tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
28.06.2011
Nguyễn Chính Viễn
Về bài thơ của Lê Thánh Tông trên núi Bài Thơ

Trò chuyện với ông Vũ Anh Tuấn


Ông Vũ Anh Tuấn, người đã từng tu nghiệp ở Trung Quốc nhiều năm- Ký sư Khai thác Mỏ- Phó Giám đốc Công ty đã nghỉ hưu, hội viên Hội VHNT Quảng Ninh, Hội viên CLB UNESCO thơ Đường Viết Nam, về bài thơ khắc trên đá của Vua Lê Thánh Tông. Ông đã in 2 tập thơ Đường do NXB HNV in và có nhiều thơ in trên các báo Trung ương và địa phương.


          Bài thơ vua Lê Thánh Tông làm năm 1468 được khắc vào vách núi Truyền Đăng (nay là núi Bài Thơ- TP Hạ Long Tỉnh Quảng Ninh) đã lâu nên phôi pha mưa gió có chữ đã bị bào mòn.


          Nhà giáo Nguyễn Thanh Dân đã trèo lên rờ từng nét chữ và ghi lại để tra cứu và đoán định. Qua các bản ghi, các bản dịch nghĩa và các bản dịch thơ đang lưu hành ở Quảng Ninh có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Đây là một bài thơ của một vị vua anh minh văn võ kiêm toàn, trị vị thời gian dài trong lịch sử đất nước, có nhiều bài ngâm vịnh, câu chữ thật hàm xúc và thể hiện khí phách của một vị vua biết nhìn xa trông rộng trong công cuộc cai trị.


Những năm tháng học ở Trung Quốc đã giúp Vũ Anh Tuấn hiểu biết nhiều về chữ nghĩa ngôn từ của Trung Quốc. Ông Tuấn đã mạnh dạn nêu ý kiến của cá nhân ông để quý vị xem xét, thẩm định. Mục đích là làm sao cho bài thơ của vua Lê Thánh Tông khắc trên vách đá đạt như nguyên tác và dịch chuẩn xác nhất lưu truyền cho đời sau. Ông đã đi sâu vào từng khía cạnh:


I – Câu phá đề và thừa đề (1&2)


          1 – Theo GS Nguyễn Huệ Chi và Viện Hán Nôm hai câu 1 & 2 là: “Cự tẩm uông dương triều bách xuyên/ Loạn Sơn kỳ bố bích liên thiên”. Ông đã dịch nghĩa là: “Nước lớn mênh mông trăm sông chảy vào/ Núi non la liệt như quân cờ màu nước tiếp liền trời”. Ông Mai Hải dịch thơ: “Trăm sông triều hội biển mênh mông/ Xanh biếc trời xa, núi trập trùng”.


          2 -  Theo cụ Nguyễn Duyên Niên, ông Trần Nhuận Minh, ông Hào Minh, ông Nguyễn Thanh Dân là: “Cự lãng uông uông triều bách xuyên/ Quần sơn cơ bố bích liên thiên”. Ông Nguyễn Thanh Dân dịch nghĩa là:


“Sông lớn mênh mông triều dâng, (như từ trăm sông dồn lại)/ Núi san sát dăng hàng sắc biếc liền với sắc trời”. Ông Hào Minh dịch thơ là : “Trăm sông dồn lại sóng dâng đầy/ Xanh biếc trời mây núi xếp dầy”. Ông Trần Nhuận Minh dich thơ là: “Cuộn núi trăm sông sóng dựng đầy/ Núi bầy thế trận xanh liền mây”.


Như vậy xét nguyên tác câu 1 ở chữ thứ 5 bị bào mòn nhẵn, không còn tự dạng.


Ông Tuấn có 3 ý đề xuất:


- Ý thứ nhất cho đây là chữ “triều” nghĩa là chầu về, dịch là chầu vào (Nguyễn Huệ Chi, Mai Hải).


- Ý thứ 2 chữ “triều” nghia là nước thủy triều nên dịch là


triều dâng (Nguyễn Thanh Dân).


- Ý thứ 3 cho đây là chữ “triều” nghĩa là vênh lên, vểnh lên


 dịch là sóng triều vểnh lên dào dạt (Hào Minh).


             3- Bàn luận xem chỗ nào là hợp lý và chuẩn xác.


A- Về câu 1: “Cự tẩm uông uông… bách xuyên”, cho nên theo ông


 chữ thứ 5 đúng nguyên tác phải là chữ “triều” dịch là “triều dâng”. Còn dịch câu này sao cho chuẩn xác cần bàn về cách dịch chữ “xuyên”. Các tác giả nhà thơ đã dịch chữ “xuyên” là “sông”. Câu thơ này tả cảnh nước “triều” dâng lên mênh mông, sóng xô dào dạt, nhấp nhô nước từ các ngách núi dồn dập đổ về. Do vậy chữ “xuyên” dịch là “dòng” nước mới đúng ngữ cảnh: Dòng nước mưa trên đường, dòng nước khe núi. Sông lớn sông dài dùng chữ “xuyên” không đại diện nổi. Dòng nước nhỏ là suối thì sáng tạo là chữ “khê”, Nguyễn Du đã tả: “Bước lần theo ngọn “tiểu khê” mà không gọi là “tiểu xuyên” là ý ấy. Nếu là con sông dài, to phải bắc cầu thì sáng tạo chữ “giang”: Trường Giang, Hắc Long Giang, Cửu Long Giang, Bạch Đằng Giang… có ai gọi là Bạch Đằng xuyên đâu? Nếu sông to rộng có bến cảng, cửa khẩu, có thuyền phà neo đậu, thì sáng tạo chữ “hà”: Hoàng Hà, Hồng Hà. Thời Lê Thánh Tông chữ Hán đã phát triển tại sao nhà thơ (vua) không dung chữ “hà”, chữ “giang” mà lại dung chữ “xuyên”. Vịnh Hạ Long hai bên là núi,  dưới là nước, nhà thơ dùng chữ “xuyên” phải dịch là “dòng” nước mới đúng!


          B – Về câu 2:  “…kỳ bố bích liên thiên”. Có hai ý trái ngược nhau.


- Ý thứ nhất cho đây là  “Loạn Sơn kỳ bố”


- Ý thư hai cho đây là “Quần sơn cơ bố”


Đây không thể là chữ “loạn sơn kỳ bố” được. Vì loạn sơn nghĩa là núi mọc lung tung. Mà kỳ bố nghĩa là sắp xếp, sắp đặt như quân cờ, quân cờ sắp đặt theo hàng lối ngay ngắn hẳn hoi. Hai ý này trái ngược nhau, tự nó triệt tiêu nhau thành vô nghĩa. Đây phải là “Quần Sơn cơ bố” mới đúng nguyên tác: Núi non Hạ Long quần tụ như sắp đặt, sắp xếp đến tận chân trời là đúng ngữ cảnh ở đây! Trong bài “An Bang phong thổ”, Lê Thánh Tông đã dùng chữ “quần” để tả nhiều núi như câu: “Hải thượng vạn phong, quần ngọc lập” và có dùng chữ “cơ bố” ở câu 2: “Tinh là cơ bố thúy tranh vanh”. Như vậy trong thơ Lê Thánh Tông thường dùng chữ “quần” và “cơ bố”. Hai ông Hào Minh và Nguyễn Thanh Dân xác định đây là chữ “Quần Sơn cơ bố” là đúng.


          C – Kết luận : Vậy hai câu thơ này nguyên tác như ông Nguyễn Thanh Dân chép ra là hợp lý: “Cự lãng uông uông triều bách xuyên/ Quần Sơn cơ bố bích liên thiên”. Dịch nghĩa là: “Trăm dòng triều dâng, sóng cả dạt dào mênh mông/ Núi non san sát như sắp xếp xanh đến tận chân trời”. Dịch thơ là “Trăm dòng biển biếc sóng triều dâng/ Thăm thẳm trời xanh núi trập trùng”.


 


II – Hai câu thực (3 & 4):


        Rất may mắn hai câu này chữ còn nguyên vẹn không bị bào mòn. Cả hai ông Hào Minh và Nguyễn Thanh Dân rờ lại từng nét chữ đối chiếu với bản của cụ Nguyễn Duyên Niên đều thống nhất câu chữ như sau: “Tráng tâm sơ cảm hàm tam củ/ Tín thủ dao để tốn nhị quyền”. Tuy vậy về chữ Hán theo Viện Hán Nôm, GS Nguyễn Huệ Chi, ông Minh Hải ghi 3 chữ “hàm tam củ” có khác, “hàm” là quẻ trong kinh Dịch, còn “củ” là bắp vế. Ông Nguyễn Thanh Dân ghi chữ Hàm có chữ “khán” nghĩa là “gào”, “gọi to” và chữ “củ” là trống”, tiếng trống. Hai câu này thật hàm súc nên ai cũng thấy khó hiểu và khó dịch hơn cả. Nhưng đặc điểm của thơ Đường là gợi mở, gợi ý không nói hẳn ra nên dịch đúng nghĩa hai câu này phải đọc cả toàn bài mới nắm hết ý và còn phải đọc cả các bài thơ của Lê Thánh Tông để nắm phong cách, thói quen dùng chữ Hán, hồn vía thơ Lê Thánh Tông,  thì dịch hai câu này mới thoát ý. Vì vậy có nhiều nhà thơ nổi tiếng, nhiều nhà Hán Nôm dịch hai câu này nhưng ý đều khác hẳn nhau:


   1 - Nhà giáo Nguyễn Thanh Dân dịch nghĩa là: “Trong lòng xúc động mạnh mẽ gọi nhanh ba hồi trống/ Thuận tay đề thơ tả sự khiêm nhường (của người nắm hai quyền). Sao lại là ba hồi trống mà không phải là ba tiếng trống canh ba từ trên trạm gác Truyền Đăng vọng lại?


    2- Ông Hào Minh dịch thơ là: “Vừa nghe trống dục lòng thôi thúc/ Tay vung quyền kiếm gió thần bay”. Chữ “dao” ở đây là xa xôi không phải là dao kiếm và chữ “quyền” là quyền hành không thể dịch là: tay vung quyền kiếm được!


   3- Ông Trần Nhuận Minh dịch thơ là: “Nao lòng chở vọng ba hồi trống/ Vững chí làm nên những tháng ngày”, cách dịch này thoát ý quá. Đây là lễ hội gì đâu mà phải đánh ba hồi trống để khai hội? Đấy nên hiểu là trống điểm canh ba, đánh ba tiếng trống mới đúng.


 4- GS Nguyễn Huệ Chi dịch nghĩa là: “Có tráng trí nhưng lúc mới cảm thông vẫn phải theo người/ Như quẻ hàm hào cửu tam/ Nay một tay mặc sức tung hoành từ xa, quyền uy như thần gió”


5- Ông Mai Hải dịch thơ: “Có chí xưa đành theo kẻ khác/ Vung tay nay tóm cả quyền chung”. Lê Thánh Tông là ông vua có khí phách, sao lại “chí xưa theo kẻ khác”? Còn việc “vung tay nay tóm cả quyền chung” chỉ để nói đến con người tự cao, tự đại, độc đoán chuyên quyền. Cho nên hai câu này phải hiểu: “Người có chí lớn nghe tiếng trống canh ba như thúc giục lòng mình- Tùy ý đề ra chiến lược tầm xa thực hiện mạnh mẽ hai nhiệm vụ phát triển non sông”.


III – Hai câu luận ( 5 & 6)


Hai câu này về chữ Hán có chữ viết khác nhau nhưng âm Hán Nôm đọc giống nhau, hai câu đó là: Thần Bắc khu cơ xâm hổ lữ/ Hải đông phong toại tức lang yên”. Dịch thơ là: “Tinh binh, dũng tướng quanh thành Bắc / Khói bụi, tàn chinh chốn biển Đông”. Không có gì cần bàn!


  IV – Hai câu kết (7 & 8)


Hai câu chữ Hán là: “Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại/ Chính thị tu văn yển vũ niên”, về dịch nghĩa dịch thơ đều sát nghĩa gần giống nhau. Duy có dịch bốn chữ “tu văn yển vũ” còn có chỗ hiểu khác nhau nên đã dịch khác nhau.


1- Ông Hào Minh dịch: Trời Nam sông núi còn đây mãi/ Xây dựng giang san chính lúc này”


2- Ông Trần Nhuận Minh dịch là: Trời Nam muôn thuở non sông vững/ Là lúc dùng văn dựng nước này”


   3-  Ông Mai Hải dịch: “Muôn thuở trời Nam non song vững/ Chính thời văn trị dẹp binh nhung”.


       Dịch hai câu này phải dịch rõ 4 chữ “tu văn yển vũ” mới đạt yêu cầu. Vì thực tế trong Đại Việt Sử Ký toàn văn đời Lê Thánh Tông ta thấy:


- Về võ chỉnh đốn lại tổ chức cho tinh binh, biên cương phía Tây và


phía Nam.


- Còn về văn xây dựng luật Hồng Đức, tổ chức các khoa thi kén chọn


người tài, lập ra Hội tao đàn Nhị Thập Bát Tú, đích thân nhà vua làm nguyên soái.


       Chính lúc này ta phải chỉnh đốn mặt võ, xây dựng nền văn trị phát triển đất nước cường thịnh. Nên hai câu trên nên dịch là: “Vạn thuở trời Nam sông núi vững/ Xây văn, gìn võ giữ non sông/”.


          Trên đây là những suy nghĩ của ông Vũ Anh Tuấn qua trao đổi chuyên trò với tôi, theo tôi là những suy nghĩ đầy trách nhiệm. Vì vậy tôi xin ghi lại và kính đề nghị quý vị độc giả nào phát hiện bản nguyên tác chuẩn xác bài thơ Lê Thánh Tông ghi trên vách đá núi Bài Thơ năm 1468 xin chỉ giáo và để trao đổi.


           Sau đây là bài của ông Vũ Anh Tuấn dịch nghĩa, dịch thơ bài thơ của vua Lê Thánh Tông:


      


  Ghi lại bài thơ cua Lê Thánh Tông


 


Cự lãng uông uông triều bách xuyên


Quần sơn cơ bố bích liên thiên


Tráng tâm sở cảm hàm tam củ


Tín thủ dao đề tốn nhị quyền


Thần Bắc khu cơ sẩm hổ lữ


Hải Đông phong toại tức lang yên


Thiên nam vạn cổ hà sơn tại


Chính trị tu văn yển vũ niên


 


 Vũ Anh Tuấn dịch:


Dịch nghĩa:


Trăm dòng triều dâng sóng cả dạt dào


Núi non trùng điệp xanh đến tận trời


Chợt trống canh ba vang vọng chí lớn


Tùy ý đề chiến lược tầm xa mạnh cả đôi đường


Ta đủ binh hùng, tướng giỏi đang giữ vũng thành Bắc


Nơi báo hiệu giặc giã chốn biển Đông cũng khói lặng, lửa tàn yên bình


Non nước trời Nam muôn thuở vững bền


Chính lúc này ta phải chỉnh đốn mặt võ, xây dựng văn trị.


 


Dịch thơ thể Đường Luật:


 


Trăm dòng biển biếc, sóng triều dâng


Thăm thẳm trời xanh, núi trập trùng


Trống dục, canh ba vang chí lớn


Tầm xa quyền mạnh vững đôi đường


Tinh binh, dũng tướng quanh thành Bắc


Khói lụi, tàn chinh chốn biển Đông


Vạn thuở Trời Nam sông núi vững


Xây văn, gìn võ nước non hùng.


 


Dịch thơ thể lục bát:


            Trăm dòng sóng cả triều dâng


   Ngàn xanh vách đá trập trùng trời cao


            Canh ba giục chí anh hào


   Hai quyền vững mạnh tầm cao lâu dài


            Hùng quân thành Bắc trong ngoài


   Tàn chinh yên ả đất trời Biển Đông


           Đời đời bền vững non sông


   Dựng văn, chỉnh võ chính trông thời này.


 


Nguyễn Chính Viễn thực hiện


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »