mình. Việc phát minh ra đồng thau cũng là một bước tiến đáng kể của loài người nhưng đó không phải là một bước tiến vĩ đại như khi phát minh ra đồng đỏ, mà chỉ là một bước tiệm tiến. Bởi vây, các nhà bác học Châu Âu mới coi bronze là sự mở đầu của một thời đại hết sức quan trọng trong lịch sử loài người. Họ gọi thời đại đó là Bronze Age (tiếng Anh), Age du Bronze (tiếng Pháp) mà trước năm 1960, chúng ta đã từng gọi là Thời đại đồ đồng. Người ta không coi việc phát minh ra đồng thau là một cái mốc lớn trong lịch sử loài người nên không đặt ra thuật ngữ “Brass Age” hay “Age du Laiton” để có thể tương ứng với “thời đại đồng thau” trong tiếng Việt.
Xin nói thêm rằng, trong kỹ thuật hiện đại, tuy có vô số hợp kim của đồng, với thành phần rất phức tạp nhưng người ta vẫn quy chúng thành hai nhóm là đồng đỏ và đồng thau. Những hợp kim đồng được dùng để đúc thì được xếp vào nhóm đồng đỏ (bronze) mặc dầu có thể không chứa thiếc, còn những hợp kim đồng dễ gia công bằng áp lực (cán, dát mỏng…) thì được xếp vào nhóm đồng thau (brasss, laiton) tuy có thể không chứa kẽm.
3. Có tồn tại Thời đại đồng thau trong lịch sử Việt Nam hay không?
Vì những lý lẽ trên đây, người viết bài này không khỏi băn khoăn trước sự xuất hiện các thuật ngữ “thời đại đồng thau” và “văn hóa đồng thau”. Một câu hỏi được đặt ra là, phải chăng, riêng ở Việt Nam, do những đặc điểm nào đó khác hẳn với toàn thể nhân loại, cho nên đồng thau (brass, laiton, hoàng đồng) đã được sử dụng trước đồng đỏ (bronze, thanh đồng) và đóng vai trò tương tự như đồng đỏ trong lịch sử của Châu Âu hay của Trung Quốc? Nếu đúng như thế thì tất nhiên, ta sợ gì mà không gọi đó là “thời đại đồng thau” trong lịch sử Việt Nam? Khoa học lịch sử thế giới hẳn sẽ phải bổ sung thêm thuật ngữ này, và tiếp theo đó sẽ còn rất nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu nữa vì đặc điểm này của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, cần phải tìm hiểu xem, các di vật khảo cổ bằng đồng tiêu biểu của Việt Nam có đúng là bằng đồng thau không, hay cũng là bằng đồng đỏ (bronze)?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta không tốn nhiều thời gian lắm. Trước tiên, qua tài liệu của các nhà sử học đã viết về “thời đại đồng thau” và “văn hoá đồng thau” chúng ta được biết rằng, các hiện vật tương ứng với thời đại ấy hoặc với nền văn hoá ấy là những trống đồng, thạp đồng, chuông đồng, lưỡi cày bằng đồng, mũi tên bằng đồng, rìu đồng, mũi lao, dao găm, dùi, đục, kim, nạo, dũa, lưỡi câu bằng đồng (xem Những vết tích đầu tiên của thời đại đồng thau ở Việt Nam và Lịch sử Việt Nam, tập 1, đã được nhắc đến trên đây). Tất cả các đồ vật trên đây đều là những sản phẩm đúc, mà nghề đúc đồng thì rất kỵ đồng thau. Phải là đồng đỏ, tức là bronze, thì mới đúc được. Cứ xem kết quả phân tích thành phần của hợp kim đồng trong các di vật ở Việt Nam thì thấy rõ.
