tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
06.11.2009
Tư liệu
Nghịch lý thủy điện

Miền Trung: Nghịch lý thủy điện bậc thang


Chính quyền địa phương họp dân thống nhất chọn địa điểm tái định cư, nhưng nhà thì BQL Thủy điện Đăk Mi 4 tự xây dựng lấy rồi giao lại cho dân. Các gia đình dọn tới đây ở cũng chỉ được mỗi cái nhà chật hẹp, không có sân vườn; còn đất sản xuất do BQL Thủy điện Đăk Mi 4 cho san ủi ngay địa điểm có quá nhiều đá nên không trồng, tỉa được cây gì…


Không thể phủ nhận những giá trị to lớn do các công trình thủy điện mang lại, góp phần thúc đẩy nhanh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, việc triển khai hàng loạt dự án thủy điện ở thượng nguồn các dòng sông miền Trung, dưới tên gọi "Hệ thống thủy điện bậc thang", cùng với sự quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm của chính quyền địa phương và các ban quản lý (BQL) dự án thủy điện đã và đang làm phát sinh nhiều bất cập, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, môi sinh và đời sống người dân từ miền ngược đến miền xuôi...


A Ngo, Trưởng Công an xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn (Quảng Nam), dẫn chúng tôi leo qua triền núi cao chót vót để vào ngôi làng tái định cư (TĐC) thôn Nước Lan, nằm cách trung tâm xã ngót chục cây số. Đây là một làng TĐC của thủy điện Đăk Mi 4, bố trí 30 hộ gia đình, với 121 khẩu.


Nằm trong vùng dự án thủy điện Đăk Mi 4 gồm một phần lớn diện tích đất các xã Phước Hòa, Phước Xuân, Phước Kim, Phước Chánh và thị trấn Khâm Đức. Tuy nhiên, dân giải tỏa vào làng TĐC, ngoài thôn Nước Lan, chỉ còn thôn 2A, xã Phước Hòa, với 41 hộ, gần 200 khẩu. Trước khi chúng tôi đi với A Ngo, ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch xã Phước Xuân, lắc đầu thở dài: "Bà con đồng bào Cor sống trong đó khổ lắm, thiếu thốn nhiều thứ lắm!".


Hì hục leo lên đến đỉnh núi, nhìn về phía thung lũng, cách đó hơn một cây số, đập vào mắt chúng tôi là làng TĐC Nước Lan, với những ngôi nhà cấp 4, mái lợp tôn nằm san sát, liền kề bên nhau, làm chúng tôi liên tưởng đến các khu nhà dành cho người thu nhập thấp ở đô thị Đà Nẵng; hơn là những khu nhà dành cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống giữa đại ngàn Trường Sơn.


Vào tới nơi, đi từ đầu làng đến cuối làng mới gặp một vài cụ già. A Ngo nói chuyện với họ bằng ngôn ngữ của đồng bào Cor.


Lát sau, A Ngo mới quay sang giải thích cho chúng tôi rằng, người làng đã lên rẫy hết rồi. Rẫy của họ ở xa đến 4-5 cây số đường rừng. Đó là rẫy họ tự tìm làm, còn đất rẫy được Ban quản lý (BQL) thủy điện Đăk Mi 4 san ủi cấp cho thì quá nhiều đá, không gieo lúa, tỉa ngô, trồng sắn được. Những cụ già cũng than phiền rằng, gia đình nào vào sống ở đây cũng "không ưng cái bụng", vì nhà cửa chật hẹp, tù túng; không có sân vườn để nuôi heo, gà; còn xung quanh núi trọc, cũng không có chỗ thả nuôi trâu, bò...


Chúng tôi tìm tới trường tiểu học và trạm xá làng TĐC Nước Lan trên một đỉnh núi cách chỗ ở của bà con người Cor non một cây số. Nhưng, trạm xá với 3 gian phòng nhỏ, trống rỗng; còn phòng vệ sinh đã thành nơi chứa rác, bốc mùi xú uế. Cách đó vài bước chân là trường tiểu học, trong các phòng học, học sinh lớp ngồi nhìn trước, lớp ngồi nhìn ngang.


Cô giáo Nguyễn Thị Xí quê ở Đông Phú, Quế Sơn (Quảng Nam) được điều chuyển về đây dạy từ năm 2007, than thở: "Dạy ở đây không thể ngồi, mà phải đi quanh suốt cả buổi. Vì trong phòng này, cùng một lúc phải dạy từ 2-3 lớp".


