
Nhà văn Triệu Xuân và nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (trái) tại Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 130 năm sinh Đạm Phương nữ sử, TP. Huế, 18-6-2011. Ảnh: Nguyễn Hữu Ngôn.
Mời đọc bài cùng mạch tư liệu: Xuất bản tuyển tập Đạp Phương nữ sử
Hồi còn học Trung học Đệ Nhất cấp (1956-1958) trường Quốc Học, tôi thường ở lại nhà anh Liên Đàm ở gần chợ Vỹ Dạ. Anh Đàm là con trai thứ của bác Tráng Đinh (cháu của Kỳ Ngoại hầu Cường Để), nhà có nhiều thơ văn lịch sử quý của Huế. Tôi đã được anh Đàm cho đọc thơ văn của Đạm Phương nữ sử và tôi rất thích. Nhờ thế mà sau nầy (từ 1975) đi nghiên cứu văn hóa lịch sử Huế, tôi sớm quan tâm đến bà Đạm Phương. Tôi sưu tập được một số tài liệu, sách, hình ảnh về bà và cũng đã viết một số bài về bà [1]. Nhưng thú thật, suốt mấy mươi năm tra cứu nhiều sách vở của Nam triều, của Pháp, của người cùng thời, hỏi chuyện các nhân chứng lịch sử, người trong Hoàng tộc tôi vẫn không thể nào có đủ thông tin để hoàn thành bản tiểu sử Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện - thân sinh của bà Đạm Phương. Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện là con trai của vua Minh Mạng, thế mà trong Đại Nam Liệt Truyện (Nhị tập, Q.6 và Q.7, dành viết truyện các Hoàng tử con vua Minh Mạng) của Quốc sử quán triều Nguyễn không hề có một dòng nào viết truyện (tiểu sử) Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện cả. Ngay cả Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, khi biên soạn Nguyễn Phúc tộc Thế phả, cũng không đủ tư liệu để viết tiểu truyện của Vương. Lý do vì sao cho đến nay tôi vẫn chưa giải đáp được. Trong lúc đó việc tìm hiểu tiểu sử của Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện là một việc không thể thiếu khi giải thích về nguồn học vấn và tư tưởng của Đạm Phương nữ sử - người phụ nữ làm cầu nối trí thức giữa hai nền văn hóa cổ truyền và Phương tây hồi đầu thế kỷ XX. Bài viết nầy chưa giải quyết được vấn đề đang đặt ra nhưng dù sao cũng là một sự cố gắng bước đầu để các bậc thức giả, các nhà khoa học hiện nay quan tâm bổ túc cho được đầy đủ.
Hồi còn học Trung học Đệ Nhất cấp (1956-1958) trường Quốc Học, tôi thường ở lại nhà anh Liên Đàm ở gần chợ Vỹ Dạ. Anh Đàm là con trai thứ của bác Tráng Đinh (cháu của Kỳ Ngoại hầu Cường Để), nhà có nhiều thơ văn lịch sử quý của Huế. Tôi đã được anh Đàm cho đọc thơ văn của Đạm Phương nữ sử và tôi rất thích. Nhờ thế mà sau nầy (từ 1975) đi nghiên cứu văn hóa lịch sử Huế, tôi sớm quan tâm đến bà Đạm Phương. Tôi sưu tập được một số tài liệu, sách, hình ảnh về bà và cũng đã viết một số bài về bà [1]. Nhưng thú thật, suốt mấy mươi năm tra cứu nhiều sách vở của Nam triều, của Pháp, của người cùng thời, hỏi chuyện các nhân chứng lịch sử, người trong Hoàng tộc tôi vẫn không thể nào có đủ thông tin để hoàn thành bản tiểu sử Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện - thân sinh của bà Đạm Phương. Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện là con trai của vua Minh Mạng, thế mà trong Đại Nam Liệt Truyện (Nhị tập, Q.6 và Q.7, dành viết truyện các Hoàng tử con vua Minh Mạng) của Quốc sử quán triều Nguyễn không hề có một dòng nào viết truyện (tiểu sử) Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện cả. Ngay cả Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc, khi biên soạn Nguyễn Phúc tộc Thế phả, cũng không đủ tư liệu để viết tiểu truyện của Vương. Lý do vì sao cho đến nay tôi vẫn chưa giải đáp được. Trong lúc đó việc tìm hiểu tiểu sử của Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện là một việc không thể thiếu khi giải thích về nguồn học vấn và tư tưởng của Đạm Phương nữ sử - người phụ nữ làm cầu nối trí thức giữa hai nền văn hóa cổ truyền và Phương tây hồi đầu thế kỷ XX. Bài viết nầy chưa giải quyết được vấn đề đang đặt ra nhưng dù sao cũng là một sự cố gắng bước đầu để các bậc thức giả, các nhà khoa học hiện nay quan tâm bổ túc cho được đầy đủ.
1. Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện – hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng
Miên Triện ra đời ngày 19-7-1833 (3 tháng 6 Quí tỵ) là Hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng và bà Tài Nhân Trần Thị Thanh. Bà Tài Nhân chỉ sinh có một người con là Miên Triện. Bà có tên húy là Hà Hương. Lúc bà qua đời được ban thụy là Trang Thận. Miên Triện ra đời lúc vua cha mới 42 tuổi còn rất sung sức. Cùng tuổi (sinh năm 1833) với Miên Triện có thêm 6 người anh (Miên Uyển, Miên Ổn, Miên Trụ, Miên Khế, Miên Ngụ, Miên Tả) và 3 cô em gái Tĩnh An, Thục Tư và Nhu Nghi.
Năm Vương lên tuổi 17 (1850, Canh tuất), được phong Triệu Phong Quận Công, xuất cung và lập Phủ riêng (ngày nay tại số 26 Tô Hiến Thành, P. Phú Cát, TP Huế). Không rõ Vương lập Phủ thiếp năm nào, chỉ biết Vương có hai bà vợ, sinh cho Vương hai người con gái là Công nữ Úy Đào và Công nữ Đồng Canh (sau nầy là bà Đạm Phương nữ sử).
2. Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện thời “tứ nguyệt tam vương”
Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện là người có tinh thần cầu tiến, ham mê đọc sách, trọng Đạo Nho. Do đó sau ngày vua Tự Đức băng (19-7-1883), ông rất buồn khi phải chịu đựng những biến động của thời “tứ nguyệt tam vương” do hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thống lĩnh trong triều Nguyễn. Như nhiều sử sách đã ghi: Ưng Chân con nuôi của vua Tự Đức nối ngôi vua cha Tự Đức mới được ba ngày (tức vua Dục Đức) thì bị truất và bị bỏ chết khát trong tù. Văn Lãng Quận Vương - em thứ 29 của vua Tự Đức, đã 36 tuổi (sinh 1847), được tôn lên làm vua với niên hiệu Hiệp Hòa. Hoằng Hóa Quận Vương tưởng như thế xã tắc được yên để đối phó với giặc Pháp bên ngoài, không ngờ, Hiệp Hòa mới ngồi trên ngai vàng khoảng 4 tháng thì lại có âm mưu phế truất để đưa một người con nuôi khác của vua Tự Đức lên thay thế (tức vua Kiến Phước). Cuộc phế lập lần nầy đẫm máu và nước mắt được Đại Nam thực lục ghi lại như sau:
“Đến giờ mùi, hai người đón Hoàng tử thứ 3 vào viện Cơ mật tạm nghỉ và đem tờ tâu bỏ vua cũ lập vua mới, tâu lên Tư Dũ Thái hoàng Thái hậu lấy ý Chỉ để thi hành. Lại sai mở cử mạn tây nam (ngày hôm ấy cửa 4 mặt Kinh thành đóng kín cả ngày), cho gọi các hoàng thân, cũng lục tục vào Tả vu. Đến nơi thì ai cũng im lặng, chỉ trông nhau mà thôi. (Duy Tuy Lý vương, Hồng Tu, Hồng Sâm ở ngoài, nghe biết tin sợ bị vạ lây, bèn đem gia quyến đến chỗ phái viên Pháp đóng ở Thuận An cầu cứu. Hoằng Hóa công Miên Triện, Hải Ninh Quận công Miên Tằng cũng sợ hãi đi mất. Sau đấy vài ngày, Hồng Phì đi công tác ngoài Bắc về, đến đầu địa giới Quảng Trị nghe biết tin tự cho là nguy, lập tức thuê thuyền đến hội với Tuy Lý vương. Sau vì phái viên Pháp giao trả về, cùng với Hồng Tu, Hồng Sâm bị nạn)” [2] Sự thật là Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện đã đi trốn. Sau đó ông và gia đình bị bắt và bị Phủ Thừa Thiên giam ở Huế rồi sau đó bị đưa đi quản thúc ở tỉnh Phú Yên[3]. Đến cuối năm 1885, ông và gia đình mới được vua Đồng Khánh cho trở lại Huế và phục hồi lại tước Quận Công. Chán chuyện đời, để xa lánh nơi đô hội, ông chuyển lên ở phía nam núi Dẫn Khiêm, nhà ông ở có tên “Học Bạn Tinh Xá”.
3. Hoằng Hóa Quận vương cầm đầu sứ đoàn ngoại giao sang Pháp
Đầu năm 1889, Vương cùng với gia đình đang ở “Học bạn tinh xá” tại phía nam núi Dẫn Khiêm, thì có Chỉ của vua Thành Thái gọi về Kinh để đi sứ Tây. Sự kiện đó gợi nhớ lại hồi cuối thế kỷ XVIII (khoảng năm 1783), Nguyễn Vương cử Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện để chống lại Phong trào Tây Sơn, việc không thành mà ngược lại sự kiện ấy đã lưu lại một nỗi đau trong lịch sử triều Nguyễn. Hơn một thế kỷ sau (1889), lần đầu tiên có một hoàng thân chính thức được triều Nguyễn cử sang Pháp “thông sinh”[4] (từ của Nguyễn Bá Trác). Lúc bấy giờ vua Đồng Khánh được thực dân Pháp dựng lên mới ba năm thì vua băng. Thành Thái nối ngôi ở tuổi chín mười, với biết bao chuyện sáng tối trong bang giao Việt Pháp. Để làm được cái việc “thông sinh” khó khăn ấy ắc hẵn triều đình Nguyễn đã phải tìm cho bằng được một người có khả năng nhất hồi bấy giờ để giao trách nhiệm. Việc Hoằng Hóa Quận Vương được chọn dẫn đầu sứ đoàn chứng tỏ Vương là một người rất giỏi. Hai Phó sứ là Tổng đốc Vũ Văn Báu (HVGT Niên biểu viết là Báo) và Tham tá Cơ Mật viện Nguyễn Trừng [5]. Tùy tùng sứ bộ có các ông Nguyễn Gia Thoại (Viên ngoại Cơ Mật viện), Đoàn Phương, Nguyễn Hữu Mẫn (Chủ sự), Hồng Danh (Y sanh), Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Lợi (thông ngôn). v.v.
Nhiệm vụ của sứ đoàn là yết kiến Tổng thống Pháp và Chính phủ Pháp để thương thuyết 10 vấn đề. Theo tiểu sử của ông Nguyễn Trừng được ghi trong Nguyễn tộc Gia phổ họ Nguyễn gốc xã Diên Khánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), thì trong 10 vấn đề đó có các vấn đề “Các tỉnh Trung kỳ không cần đặt Công sứ” (Vấn đề thứ 3), “Giao trả Kinh thành Huế lại cho Nam Triều”(Vấn đề thứ 4), “Giữ lại nhà Kinh lược với quan lại bắc Kỳ như cũ” (Vấn đề thứ 6), “Không cho phép Jean Dupuis lãnh trưng thuế lâm sản Thanh Nghệ”(Vấn đề thứ 8).
Đoàn rời Huế vào ngày 13-3-1889, đến Paris ngày 30-6-1889. Ngày 3-7-1889, yết kiến và trình bày 10 vấn đề với Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot [6] tại Điện Élysée. Tiếp đến, suốt ba ngày sứ đoàn đi yết kiến Thủ tướng Pháp, các bộ Thuộc địa và Thủy Quân, bộ Ngoại giao-Nội vụ, Tòa Thị chính Paris. Đi xem triển lãm Kỷ niệm 100 năm Cách mạng Pháp thành công (1789-1889).v.v.Chính phủ Pháp giao Tổng trưởng Thuộc địa ủy phái cho ông Louche qua Việt Nam để quan sát tình hình và giải quyết các vấn đề sứ đoàn đặt ra. Ngày 2-8-1889 Sứ đoàn rời Paris về nước.
Trong chuyến đi sứ Tây ấy, Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện được họa sĩ Pháp André Robert vẽ một bức chân dung và hiện nay vẫn còn được gìn giữ thờ phụng tại Phủ Hoằng Hóa. Vương ông có dịp mua được một số sách Pháp lịch sử văn minh văn hóa Pháp, đặc biệt là các sách viết về Cách mạng Pháp 1789, các sách của Voltaire (1694-1778), Jean -Jacques Rousseau (1712-1778), Montesquieu .v.v. viết về dân chủ, tự do, nhân quyền. Qua chuyến đi Vương thấy được sự khác biệt giữa xã hội Pháp thân thiện với bọn thực dân Pháp tàn ác đang chiếm đóng nước Việt. Những nhận thức trong thực tế cùng với sách vở mới đã giúp ông hướng đến một tư tưởng khác với các đại thần đang làm công bộc cho Nam triều trong tay Pháp thời bấy giờ. Những gì Sứ đoàn yêu cầu, Chính phủ Pháp hứa nhưng không giải quyết hoặc giải quyết lấy lệ như việc trả lại Kinh thành cho Nam triều mà vẫn giữ Mang Cá để làm đồn binh của Pháp. Không thi thố được tư tưởng mới trong cuộc đời, ông xa lánh chốn đô hội, lên “Học Bạn Tịnh Xá” đọc và viết sách, dạy dỗ, truyền đạt những ý tưởng mới cho các con.
4. Một tác gia thời dân tộc đang muốn hướng đến Tây phương
Miên Triện thích thơ văn từ nhỏ. Lớn lên ông đặt tự là Quân Công, lấy hiệu là Ước Đình. Ông tham gia Mạc Vân Thi xã do anh ông là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870) thành lập và đặt ngay tại Phủ Tùng Thiện bên sông Lợi Nông. Trong Thi xã còn có các anh ông là Thọ Xuân Vương Miên Định (1810-1886); Hàm Thuận Công Miên Thủ (1819-1859), Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820-1897, Tương An Quận Vương Miên Bửu (1820-1854), và đặc biệt có các thi bá Chu Thần Cao Bá Quát (1809-1854); Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1795-1872), Hà Tôn Quyền (1789-1839) [7] .v.v.
Về trước tác của ông, hiện đã tìm được tập Ước Đình Thi Sao, do Dực Kinh lâu in năm Thành Thái Tân sửu (1901), Thương Sơn (tức Tùng Thiện Vương Miên Thẩm) viết phê bình và Vi Dã (tức Tuy Lý Vương Miên Trinh) giám định. 1 bản in, (bộ 2 Q), 144 tr., khổ 23 x 14, 1 mục lục. Ước Đình Thi Sao gồm 240 bài thơ tả cảnh trên đường đi sứ sang Pháp năm 1889, thơ đề vịnh, họa đáp, tiến tặng, phúng viếng làm trong các trường hợp khác nhau trước và sau năm 1889.
Viện Hán Nôm cũng còn giữ được tập Tây hành nhật trình diễn âm[8] “tường thuật theo thể 6-8 chuyến sang Pháp năm Thành Thái thứ 2 (1890) của đoàn sứ bộ triều Nguyễn do Miên Triện làm chánh sứ, Nguyễn Trừng làm Phó sứ, gồm hành trình, lễ nghi đón tiếp và công viêc”.[9]
Qua trang nhà Đất Việt Trời Nam (Paris), tôi sưu tập được bản diễn Nôm bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Thức (Tô Đông Pha) của Hoằng Hóa Quận Vương. Qua bản diễn Nôm nầy ta đọc được nhiều từ Huế mà đến nay không còn ai dùng nữa.
Năm 1918, theo học giả Phạm Quỳnh Chủ - bút Tạp chí Nam Phong, trong dịp đến thăm bà Đạm Phương - con gái của Hoằng Hóa Quận Vương, bà cho biêt bà đang giữ một “bộ di văn của Đức ông khi xưa để lại, cả thảy hơn mười quyển, chưa từng đem in và công bố bao giờ”. Ông Phạm đọc qua và nhận xét rằng “Toàn là những văn nghị- luận thiết thực, chớ không phải lối văn trường-ốc. Vả Đức ông về đời Thành Thái có sung đi sứ bên Pháp, nên kiến văn rộng lắm. Khi ở Tây về, đóng cửa làm sách trong mấy năm: bộ di-văn này tức là kết-quả của cái công trước thuật của ngài hồi bấy giờ”. Ông Phạm Quỳnh xin bà Đạm Phương “cho phép đem in để công bố cho quốc dân biết cái tư-tưởng một bậc đại-nho của nước ta”. Bà Đạm Phương “hứa sẽ cho sao lại rồi gửi ra sau, vì hiện chỉ có một bản muốn giữ làm gia-bảo”. [10] Nhưng không rõ sau đó bà Đạm Phương có thực hiện lời hứa đó hay không. Nếu có cũng không rõ sau đó các trước tác của Hoằng Hóa Quận vương Miên Triện có được công bố hay chưa mà tôi không tìm trong Mục lục tạp chí Nam Phong.
5. Phủ đệ ở phường Phú Cát
Hoằng Hóa Quận Vương không có con trai. Bà chánh thất (Miên Triện phu nhân) sinh Công nữ Úy Đào, bà thứ thất sinh Công nữ Đồng Canh (sau nầy là bà Đạm Phương nữ sử).
Công nữ Úy Đào sau về làm dâu nhà nguyên Thượng thư bộ Hình Trần Đình Phát ở Quảng Trị;
Công nữ Đồng Canh lập gia đình với ông Nguyễn Khoa Tùng.
Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện không có con trai nối dõi nên về sau Vương đã xin người con trai thứ 42 của Thọ Xuân Vương Miên Định là Nguyễn Phúc Hồng Du làm con. Hồng Du đổi tên thành Hồng Hậu, đứng đầu Phủ Hoằng Hóa Quận Vương.
Phủ Hoằng Hóa Quận Vương được gìn giữ cho đến ngày nay tại số 26 đường Tô Hiến Thành phường Phú Cát Huế. Một phần đất thuộc Phủ ngày xưa được cắt ra xây dựng chùa Diệu Hỷ - một ngôi chùa nữ không lớn nhưng nổi tiếng ở ngay bên ngoài vòng tường phía bắc chùa Diệu Đế.
Chủ bút tạp chí Nam Phong đã đọc qua “bộ Di văn của Đức ông xưa để lại”, ông đã thấy bộ Di văn ấy “Toàn là những văn nghị- luận thiết thực, chớ không phải lối văn trường-ốc” phản ảnh được “cái tư-tưởng một bậc đại-nho của nước ta.” Ông Phạm Quỳnh - một nhà Tây học, một nhà báo, một nhà văn uyên bác nhất thời ấy, mà nhận định về trước tác của Hoằng Hóa Quận Vương như thế thì thật không thể tìm được người đương thời thứ hai nào để so sánh với Vương cả. Nếu được nghiên cứu kỹ các trước tác ấy và cuộc đời thực của Hoằng Hóa Quận Vương ta có thể bổ sung Vương vào lịch sử tư tưởng canh tân Việt Nam đầu thế kỷ XX, ta có cơ sở để giải thích vì sao Vương được vua Thành Thái tin dùng. Nhưng rất tiếc ta chưa được đọc những trước tác ấy nên không dám biện thuyết tùy tiện. Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi, ta có thể khẳng định một sự thật: Hoằng Hóa Quận Vương đã để lại một tác phẩm sống hết sức giá trị. Tác phẩm sống ấy là người con gái tuyệt vời của ông – bà Công tôn nữ Đồng Canh - Đạm Phương nữ sử. Đúng như học giả Phạm Quỳnh đã viết:“Đức ông không sinh được người con giai (trai) nào, nhưng được người con gái như phu nhân (tức Đạm Phương nữ sử) tưởng cũng là xứng đáng lắm vậy”.
Ngày nay, Đạm Phương nữ sử đã được vinh danh, một số cơ sở xã hội ở Huế đã mang tên bà, thành phố Huế đã có tên đường Đạm Phương. Nhưng sẽ rất thiếu sót nếu ta không quan tâm nghiên cứu, biết rõ để vinh danh người đã sinh ra và đào tạo nên Đạm Phương nữ sử.
Huế, tháng 5-2011
N.Đ.X.
www.trieuxuan.info
|