Năm 1902, F. Heger đã công bồ thành phần hợp kim của những trống đồng loại I ở Việt Nam, như sau:
Đồng : 62,88 - 71,71%
Chì : 14,25 - 26,69%
Thiếc : 4,9 - 10,88%
Năm 1929, V. Goloubew đã phân tích hai mẫu đồ đồng tìm được ở Đông Sơn (Thanh Hoá) , kết quả như sau:
Một mảnh rìu Một mảnh thạp
Đồng ………….52,2%....................57,2%
Chì …………. 17,3%....................19,3%
Thiếc ……….. 15,3%....................16,1%
Sắt ……………. 4,4…………… 2,4%
Bạc ……………. 0,012%................ 0,017%
Vàng …………....vết ……………….vết
Năm 1961, một số di vật bằng đồng ở Thiệu Dương (Thanh Hoá) cũng được Viện Hoá học thuộc Bộ Công nghiệp nặng phân tích. Kết quả như sau:
Mảnh lưỡi rìu có Mảnh lưỡi rìu Mảnh lưỡi giáo
lưỡi xoè cân xứng hình lưỡi xéo
Đồng …………….82,2 %....................... .82,2%...................... 73,3 %
Chì……………… 8%....................... .1,4%........................ 5,95%
Thiếc …………… 10,92%..................... .6,8%.......................13,21%
Sắt ……………… 0,12%.................. ... .0,1%....................... 0,27%
Nhôm …………… 0,38%..........................0,5%........................ 0,5%
(Các số liệu ở đây đều trích từ sách Những dấu tích đầu tiên của thời đại đồ đồng thau ở Việt Nam của Lê Văn Lan, Phạm Văn Kính,…, trang 217, 218)
Xin nhắc lại rằng, điểm khác nhau giữa đồng đỏ và đồng thau là:
- Đồng đỏ là hợp kim của đồng, thiếc và có thể chứa một số kim loại khác nhưng không có kém hoặc rất ít kẽm.
- Đồng thau là hợp kim của đồng, kẽm và có thể chứa một số kim loại khác nhưng không có thiếc hoặc rất ít thiếc.
Không phải chỉ các nhà luyện kim mà những người có kiến thức trung học vững vàng đều biết điều này.
Qua các con số trên đây, chúng ta thấy rõ rằng, các di vật tiêu biểu ở “thời đại đồng thau” này đều không phải bằng đồng thau như các nhà sử học Việt Nam hiện nay vẫn gọi, vì chúng đều chứa đồng và thiếc chứ không chứa kẽm.
Cũng xin nói thêm rằng, trong một số mẫu hợp kim lấy từ 13 chiếc trống đồng ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội mà L. Malleret đã cho phân tích năm 1954, có vài mẫu cũng chứa kẽm nhưng tỷ lệ kẽm/thiếc chỉ bằng 1/20 đến 1/5, cho nên, không thể nói vài mẫu hợp kim đó là đồng thau. Chính F. Heger và V. Goloubew cũng dùng chữ “bronze” để gọi tên các hợp kim mà họ đã đem đi phân tích, chứ không hề dùng từ “laiton”.
Như vậy, rõ ràng rằng, các hiện vật khảo cổ bằng đồng trên đây chính là bronze trong tiếng Pháp nên không thể gọi là “đồng thau”. Thế là, Việt Nam ta cũng trải qua thời đại đồ đồng (Age du Bronze) giống như tất cả các dân tộc khác trên thế giới Tổ tiên chúng ta đã không dại dột mà dùng đồng thau để đúc các đồ dùng. Điều thắc mắc của kẻ viết bài này đã được gỡ bỏ. Tóm lại, các nhà sử học đã lẫn lộn giữa hai nhóm hợp kim đồng trong lịch sử nhân loại nên đã đưa ra những thuật ngữ “thời đại đồng thau” và “văn hóa đồng thau”, rất phản khoa học...
Có lẽ chúng ta chỉ cần nói “thời đại đồ đồng” là đủ rồi, chứ không cần nói “thời đại đồng đỏ” hay “thời đại đồng điếu”, cũng như ta vẫn nói “huy chương đồng”, mặc dầu đó là “huy chương đồng đỏ” (Bronze Medal hoặc Médaille de Bronze), bởi vì người Việt chúng ta vốn không nặng về lối tư duy phân tích nên không đòi hỏi phải rạch ròi đến thế. Hơn nữa, các nhà luyện kim hàng đầu còn dịch “thanh đồng” thành ra “đồng thanh” (“Việt hóa” từ ngữ Hán Việt kiểu như thế thì cũng không thể chấp nhận được), rồi các nhà sử học thì còn chưa biết thành phần đặc trưng của đồng thau và vị trí thứ yếu của nó trong lịch sử so với đồng đỏ (bronze), trình độ ngôn ngữ của các chuyên gia chỉ mới được như thế, nay ta đòi hỏi một sự chính xác quá cao trong ngôn ngữ phổ thông phỏng có cần thiết hay không?
Các nhà sử học hiện đại hình như muốn cố gắng nâng cấp chính xác của thuật ngữ để đạt tới độ chuẩn xác cao hơn hẳn các bậc tiền bối, nhưng lại không hiểu cái thuật ngữ mà mình chọn nên họ đã bỏ cái đúng để phạm thêm một cái sai. Đúng là họ đã “chữa lợn lành thành lợn què”.
4. Tìm hiểu nguồn gốc của từ “thau” trong “đồng thau”
Đồng thau, nhiều khi người ta cũng gọi là “thau”, ví dụ, “mâm thau” có nghĩa là cái mâm bằng đồng thau: “chậu thau” có nghĩa là cái chậu bằng đồng thau. Ngoài ra, từ “thau” cũng dùng để chỉ cái chậu, thí dụ: thau rửa mặt tức là cái chậu để rửa mặt. Thậm chí, người ta còn nói: cái thau nhôm. Qua đó đủ thấy rằng, đồng thau chủ yếu được sử dụng ở dạng tấm mỏng, nhất là để làm chậu nên chính từ “thau” có thêm một nghĩa nữa là “cái chậu”.
Nay chúng ta thử tìm nguồn gốc của “thau” với nghĩa là đồng thau.
Trong Từ điển Việt Nam - Latin (Dictionarium Anamitico - Latinum) của J. L. Taberd (Serampore, 1838), Từ điển Annam - Pháp (Dictionnaire Annamite - Francais) của J. F. M. Génibrel (Sài gòn, 1898) và Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (Sài gòn, 1895), chữ “thau” ở dạng chữ Nôm đều được viết là鐰 . Chữ này gồm chữ (kim金và chữ 喿 (tháo, (như trong “quát tháo”, mà hiện nay thường viết là噪) ). Trong chữ Hán cũng có chữ鐰, đó là một dạng khác của chữ鍬có âm Hán Việt là “thâu” và có nghĩa là cái mai đào đất. Nhưng chữ鐰 chắc là ít được sử dụng từ rất lâu rồi, vì trong các từ điển khá lớn như Từ hải và Từ nguyên cũng không có chữ thâu鐰này. Chúng tôi đã tìm thấy nó trong Trung Hoa Tự Hải (là quyển Tự điển chữ Hán có nhiều chữ nhất từ xưa đến nay, do Trung Hoa thư cục, Công ty xuất bản Hữu nghị Trung Quốc ấn hành năm 1996, gồm hơn 85 000 chữ), và còn được biết là chữ này đã được giảng giải trong sách Quảng Vận, thời Tống. Bởi vậy, chữ鐰không có mặt trong mọi quyển Tự điển Hán - Việt, và cũng vì thế, rất ít người biết chữ thâu鐰này trong tiếng Hán. Hơn nữa, tuy có âm Hán Việt là “thâu” nhưng âm phổ thông Trung Quốc lại là “qiao” (đọc gần như “chiao”) nên ta có cơ sở để nghĩ rằng, người Việt Nam đã dùng chữ tháo喿 (gợi âm) kết hợp với chữ kim金 (gợi ý) để tạo ra một chữ nôm鐰, (đọc là thau) để chỉ đồng thau.
Trong các tự điển và từ điển chữ Hán, chúng tôi thấy có chữ “thâu” 鍮 (gồm chữ kim 金 và chữ du 俞, có âm phổ thông Trung Quốc là “tou”, đọc gần giống như “thau” trong tiếng Việt) và có nghĩa là “hoàng đồng”, tức là đồng thau. Sở dĩ biết được rằng, nó có âm Hán Việt là “thâu”, bởi vì, theo từ điển Từ nguyên thì nó cùng âm với chữ偸 (nghĩa là ăn trộm, kẻ trộm) vốn có âm Hán Việt là “thâu”. Các từ điển Từ nguyên và Từ hải giải thích rằng, “thâu” 鍮 tức là “thâu thạch”, là một hợp kim tự sinh (tự hình thành trong thiên nhiên) của đồng, là hoàng đồng, gồm đồng và kẽm. Như vậy, “thâu” 鍮 nghĩa là đồng thau. Tuy ngày nay người Trung Quốc gọi đồng thau là hoàng đồng nhưng trong cuốn tự điển nhỏ và phổ thông nhất hiện nay ở Trung Quốc là cuốn Tân Hoa Tự điển vẫn có chữ thâu鍮này, và được diễn giải là “hoàng đồng”. Có lẽ xưa kia người Trung Quốc sang đây vẫn thường dùng từ “thâu” 鍮; và người Việt Nam đã tiếp nhận từ này qua cách phát âm nhưng về sau lại viết bằng chữ鐰 . Mãi cho đến những năm cuối thế kỷ 20, trong một số ít tự điển chữ Nôm mới xuất hiện chữ鍮 (cùng với chữ鐰) đọc là “thau”.
Câu chuyện bên lề
Bài này được công bố lần đầu tiên trên tạp chí Thế giới mới số 534, ra ngày 5/5/2003 dưới nhan đề do tạp chí này đặt là Có hay không “thời đại đồng thau” ở nước ta. Nó đã được đông đảo độc giả hoan nghênh nhiệt liệt, đặc biệt là nhiều người trong giới sử học. Một độc giả có thời đã là Phó Viện trưởng Viện Sử học vui vẻ nói với tác giả: “May quá, tôi đã xem lại tất cả những bài viết của mình, nhưng không có chỗ nào tôi dùng thuật ngữ “thời đại đồng thau”, nếu có thì tôi xấu hổ lắm”. Ngoài ra, tác giả cũng viết một bài khác trên tạp chí Thế giới mới để phê phán sai lầm của thuật ngữ “đồng thanh” mà các nhà luyện kim ở nước ta đã sử dụng để chỉ hợp kim bronze (tức là đồng đỏ hay đồng điếu mà quý vị độc giả đã đọc trong bài này) vì họ đã “chuyển ngữ” từ tiếng Hán là “thanh đồng” sang tiếng Việt thành ra “đồng thanh”.
Cả hai bài này đã được gửi cho ông Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên sọa Từ điển Bách Khoa Việt Nam cùng với một bức thư yêu cầu ông đưa ra Hội đồng xem xét và xóa bỏ hai thuật ngữ “thời đại đồng thau” và “đồng thanh” ra khỏi bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam rồi thay thế chúng băng những thuật ngữ đúng đắn mà chúng tôi đã phân tích. Bức thư đã không được hồi âm và hình như ông Chủ tich Hội đồng cũng không trao đổi với các ủy viên thường trực về việc này. Sau đó 7-8 tháng, tác giả có dịp đưa cả hai bài cho giáo sư Nguyễn Văn Chiển, là ủy viên thường trực của Hội đồng này (lúc đó tác giả không biết ông có cái chức ấy) cũng chỉ mong ông sẽ đọc để có thể biết thái độ của ông mà thôi. Nhưng, do tính trung thực, thẳng thắn, rất có tinh thần trách nhiệm, giáo sư Nguyễn Văn Chiển thấy rõ tầm quân trọng của vấn đề này nên ông đã làm việc khá vất vả với Hội đồng để yêu cầu thay đổi hai mục từ sai trái kia. Kết quả là, Hội đồng và các tác giả của hai thuật ngữ kia phải chấp nhận. Vì thuật ngữ “đồng thanh” nằm ở tập 2, đã in từ trước nên sự sửa chữa chỉ có thể thực hiện khi in lại và trên bản điện tử. Còn thuật ngữ “thời đại đồng thau” thì nằm ở tập 4, lúc ấy chưa lên khuôn in nên đã được sử chữa trên bản ịn, thành “thời đại đồ đồng”. Đó là một điều đáng mừng.
Tuy nhiên, sự sửa chữa này vẫn chưa triệt để, vì các tác giả của hai mục từ này còn nuối tiếc chưa muốn bỏ hẳn “đứa con tinh thần” của mình (tuy nó làm cho cha mẹ xấu hổ và làm hại cho tiếng Việt và cho khoa học). Do đó, tuy các thuật ngứ “đồng điếu” và và “thời đại đồ đồng“ đã trở về đúng vị trí của mình, nhưng các từ sai quấy là “đồng thanh” và “thời đại đồng thau” thì vẫn lẽo đẽo bên cạnh, như là những thuật ngữ không chính thức. Riêng trong mục từ “thời đại đồ đồng”, có câu: Trước đây, trong ngành khảo cổ học Việt Nam, thường gọi là thời đại đồng thau (khái niệm đồng thau trong khảo cồ học được hiểu là hợp kim giữa đồng và các kim loại khác). Hợp kim giữa đồng và các kim loại làm hạ nhiệt độ nóng chảy nhưng lại làm tăng độ bền cơ học của chất liệu. Tưởng là “vụng đẽo mà khéo chữa” nhưng cách chữa như vậy thật vụng về và bộc lộ tính miễn cưỡng nên lại càng thể hiện sự hiểu biết hời hợt của người chữa. Bởi vì, như quý độc giả đã biết, trong thực tế đời sống và trong công nghiệp, trong kỹ thuật, hầu như đồng luôn luôn được sử dụng dưới dạng hợp kim, ngay từ lò luyện kim đi ra, nó đã là hợp kim rồi, và chỉ trong trường hợp cần có đồng nguyên chất thì người ta phải tinh luyện công phu hơn. Hoàn toàn không phải là “Hợp kim giữa đồng và các kim loại làm hạ nhiệt độ nóng chảy nhưng lại làm tăng độ bền cơ học của chất liệu”, như nhà sử học viết câu này đã ngộ nhận. Nhóm hợp kim đồng có chứa kẽm thì lại mềm hơn (tức là có độ bền cơ học thấp), dễ gia công cơ học, đó là đồng thau; chỉ có nhóm còn lại, không chứa kẽm mà chứa thiếc thì mới dễ đúc và cứng, tức là có độ bền cơ học cao. Hai thuật ngữ “đồng thau” và “đồng điếu” chỉ cốt để phân biệt hai nhóm hợp kim ấy của đồng. Trên pham vi toàn thế giới, người ta cũng phân biệt như thế. Vậy thì, làm sao có thể nói rằng, khái niệm đồng thau trong khảo cồ học được hiểu là hợp kim giữa đồng và các kim loại khác. Khảo cổ học lại càng phải phân biệt điều đó, chẳng có khảo cổ học ở nước nào lại tù mù như thế, chỉ những người không biết điều này mới có gan nói thế mà thôi.
Có lẽ vì còn luyến tiếc cái khái niệm “thời đại đồng thau” nên trong phần lớn những bài hoặc sách về lịch sử mời viết gần đây, chúng ta vẫn còn thấy xuất hiên cái thuật ngữ phản lịch sử này.
Lê Mạnh Chiến
Nguồn: phongdiep.net
|