tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
01.10.2012
Huyền Viêm
Vài mẩu chuyện về nhà thơ Hữu Loan

         Hữu Loan là tác giả bài thơ nổi tiếng “Màu tím hoa sim” viết năm 1949. Ông tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Nhà nghèo, nhưng chăm học nên ông cũng đỗ được bằng Tú tài I thời Pháp thuộc.


         Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, trong phong trào Mặt trận Bình dân. Cách mạng tháng tám thành công, ông làm Ủy viên văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa. Từ những ngày đầu kháng chiến, ông phụ trách tờ báo “Chiến sĩ” của Quân khu 4. Năm 1948 ông làm Trưởng ban Tuyên huấn sư đoàn 304 đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hóa. Năm 1954, tiếp quản thủ đô ông được mời ra làm trong ban biên tập báo Văn nghệ. Năm 1956 ông gia nhập nhóm Nhân văn Giai phẩm.


*  ĐƯỢC  TIN  VỢ  MẤT,  LÀM  THƠ


Theo nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ Núi đôi nổi tiếng - thì năm 1948, ông và Hữu Loan cùng làm báo Chiến sĩ ở Quân khu bốn. Một hôm hai người cùng ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, Hữu Loan đột ngột báo cho ông biết cô Lê Đỗ Thị Ninh vừa mới mất. Bàn tay Hữu Loan cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt ông tái xanh. Và sau này, ở Việt Bắc, Vũ Cao mới được nghe:


                              Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc


                              Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng.


Câu thơ thật như cuộc đời có thật.


Hữu Loan âm thầm ôm nỗi đau ấy sang năm 1949, khi vào Nghệ An chỉnh huấn mới được viết thành thơ. Bài thơ được viết trong hai tiếng đồng hồ vào một buổi trưa vắng, không phải sửa chữa gì. Bài thơ viết ra rồi cất trong ngăn kéo chứ không dám phổ biến vì thời ấy là thời chiến tranh ác liệt, người chiến sĩ phải nén tình thương, dồn hết tâm sức cho cuộc kháng chiến.


Một hôm Hữu Loan đi vắng, Vũ Tiến Đức, biên tập viên cũ của ông ở báo Chiến Sĩ, tình cờ thấy bài thơ, bèn cầm về đọc cho bà Ngọc Chất – mẹ Lê Đỗ Thị Ninh – nghe, sau đó là bè bạn rồi nhanh chóng được lan truyền rộng rãi vì thơ hay. Năm 1956 Nguyễn Bính đăng bài thơ ấy trên tờ báo Trăm Hoa ở Hà Nội mà tác giả không hề hay biết. Một lần nữa, bài thơ được phổ biến rộng rãi cho đến ngày nay.


         * HỮU  LOAN  LÀM  CÂU  ĐỐI  VIẾNG NHẠC MẪU


         Khoảng năm 1937-1938 Hữu Loan làm gia sư tại nhà ông Lê Đỗ Kỳ, sau này ông là đại biểu quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vợ ông Kỳ là bà Đới thị Ngọc Chất rất thương yêu Hữu Loan, nhận Loan làm con nuôi và gả con gái yêu là Lê Đỗ Thị Ninh cho ông. Cô này chết đuối năm 1948 khiến ông xúc động làm bài thơ “Màu tím hoa sim”. Bà Ngọc Chất cưu mang Hữu Loan suốt đời, ngay cả sau khi con gái mình đã mất. Hữu Loan cũng rất quí mến bà, xem bà như mẹ đẻ vì bà là người hiểu mình nhất, có thể coi như tri kỷ mặc dù lúc trẻ tính ông ngông ngạo khác thường.


         Lúc bà mất, gia đình bối rối lo việc tang ma nên không điện cho ông về kịp. Khi ông hay tin, vội vã về đến nơi thì bà đã mồ yên mả đẹp. Ông thương xót vô cùng và trách móc mọi người quá vô tình đối với ông, coi ông như người ngoài khi cô Ninh – vợ ông – không còn nữa. Thật ra không phải như thế.


         Để tỏ lòng thương tiếc và biết ơn nhạc mẫu, ông tự tay viết đôi câu đối dán lên bàn thờ của bà. Đôi câu đối như sau:


         “Rể khôn đền, phận gái ngắn sao đền, ơn cứu, ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách,


         Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc người, khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương”.


* HỮU LOAN  VỚI  HỘI  NHÀ  VĂN  VIỆT  NAM


Hữu Loan là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng ông đã ngưng sinh hoạt Hội  từ năm 1958. Kỳ đại hội Hội nhà văn lần thứ tư, ông cũng ra Hà Nội. Nhiều bạn quen hỏi ông có phải ra để dự đại hội không, ông chỉ cười. Họ hỏi thế vì thấy Hoàng Cầm, Trần Dần, Hoàng Yến, Lê Đạt, Phùng Quán, Phan Vũ… cũng bỏ sinh hoạt như ông nhưng nay đã về dự đại hội. Thì ra những người này trước đó đã gửi thư yêu cầu đến Ban Chấp hành Hội Nhà văn và Ban Chấp hành xét cho sinh hoạt trở lại.


Còn Hữu Loan lúc ra Hà Nội mải lo đi chơi với các bạn thơ nên không gửi thư cho Ban Chấp hành, vì thế mà không có giấy mời. Ban Chấp hành biết chuyện ấy nhưng đại hội sắp gần kề, ban trù bị bận trăm công nghìn việc nên không thể giải quyết hội tịch cho ông, nhất là ông chưa có thư yêu cầu.


           Hữu Loan bèn viết thư nêu thắc mắc và trách Ban Chấp hành. Thường trực Ban Chấp hành Hội Nhà văn cho người đến giải thích và nói với ông rằng sau đại hội, ông cứ viết thư yêu cầu thì sẽ được sinh hoạt trở lại thôi. Người này cũng thay mặt Ban Chấp hành mời ông đến dự đại hội như một khách mời, nhưng Hữu Loan trả lời rằng có mời ông với tư cách hội viên sáng lập thì ông dự, còn khách mời thì không.


         Nhưng Ban Chấp hành cũng phải giữ những nguyên tắc của Hội, không làm khác được, vì thế Hữu Loan không đến dự đại hội.


         Sau khi họp xong, có người bạn thân đến thăm ông, nói cho ông biết thiện ý của Ban Chấp hành, những nguyên tắc mà Ban Chấp hành phải tuân theo và sự quí mến của anh em đối với ông, ông liền hết giận và viết thư yêu cầu được sinh hoạt trở lại. Lẽ tất nhiên đề nghị của ông được chấp thuận ngay bởi vì ông là hội viên sáng lập.


           *  TÍNH  CÁCH  CỦA  HỮU  LOAN


Nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng -  kể rằng:


“Tôi gặp Hữu Loan từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Anh phụ trách tờ báo ‘Chiến sĩ” của Quân khu bốn, còn Nguyễn Đình Tiên và tôi lo bài vở. Hồi đó chưa có những chức danh Tổng biên tập, Biên tập viên như bây giờ, cần việc gì thì chúng tôi cứ phân nhau mà làm. Hữu Loan là một tính cách đặc biệt, rất mạnh mẽ nhưng cũng rất đa cảm. Anh dễ rơi nước mắt trước một cảnh khổ cực, nhưng cũng dễ giận dữ trước những điều làm anh bất bình. Có lần anh quát Nguyễn Đình Tiên khiến Tiên phải bỏ chạy ra bờ sông Lam. Và cũng có lần anh quát tôi suốt buổi khiến tôi mất ăn một bữa. Nhưng Tiên và tôi không bao giờ oán trách anh, phần vì  anh lớn tuổi hơn bọn tôi, phần vì chúng tôi hiểu anh chỉ nóng nảy lúc đó, sau lại cười vui, độ lượng. Nhưng chúng tôi không sống chung với anh được lâu. Sau đại hội văn nghệ toàn quân lần thứ nhất, Tiên và tôi lên Việt Bắc, còn anh ở lại quân khu”.


Theo nhà thơ Vũ Cao thì Hữu Loan viết những câu mà ông nhớ mãi:


                             Gió rét cắn người nghèo như chó dữ”


              hay:      “ Nửa đời không vợ con”


Phần lớn những suy tư của Hữu Loan vẫn dành cho con người, cảnh vật và cuộc sống ở nông thôn. Tả mối tình của cô thôn nữ, ông viết:


                           Người trai quê biết đâu  


                           Những đêm dài em khóc


                           Đầy như tiếng mưa,


                           Câm như bồ thóc


                           Trăm năm dù lỗi hẹn hò….


                                                                          (Hoa lúa – 1955)


Và mối tình quân dân đẹp biết bao:


                           Thương chiếc áo xanh


                           Rách lâu chưa vá


                           Tay em quê mùa vụng đường kim chỉ,


                           Lần đầu tiên em vá áo đàn ông.


Rồi người chiến sĩ ra đi để lại bao bâng khuâng nhung nhớ:


                           Em hỏi bâng quơ


                                        hai bên láng giềng:


                           -“Bộ đội về đâu


                                        đi từ nửa đêm?”


(Những làng đi qua – 1950)


              


*  HỮU  LOAN  BỊ  NGỰA  CHƠI  XỎ


          Năm 1946, có dịp vào miền Trung, Hữu Loan choáng ngợp trước cảnh hùng vĩ của Đèo Cả. Ông có bài thơ “Đèo Cả” rất nổi tiếng. Đèo Cả ở miền Đại Lãnh, phía Đông Nam Tuy Hòa là nơi giáp giới của hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, hồi đó rất hiểm trở, đi lại khó khăn lắm.


         Hữu Loan cho biết chuyến đi vào Đèo Cả năm ấy (1946) là lúc Nam bộ đã kháng chiến rồi nhưng chiến tranh chưa lan ra toàn quốc. Giặc Pháp rập rình ở bên kia Khánh Hòa, còn Đèo Cả thì do Vệ quốc quân và dân quân trấn giữ. Hoang vu lắm, sốt rét đến kinh khủng, lại đói nữa, rất đói, cứ có gì ăn nấy:


          Nhà văn Ngô văn Phú kể:“ Dạo ấy Hữu Loan làm báo “Chiến sĩ”, được một người bạn là Thu Sơn, Trung đoàn trưởng trung đoàn 79, cấp ngựa cho đi đến Đèo Cả. Nhưng ngựa thuần thì người ta dùng hết cả rồi, chỉ còn  một con ngựa đực rất dữ. Hữu Loan vốn cũng có máu tráng sĩ nên nhận cưỡi con ngựa ấy.


         Vừa ra khỏi thị xã Phú Yên, gặp mấy ả ngựa cái, chú ngựa đực bắt đầu phá bĩnh, Hữu Loan cố sức kiềm chế và thúc ngựa đi được, nhưng bị ngựa trả thù. Nó cứ nhè gốc cây mà cà người cưỡi vào. Phải thật nhanh chứ không thì bị nó xô ngã như chơi. Một lần nó đã chơi xỏ được nhà thơ. Nó tông Hữu Loan vào một cành cây. Áo móc vào cành nhọn, treo người Hữu Loan lơ lửng ngang vách đá, nhưng “tráng sĩ” đã nhanh nhẹn đu cành mà gỡ ra được. Hú vía”.


       *   HỮU  LOAN    TƯỚNG  NGUYỄN  SƠN            


         Theo nhà văn Đào Bích Nguyên thì tướng Nguyễn Sơn rất mến anh em văn nghệ khu bốn. Chính nhờ ông giúp đỡ mà văn nghệ sĩ khu bốn làm được nhiều việc và trở thành một lực lượng mạnh chẳng kém gì các địa phương khác như khu ba, Việt Bắc, khu năm và Nam bộ.


         Sau này ông đi Trung quốc để sang giúp Bắc Triều Tiên đánh Mỹ, anh em văn nghệ sĩ cứ tiếc mãi. Có lần Đào Bích Nguyên hỏi Hữu Loan:


           - Có phải Thiếu tướng Nguyễn Sơn thấy bài thơ “Màu tím hoa sim” của anh có những câu làm nhụt chí chiến đấu nên không cho phổ biến?            


      Hữu Loan đáp:


         - Làm gì có chuyện ấy ! Chỉ vì tôi thấy việc khóc vợ nó riêng quá, in ra lại đau cho mình nên không in thôi. Sau này, đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp mới in.


         Đào Bích Nguyên kể:


         - Tướng Nguyễn Sơn rất quí Hữu Loan vì một lần có mấy tay thầy dùi nịnh ông, đề nghị viết một cuốn sách về cuộc đời hoạt động của ông. Ông cũng thích và bảo cứ viết. Khi viết xong, ông bảo họ đưa cho Hữu Loan đọc và duyệt hộ. Hữu Loan đem sách trả cho tướng Nguyễn Sơn và thẳng thắn nói:


- Tôi không nhận đọc cuốn sách của anh đâu !


-  Sao vậy?


-  Tôi thấy không nên in.


         Tướng Nguyễn Sơn khó chịu, nhíu đôi lông mày:


         - Thì mình đi hoạt động cách mạng, có gì viết nấy. Chúng nó đặt tên mình là “Sa-pa-ép” Việt Nam chứ mình có dám nhận đâu.


         Hữu Loan nói:


         - Còn thiếu gì lúc viết, nhưng bây giờ thì chưa nên vì còn đang thời kỳ kháng chiến.


         Nguyễn Sơn im lặng, không nói gì. Ít lâu sau , ông được lệnh sang Trung quốc, bàn giao quân khu lại cho người khác. Hôm ấy Hữu Loan đang ghé vào một hàng phở ngon là “Phở Tàu Bay” ở Hậu Hiên, ăn xong sắp trả tiền thì tướng Nguyễn Sơn đến. Ông liền níu Hữu Loan lại:


         - Hãy ngồi xuống đây đã! Anh em đã chuyển đến địa điểm mới rồi, sao Hữu Loan chưa đi?


- Vì tôi rất nhớ anh.


         - Tôi cũng vậy. Tôi phục anh lắm! Hồi ấy nếu không nghe anh mà cho in ra cái quyển sách ấy thì bây giờ có khi lại điều nọ tiếng kia, phiền phức biết bao!


         Hữu Loan không nói gì. Nguyễn Sơn siết chặt tay Hữu Loan rồi từ biệt.


                            *  DỊCH THƠ CHỮ HÁN – GỌI KIỀU LÀ EM


Hữu Loan rất thích dịch thơ Đường, nhưng dịch rất ít, chỉ bài nào thích ông mới dịch, mà dịch rất ngông. Hiện nay còn lưu lại mấy bản dịch của ông như bài Đề động Từ Thức của Lê Quí Đôn, Thu hứng của Đỗ Phủ và Vịnh Kiều của Phạm Quí Thích. Vịnh Kiều   một bài thơ rất nổi tiếng:


                              Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,


                              Bán thế yên hoa trái vị thường.


                              Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc,


                              Băng taâm tự khả đối Kim lang.


                              Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,


                              Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.


                              Nhất phiến tài tình  thiên cổ lụy,


                              Tân thanh đáo để vị thùy thương.


                                                                                          PHẠM QUÍ THÍCH


                                   


                                               


                                               


                                               


                   


                   


                   


                   


                                                                         


            Tác giả tự dịch, một bản dịch rất hay:


                                          Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan,


                                          Phong ba chưa trắng nợ hồng nhan.


                                          Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng,


                                            Gót ngọc khôn đành chốn thủy quan.


                                          Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp.


                                          Một dây bạc mệnh dứt cầm loan.


                                          Cho hay những kẻ tài tình lắm


                                          Trời bắt làm gương để thế gian.


            Hữu Loan chưa hài lòng với câu cuối bản dịch. Ông nói:“Tân thanh đáo để vị thùy thương mà Truyện Kiều để lại đến nay, rốt cuộc thì thương ai? Thương Nguyễn Du hay thương nàng Kiều? Hay thương cả hai? Và ông dịch bài thơ ấy rất ngông như sau:


                                          Giai nhân há phải đến sông Tiền,


                                          Nửa kiếp khói hoa nợ chửa đền.


                                          Mặt ngọc nhẽ đâu dìm nước vạn (*),


                                          Lòng băng há phụ nghĩa chàng Kim.


                                          Đoạn trường  tỉnh giấc, căn duyên hết,


                                          Bạc mệnh im đàn rú hận lên.


                                          Một mảnh tài tình thiên cổ lụy,


                                          Khúc này đứt ruột phải vì em.


Rồi ông nói: Mình là con cháu Nguyễn Du mà gọi Kiều bằng em kể cũng thú vị đấy chứ!


 


 HV. Tổng hợp từ tư liệu của Ngô Văn Phú, Vũ Cao, Nguyễn Sĩ Đạt và Đào Bích Nguyên.


              _____


              (*) Vạn: là vạn chài, làng đánh cá.


 


TÁC GIẢ “MÀU TÍM HOA SIM”  ĐÃ VỀ VỚI CÕI THƠ


Thế là tác giả “Màu tím hoa sim” đã rời cõi tạm để về với cõi thơ. Nhà thơ Việt Nam nổi tiếng thì nhiều, nhưng được yêu quí như Hữu Loan thì rất hiếm. Ông được yêu quí vì hai lẽ: thơ rất hay và tính rất khí khái, kiên cường mặc dù trải qua biết bao gian nan cơ cực của cuộc đời.


Bài thơ “Màu tím hoa sim” đi sâu vào lòng người vì mối tình tha thiết và cũng vì cái tính chân thật trong thơ:


 Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại


 Lấy chồng đời chiến chinh


 Mấy người đi trở lại


 Nhỡ khi mình không về


 thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê.


Và còn gì chân thật hơn:


   Nhưng không chết người trai khói lửa


                           Mà chết người gái nhỏ hậu phương


                           Tôi về không gặp nàng


                           Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối


                           Chiếc bình hoa ngày cưới


                           thành bình hương tàn lạnh vây quanh” (1949).


Trong chiến tranh, thơ Hữu Loan mạnh mẽ, hào sảng như một bài tráng ca khi ông tả cái dáng cao vút của Đèo Cả  đứng giữa mây trời mù sương:


 Đèo Cả! Đèo Cả!


 Núi cao ngút


 Mây trời Ai Lao


 Sầu đại dương


 Dặm về heo hút


 Đá Bia mù sương.


              Cuộc sống của người lính ở đây chẳng những vất vả gian lao mà còn nguy hiểm nữa:


                                      Tóc râu trùm vai rộng


                                       Không nhận ra người làng


                                       Rau khe cơm vắt


                                       Áo phai màu sa trường


                                       Ngày thâu vượn hú


                                       Đêm canh gặp hùm lang thang.


Và nếp sinh hoạt đáng yêu của người lính sau mỗi lần thắng trận:


 Sau mỗi lần thắng


 Những người lính Đèo Cả


 về bên suối đánh cờ


 Người hái cam rừng ăn nheo mắt


 Người vá áo thiếu kim mài sắt


 Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu…


  (Đèo Cả -1946).


Cuộc sống thiếu thốn kham khổ là thế mà vui biết bao.


Xuân Diệu rất khắt khe khi khen thơ người khác, thế mà ông viết về bài thơ này như sau:“Tôi yêu, tôi phục bài thơ hoang vu “Đèo Cả”. Một Đỗ Phủ của thời mới đã gọi cái đèo chênh vênh ấy, đứng trong đất nước ta, đứng giữa Phú Yên với Khánh Hòa, mà lại hóa thành heo hút quá. Vì bên này là ta, bên kia là giặc (Pháp). Nhất là khi chiến tranh chưa lan ra toàn quốc, từ Bắc bộ đi suốt vào Đèo Cả, lên Đèo Cả thấy bên kia giặc rắc tai ương. Đèo Cả biên thùy, đứng trên đầu bể thẳm đụng tới mây cao, Đèo Cả treo giữa biên thùy mà cái đẹp trầm hùng ngang với lòng chiến sĩ…” (Báo Văn Nghệ Việt Bắc số 7, tháng 12-1948).


Thơ tình cảm của Hữu Loan không nhiều, nhưng bài nào cũng chan chứa cảm tình hoặc xót xa cho số phận như trong bài “Hoa lúa”:


“Em là gái đồng xanh, tóc dài vương hoa lúa


 Đôi mắt em mang chân trời cũ giếng ngọt cây đa


 …Quê hương ta ơi! Từ nay rồi càng đẹp


 Tình đôi ta ơi! Từ nay rồi càng sâu


 Ta đi đầu sát bên đầu


 Mắt em thăm thẳm đựng mầu trời quê… (1955).


Người lính hành quân qua biết bao làng xóm, tới đâu cũng có những mối tình, những mối tình đẹp như hoa cau, hương bưởi dù biết là sẽ không đi đến một kết thúc có hậu nào:


Có người trai ruộng cày


 tòng quân đi giết Tây


 Có o gái dịu dàng


 Như lúa đang con gái


 Một ngày trú quân trong làng nhỏ


 người lính giết Tây


 gặp o thôn nữ


 gánh lúa về làng


 Đường tím hoa mua.


 Nàng thương người lính nên:


Thương chiếc áo xanh


 Rách lâu chưa vá


 Tay em quê mùa vụng đường kim chỉ


 Lần đầu tiên em vá áo đàn ông… .        


Thế rồi họ xa nhau:


Nửa đêm hành quân


 Hai người không gặp nhau


 Và trong làng nhỏ


 Nhà em trưa vắng ngõ


 Đường mưa dài như tháng bảy mưa ngâu


 (Những làng đi qua – 1950).


Người lính đến tá túc nơi nào thì gây được cảm tình với người dân nơi ấy nên khi họ ra đi thì lưu lại biết bao cảm tình thương mến. Sau một đêm liên hoan, ngày mai bộ đội lên đường:


Đoàn lính lên đường nối tiếp nhau


 Vang vang kèn lệnh dội bên cầu


 Trông theo bụi cuốn vàng lưng ngựa


 Làng xóm quê mùa nếp váy nâu.


Khi người lính đi rồi thì mẹ thấy nhà sao rộng quá, nền đất cũng lạnh hơn và đôi mắt mẹ dõi theo những đứa con một đi không hẹn ngày trở lại:


Chiều xuống nhà sao rộng quá chừng


 Nền cao đất trắng lạnh bàn chân


 Người đi gối súng dài đêm lạ


 Mắt mẹ xa vời bóng xám sân.


                                                                                  (Phương gió – 1949)


Hữu Loan là thế, tình cảm thì thiết tha, ý chí thì cứng cỏi, tất cả đã làm nên một Hữu Loan sừng sững như cây thông trước phong ba bão táp của cuộc đời.


 


HV.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »