Đọc bài thơ Lời chim câu của Nguyễn Nguyên Bảy http://www.trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=7158&catid=4
Thời gian vừa qua, những bài thơ của NNB tựa một sự tổng kết, chiêm nghiệm những gì đã trải qua trên đường đời- như chùm thơ về Mẹ, và mới đây nhất là về Tình nghĩa trăm năm gói trong chùm "Lời chim câu". Quen biết anh từ khi tôi còn ở tuổi thanh xuân, thuộc không ít thơ anh qua nhiều giai đoạn, song cứ mỗi lần tiếp nhận một bài thơ mới của anh, tôi đều thấy ngỡ ngàng bởi sự say mê không mệt mỏi của anh trong việc khám phá thế giới bản thân mình bằng thơ ca. Nhưng dường như, đối với người thi sĩ có phần lạ lùng bí hiểm này, Nghệ thuật chữ nghĩa càng ngày càng trở nên chỉ là thứ phương tiện sau rốt. Anh tối giản câu chữ bóng bẩy, phép tu từ, mỗi câu thơ chỉ giống như lời nói thô mộc hàng ngày, hoặc chắc nịch như tục ngữ, ngọt sắc như ca dao, thậm chí đưa cả lời chú thích nặng thông tin vào cấu trúc thơ, thế nhưng, hiệu quả thơ thực bất ngờ khiến người đọc không thể chỉ đọc một lần câu thơ, khổ thơ, bài thơ ấy, kích thích họ bằng chính trải nghiệm của mình để khám phá thêm ý nghĩa và sự lý thú của chúng... Đằng sau những câu thơ, hình tượng thơ đó là toàn bộ cuộc sống đầy trăn trở ngẫm ngợi, chất chứa niềm thương yêu của người viết, và chứa đựng một nội hàm văn hóa sâu xa.
Lời chim câu là một trong những bài thơ như thế.
Tình nghĩa vợ chồng được hình tượng hóa bằng cuộc đối thoại giữa đôi chim câu Trống- Mái. Nếu như ở "Tiếng gù bồ câu trống", triết lý Á Đông về Âm Dương ngũ Hành được nêu bật tựa những ngọn núi chân lý để soi rọi làm sáng tỏ sự tồn tại (cùng ý nghĩa và đòi hỏi) của đạo nghĩa vợ chồng truyền thống, thì ở "Tiếng gù bồ câu mái" lại tràn ngập cảm xúc dân gian như nguồn suối mát rượi về tình nghĩa trăm năm. Thực ra, hàng ngàn năm qua, sự tồn tại đã vận hành như vậy trong đời sống, nhà thơ chỉ là người thu gom khái quát lại bằng hình thức cô đọng và bay bổng:
Vợ chồng như đất và nước Có điều, ở đây tác giả "cá biệt" hóa cuộc sống lứa đôi của mình với muôn vàn lứa đôi khác bằng hình tượng:
Chúng tôi chỉ là đôi bồ câu Không biết véo von chỉ biết gù Rồi nhà thơ lại thêm một lần cầu đến sự chứng giám của Mẹ khi nói về Tình yêu và Sự nghiệp cả đời mình, bởi với anh, Mẹ chính là hiện thân của các bà tiên "Dạy tôi ghép chữ thành vần/ Dạy tôi làm chồng làm vợ" (Nơi ấy-Thơ NNB I):
Con xin Mẹ làm vô loài xướng ca Thương thay bồ câu không biết hót! Tôi lạc giữa vườn chữ nghĩa ba hoa Nơi vạn vật thăng ca đều thành giống cái Cái mà anh gọi vui là "vô loài xướng ca", "chữ nghĩa ba hoa" đó thực ra lại được khí thiêng sông núi (hạo khí anh linh) của người Việt tự ngàn xưa thuộc Mẹ Đất (hậu thổ, Địa Tiên) hay Mẹ Nước (Rồng) làm cơ sở, vì vậy nó hết sức thiêng liêng:
Với em anh chót vót thanh cao Trống mái gù lời xướng họa
Nhưng đâu chỉ là "lời xướng họa"! "Tiếng gù bồ câu" đó còn trở thành một sứ mệnh cả đời người, nó có sức lôi kéo kỳ diệu, có khả năng đặc biệt uốn nắn tư cách lẫn quan niệm sống, tạo ra sức mạnh tinh thần phi thường để vượt qua mọi "Sông Mê bến Lú", để có một nhân cách ngạo nghễ coi thường mọi hư danh trong cõi đời này (mà "công danh" chỉ là một trong đó):
Trong tiếng gù bồ câu không có lời than thở Công danh là chuyện mưa rào Mưa rào bồ câu không xuống sân nhặt thóc Tiếng chim gù, hay còn là tiếng hát Trương Chi mà "Ai đi qua cũng rớt mái chèo" (Sông Tương), là "Kèn lá đa cha thổi vang trời" (Bái tình), là "giao duyên lời thề non nước" (Cầu gió); và cao hơn cả, là đó là tiếng nói được truyền từ "Thánh thơ" mà "Hồn Quát nôn thốc tháo ươn hèn" để ném ra "Những vần thơ máu ứa/ Những vần thơ rợp lửa". Cũng chính vì thế, nhà thơ hiểu thấm thía những giá trị của đạo nghĩa được diễn đạt một cách giản dị và "cổ điển" qua lời người bạn đời:
Trống ơi xin nghe mái nói Ngày ngày em tâm thành hương hoa Cầu cho tình tu thân đắc trung đắc chính Đắc câu văn người vợ mình Với một nhà thơ không biết "hót" những lời vớ vẩn kệch cỡm, không biết "véo von" những điều đáng xấu hổ, dù cho "Giấc mơ thơ nát bấy như bùn" (Quả mặt trời), nhưng khi đã xác định: "Thơ và anh chưa thể chết lúc này" (Tự sự I) thì không có "công danh" nào lớn lao hơn, đáng trọng hơn cái điều mà nhà thơ khẳng định nhiều lần chỉ trong một bài thơ- đó là Tình yêu, là khát vọng Tình yêu cần được bảo vệ trong cuộc sống thanh bình- cái thanh bình từng phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt, cả sinh mạng:
Trong tiếng gù bồ câu chỉ có lời tình ...Xin dâng tặng tình trọn một chữ yêu ...Anh nguyện yêu em trọn một đời tình
...Đôi mình đã bay qua bom đạn Vẹn nguyên về bến thanh bình Bồ câu gù trong veo trời xanh
Vì thế, khi nhà thơ viết đoạn "Bất ngờ Picatxô" thì chúng ta không hề thấy bất ngờ. Ngắm nhìn con chim bồ câu xơ xác bay về phía trước của danh họa Tây Ban Nha, nhà thơ có cảm tưởng chân thật và "ấm áp" quá chừng:
Picatxô yêu tiếng gù của bồ câu ấm áp
Vẽ nên tranh Con chim bồ câu đáng yêu đang dữ dội bay đó như tìm thấy sự đồng cảm của biết bao con người và bao xứ sở đang khao khát sự sống thanh bình, và nhà thơ như "vẽ" tiếp cái khát khao ấy bằng phương pháp của hội họa, của điện ảnh qua ngôn ngữ thơ ca:
Ban mai yêu tiếng gù của bồ câu ấm áp Duỗi nằm êm ả mặt sông Gió sớm yêu tiếng gù của bồ câu ấm áp Lượn ôm hoa lúa hoa chanh Vì lẽ ấy đôi mình cửa tổ Phì nhiêu khoan nhặt gù tình…
Bốn mươi năm trước, sau những trận ném bom B52 của Mỹ, tôi cũng từng được ngắm bức tranh "Chim hòa bình" của Pablo Picasso trong một cuốn tạp chí nước ngoài, và có làm bài thơ Về một cánh chim dễ bị đánh lừa.
Tôi xin được liều đem nó ra để họa cùng bài thơ Lời chim câu - cũng là một cách để bạn đọc (trong đó có tôi) cảm thụ thêm, hiểu thêm về bài thơ của anh NNB mà tôi không thể diễn đạt hết sự sâu sắc và lý thú của nó. Sau những trận bom đó, tôi đã chia tay với gia đình anh chị NNB-Lý Phương Liên suốt bốn mươi năm sau mới gặp lại!
NAT
www.trieuxuan.info
|