Do trường tiểu học vỏn vẹn 2 phòng (mỗi phòng hơn 36m2) nên không đủ chỗ cho các em học, nhà trường phải bố trí cô Xí dạy các lớp 1, 2 và 3 chung một phòng; còn cô giáo Nguyễn Thị Công Chính dạy phòng bên cạnh thì "bao sân" các lớp 4 và 5.


Một lớp học mà bên này tập đọc, bên kia làm toán, học văn, bên nọ tập đánh vần. Học ghép như thế học sinh khó có thể tiếp thu tốt bài học. Nhưng, đành chịu.


Trưởng phòng Kinh tế huyện Phước Sơn, ông Nguyễn Phiếm, bức xúc: "Trạm xá xây bỏ hoang, người dân đau ốm cấp cứu vẫn phải khiêng, cõng lên trạm xá của xã; còn trường học thì xây quá bé nhỏ, không đúng qui định của Bộ GD&ĐT nhưng BQL Thủy điện Đăk Mi 4 vẫn cứ làm, để "gài" huyện vào chuyện đã rồi!".


Đối với các làng TĐC, ông Phiếm cho biết, chính quyền địa phương họp dân thống nhất chọn địa điểm TĐC, nhưng nhà thì BQL Thủy điện Đăk Mi 4 tự xây dựng lấy rồi giao lại cho dân. Người dân có được cái nhà xây, lợp tôn ai cũng mừng; song các gia đình dọn tới đây ở cũng chỉ được mỗi cái nhà chật hẹp, không có sân vườn; còn đất sản xuất do BQL Thủy điện Đăk Mi 4 cho san ủi ngay địa điểm có quá nhiều đá nên không trồng, tỉa được cây gì…


Tương tự, để giải tỏa di dời dân thực hiện dự án Thủy điện A Vương, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) đã đầu tư xây dựng tại xã Mà Cooih, huyện Đông Giang, Quảng Nam, 2 khu TĐC PachePalanh và CutChrun.


Nằm trong vùng dự án thủy điện A Vương, ngoài hàng chục hộ dân thôn A Lua và Kala của xã Dang (Tây Giang), còn có 227 hộ dân, với gần 1.091 khẩu ở các thôn A Đềng, Trơ Ngung, A Dang, Đhờ Rèng của huyện Đông Giang. Đồng bào Cơ Tu huyện Đông Giang nằm trong vùng giải tỏa được bố trí về ở các khu TĐC PachePalanh và CutChrun từ cuối năm 2006 đến nay đã tăng lên 257 hộ, với gần 1.180 khẩu; nhưng đời sống của họ không có gì chuyển biến. Chủ yếu vẫn chỉ dựa vào nguồn hỗ trợ của Nhà nước và nguồn tiền giải tỏa đền bù.


Ông Đỗ Tài, Phó Chủ tịch huyện Đông Giang khẳng định điều đó. Đến PachePalanh và CutChrun, chúng tôi nhận thấy nhà ở là những ngôi nhà sàn, cột bê-tông cốt thép, mái lợp tôn.


Song, vẫn giống như ở Nước Lan, nhà nằm liền kề, san sát bên nhau, chênh vênh lưng núi rất dễ bị sạt lở. Vào làng nào, chúng tôi cũng như "chìm" trong bầu không khí đặc quánh mùi phân gia súc, gia cầm. Không có vườn tược để chăn nuôi nên bà con Cơ Tu ở đây nuôi heo, gà, vịt ngay chân bậc cầu thang lên xuống bằng gỗ đã bị mưa nắng làm mục nát, hư hỏng. Thậm chí, dưới gầm sàn nhà đồng bào cũng làm chuồng nuôi gia súc, gia cầm và chỗ ở…


Cũng như người Cor ở Nước Lan, người Cơ Tu ở PachePalanh và CutChrun ai cũng phàn nàn về việc không có đất sản xuất. Điều đó đã khiến không ít hộ gia đình phải bỏ khu TĐC lên núi cao dựng nhà tạm ở và chặt hạ rừng lấy đất làm nương rẫy.


Anh Bling Tá (31 tuổi) ở khu TĐC PachePalanh nói: "Bà con mình biết phá rừng làm nương rẫy là vi phạm pháp luật, nhưng không có đất sản xuất thì cũng làm liều"…


 


hủy điện bậc thang tàn phá rừng đầu nguồn


Việc qui hoạch xây dựng dày đặc một hệ thống thủy điện bậc thang trên các dòng sông ở khu vực miền Trung đã và đang tàn phá, làm cạn kiệt rừng đầu nguồn.
Có thể khẳng định, việc thành lập các khu tái định cư (TĐC) để thực hiện dự án thủy điện đã có quá nhiều bất cập là do các ban quản lý thủy điện không đi sát với thực tế đời sống, lao động của đồng bào các dân tộc thiểu số ở núi rừng Trường Sơn.


Ông Lê Văn Luyến, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đông Giang, cho hay: Ban quản lý dự án Thủy điện A Vương cho xe ủi bạt núi lấy mặt bằng để thành lập các khu PachePalanh và CutChrun. Chính vì vậy mà những chỗ trũng, thấp được đắp đất mới tạo mặt bằng, cứ đến mùa mưa thì liên tục bị sạt lở, làm sập, nứt nhà dân. Nhất là khu TĐC PachePalanh lại nằm đúng "họng gió", nên năm nào cũng có lốc xoáy làm tốc mái, hư hỏng nhà cửa.


Về sản xuất nông nghiệp cho bà con Cơ Tu vào sinh sống ở PachePalanh và CutChrun, họ được bố trí 250,6ha đất, trong đó, đất rẫy 230,4ha; đất ruộng lúa nước hơn 20ha. Nhưng, do chuyển từ đất lâm nghiệp sang, có độ dốc lớn, độ phì kém nên không thể thâm canh tăng vụ. Bên cạnh đó, quá trình san ủi, cải tạo đất ruộng lại thực hiện không đúng qui trình, làm mất toàn bộ lớp đất bề mặt và luôn có hiện tượng sạt lở, bồi lấp, người dân không thể tổ chức sản xuất ổn định.


Đã vậy, 5 công trình thủy lợi, mỗi cái xây dựng tiêu tốn từ 300-500 triệu đồng, nhưng xây xong và "phế thải" ngay; do không dự tính đến việc không có nước, vì các khe, suối nhỏ khi phát quang rừng lấy đất sản xuất bị khô cạn...


 Theo ông Luyến: Để cứu vãn tình thế, UBND huyện Đông Giang đã lập một dự án mở rộng đất ruộng và đất nương rẫy thêm 132ha, trong đó PachePalanh 102ha, còn CutChrun 30ha. Song, dự án đang còn trên giấy, nhưng những miền rừng xung quanh các khu TĐC đã bị phá tan hoang. Người dân ở các khu TĐC, nhất là khu PachePalanh đã xóa sổ trên 100ha rừng để lấy đất sản xuất.


Ông Lê Hoàng Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (KL) huyện Đông Giang, ngao ngán nói: "Rừng ở xung quanh khu TĐC, lực lượng KL lại quá mỏng và cũng không thể cơm đùm, gạo gói tới những vùng rừng đó túc trực canh giữ ngày, đêm. Còn bà con Cơ Tu thì có cái lý của họ. Không có đất sản xuất họ phải phá rừng để có đất, chứ lấy đâu ra nương rẫy mà làm vụ mùa sinh sống".


Ông Nguyễn Phiếm, Trưởng phòng Kinh tế huyện Phước Sơn, cũng cho hay: UBND huyện Phước Sơn đang chọn khai hoang khu vực sản xuất mới cho đồng bào Cor bị giải tỏa xây dựng thủy điện Đăk Mi 4 vào sinh sống ở khu TĐC Nước Lan. Dự án khai hoang khoảng 4ha, nhưng thực chất cũng xén bớt diện tích đất rừng mà thôi…


Việc qui hoạch xây dựng dày đặc một hệ thống thủy điện bậc thang trên các dòng sông đã và đang tàn phá, làm cạn kiệt rừng đầu nguồn. Điển hình như thủy điện Đăk Mi 4 trên sông Đăk Mi (hay còn gọi Nước Mỹ), khởi nguồn từ đỉnh Ngok Linh chảy qua địa phận huyện Phước Sơn, Quảng Nam, đã được khởi công từ cuối tháng 4/2007.


Để thực hiện dự án thủy điện này, ông Lê Nho Năm, Hạt trưởng Hạt KL huyện Phước Sơn cho biết: UBND tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định thu hồi 1.185ha đất. Nếu tính sòng phẳng, trừ đi diện tích đất nương rẫy, mặt nước dòng sông thì quyết định đó đã xóa sổ gần 683 ha rừng, chủ yếu rừng nguyên sinh, gồm các loại cây gỗ có giá trị như: Gõ, Huỳnh Đường, Sến, Dỗi… Xóa sổ chừng ấy diện tích rừng, lãnh đạo chính quyền tỉnh Quảng Nam cũng cấp phép cho tận thu khai thác 19.539m3 gỗ.


Theo đo đạc của Hạt KL Phước Sơn, cho đến thời điểm này, các đơn vị trúng thầu tận thu gỗ đã tổ chức tận diệt các cánh rừng trong vùng qui hoạch xây dựng thủy điện Đăk Mi 4 được 6.662m3 gỗ và đang tiếp tục khai thác...


Ông Lê Nho Năm tiếc rẻ rằng, trong quá trình tận thu gỗ, Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện Phước Sơn không cho phép phá thêm rừng để mở các đường bao đưa xe vào tận chỗ khai thác để vận chuyển gỗ, không cho khai thác gỗ phách, để đề phòng việc lợi dụng khai thác gỗ tận thu để phá rừng.


Do đó, hiện trên các vách đá có rừng của các xã Phước Hòa, Phước Kim, còn khoảng 500m3 gỗ song khó khai thác, phải bỏ lại. Điều đó có nghĩa, khi hồ thủy điện Đăk Mi 4 tích nước thì những mảng rừng kia sẽ bị nhấn chìm và xem như mất trắng hàng trăm khối gỗ quí.


Chỉ với một thủy điện Đăk Mi 4, Phước Sơn đã mất đi diện tích rừng nguyên sinh lớn như thế; đằng này còn hàng loạt thủy điện "bậc thang" nữa trên dòng Đăk Mi thì chắc chắn rừng ở huyện Phước Sơn càng teo tóp lại…


Còn ở huyện Đông Giang có nhiều rừng nguyên sinh, với diện tích tự nhiên khoảng 81.000ha; song qui hoạch hệ thống thủy điện và các khu TĐC đã "gặm nhấm" rừng chỉ còn được dưới 52.000 ha. Hàng chục nghìn ha rừng bị xóa sổ đồng nghĩa với việc hàng chục nghìn khối gỗ được vận chuyển về xuôi, đưa ra thị trường tiêu thụ, làm các đồ mộc mỹ nghệ xuất khẩu ra nước ngoài…


Hồ sơ lưu trữ của Hạt KL huyện Đông Giang cho thấy, từ năm 2004-2006, trong vùng qui hoạch làm thủy điện A Vương đã tận thu được 5.600m3 gỗ. Còn một số thủy điện nhỏ và vừa như: Thủy điện Sông Côn khởi công năm 2005, tận thu được 560m3; thủy điện An Điềm trên 200m3, và thủy điện Za Hưng với việc tận thu khá dễ hàng chục khối gỗ từ những cánh rừng nằm dọc theo đường Hồ Chí Minh.


Tuy nhiên, đó chỉ là con số theo dõi của ngành KL, thực tế rừng bị tàn phá khủng khiếp hơn nhiều. Không chỉ rừng trong vùng qui hoạch làm thủy điện, qui hoạch các khu TĐC bị phá mà nằm ngoài vành đai cũng bị băm vằm ngang dọc với lý do được nêu ra là mở đường vận chuyển vật liệu xây dựng phục vụ thi công thủy điện, vận chuyển gỗ tận thu...


Đây cũng là một trong những kẽ hở mà các huyện miền núi có dự án thủy điện dường như ít đề cập tới, hoặc có biết, song vì lý do nào đó cũng nhắm mắt làm ngơ, tạo điều kiện cho các trùm gỗ lậu câu kết với những cán bộ địa phương, ngành KL bị thoái hoá, biến chất để hợp thức hóa thủ tục tàn sát rừng trục lợi.


Nói thế không có gì là võ đoán, bởi chứng minh rõ ràng nhất là vụ án phá rừng Khe Diên và vụ phá rừng ở huyện Nam Giang, làm cho nhiều cán bộ chủ chốt phải mất chức, vào trại giam…


Một số lãnh đạo các huyện miền núi có thủy điện ở Quảng Nam còn cho biết thêm rằng, do nằm trong qui hoạch thủy điện nên rừng bị tàn phá một cách hợp pháp và việc tận thu gỗ cũng làm theo kiểu "ăn xổi". Cứ chỗ nào dễ lấy thì cho đốn hạ, bốc lên xe, còn nơi nào khó khai thác thì cho xe ủi xuống suối, xuống khe.


Cũng vì thế mà trong bão số 9, lũ rừng đã cuốn về đồng bằng những cây gỗ còn nguyên, tấp ở đầu cầu Quảng Huế, Đại Lộc, hình thành một bãi gỗ khổng lồ với hàng nghìn khối. Đó là chưa kể đến khối lượng gỗ lớn trôi tuột ra phía biển Cửa Đại mà người dân vớt được.


Long Vân


Nguồn: cand.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »