tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
01.12.2008
Thích Đức Nhuận
Vua Trân Nhân Tông (Tiếp theo và hết)

(Tiếp theo và hết)


Đệ Cửu Hội


Vậy cho hay:


Cơ quan tổ giáo,


Tuy khác nhiều đường,


Chẳng cách mấy gang[230].


Chỉn xá nói tự sau Mã Tổ;


Ắt đã quên thửa trước Tiêu Hoàng[231].


Công đức toàn vô, tính chấp si, càng thêm lỗi;


Khuếch nhiên bất thức, nghe ngu mắng, ắt còn vang[232].


Sinh Thiên trúc, chết Thiếu lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ[233];


Thân bồ đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang[234].


Vương lão chém mèo, lại lẫy lòng ngừa thủ tọa[235];


Thầy Hồ xua chó, trỏ xem trí nhẹ côn sàng[236].


Chợ Lư Lăng, gạo mát quá ư, chẳng cho mà cả[237];


Sở Thạch đầu, đá trơn hết sức, khôn đến thừa đương[238].


Phả táo cất cờ[239], đạp xuống dấu linh thần vật;


Câu Chi dời ngón, dùng đôi dép cũ ông ang [240]


Lưỡi gươm Lâm Tế , nạng Bí ma[241], trước nạp Tăng no dầu tự tại;


Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt lượm xá nghênh ngang[242]


Giơ phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẫn[243]


Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang[244].


Thuyền tử gia chèo dòng xanh, chửa cho tiễn tẩy[245];


Đạo Ngô múa hốt càn ma, hoang thấy quái quàng[246].


Rồng Yển lão[247] nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;


Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt giương.


Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái bạch;


Bính đinh thuộc hỏa, lại lỡ sau lỗi hướng thiên cương[248].


Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương[249], bầy thiền tử hãy còn đói khát;


Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu thất, chúng nạp Tăng những để lưu hoang[250]


Gieo  bó củi,[251] nảy bông đèn, nhân mang mới nát;


Đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.


Đệ Thập Hội


Tượng chúng ấy:


Cốc một chân không,


Dụng đòi căn khí.


Nhân lòng ta vướng chấp không thông;


Há cơ tổ nay còn thừa bí[252].


Chúng tiểu thửa cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn bảo sở hóa thành;


Đấng thượng sĩ, chứng thực mà nên, ai chia có sơn lâm thành thị[253].


Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dât sĩ tiêu dao;


Chiền vắng am thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí.


Ngựa cao tán cả, diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;


Gác ngọc lầu vàng, ngục tối thiểu chi người yêu quí[254].


Chẳng công danh, luông[255] nhân ngã, thực ấy phàm ngu;


Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí.


Mày ngang, mũi dọc, tướng tuy lạ, xem ắt bằng nhiều;


Mặt thánh, lòng phàm, thực cách nhẫn muôn muôn thiên lý[256].


Kệ Vân[257]


Cư trần lạc đạo thả tùy duyên


Cơ tắc san hề, khốn tắc miên


Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch


Đối cảnh vô tâm, mạc vấn thiền. (*)


 


(Cõi trần vui đạo, hãy tùy duyên,


đói cứ ăn no, mệt ngủ yên.


Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm.


Vô tâm trước cảnh, hỏi gì Thiền)


- Huệ Chi dịch-


(*) Bản phiên âm và chú thích dẫn theo sách Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam, thế kỷ X – thế kỷ XVII.


 



--------------------------------------------------------------------------------


[131] "Vua Anh Tông thấy thượng hoàng tu khổ hạnh, trèo đèo leo núi vất vả, trong lòng không yên, thường kiếm cớ ngăn trở, nhưng ngài cương quyết không bỏ.


Tháng 8 năm Hưng Long thứ 9 (1301) Anh Tông sai ngự sử Đoàn Nhữ Hài lên núi Yên Tử đón thượng hoàng về Tức Mặc dự lễ giỗ đầu đức Hưng Đạo Đại Vương. Giỗ xong, vua tâu xin ngài đi chơi nước Chiêm Thành xem chỗ Đức Phật Nam Hải Quán Âm giáng sinh và phong cảnh nước Chiêm. Ngài bằng lòng.


Tương truyền: "Cách đây khoảng 1.200 năm, đời vua Thuận Đế nhà Đông Hán, Đức Phật Nam Hải Quán Âm giáng sinh làm con gái vua Trang Vương nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), di tích còn lưu lại ở thành Phật Thệ.


Tháng 9 năm ấy, vua sai nhân huệ vương Trần Khánh Dư, ngự sử trung tán Đoàn Nhữ Hài, tướng quân Phạm Ngũ Lão đem ba nghìn quân ngự lâm hộ giá thượng hoàng sang du ngoạn nước Chiêm. Vua Chiêm Thành Chế mân tiếp được sắc thư vua ta, sai các quan văn võ đưa binh sĩ nghi tượng ra giáp giới đón. Còn vua Chiêm thân đón ở thành Phật Thệ. Thượng hoàng đi gần hai tháng đến thành Trà Kiệu, vua Chiêm nghinh tiếp hết sức cung kính tôn nghiêm.


Hơn hai tháng ở nước Chiêm, thượng hoàng đi xem khắp mọi chùa chiền, nơi cổ tích Phật Nam Hải Quán Âm, các tháp cổ và phong cảnh kinh đô. Ngài đi từ Trà Kiệu tới Trà Bàn, qua xem tháp Mỹ Sơn, tháp Chùa, tháp Chợ và khảo cứu Phật tích suốt 72 tháp Đông Dương.


Thành Đồ Bàn dựng từ thế kỷ thứ 9, chu vi tám dặm, ra vào có 9 cửa, chung quanh xây bao thành gạch. Ở trong có những cung điện hùng vĩ đều quay mặt hướng Nam. Lại có tám ngôi chùa rất lớn và những tháp cao chót vót. Chùa chính có tượng Đức Phật Nam Hải Quán Âm nghìn mắt nghìn tay, tượng Văn Thù cưỡi sư tử xanh, tượng Phổ Hiền cưỡi voi trắng tạc bằng đá quý. Phía sau kinh thành có sông bao bọc chảy thông ra biển.


Khi thượng hoàng từ biệt Chiêm Thành, cảm lòng người Chiêm tiếp đón long trọng, ngài hứa gả công chúa Huyền Trân là con gái út cho Chế Mân để tình ban giao hai nước thêm bền hặt. Chế Mân lạy tạ cảm ơn, sai các quan đi tiễn đến tận biên giới."


                           (Sự Tích Trúc Lâm Tam Tổ, Đỗ Trọng Huề,


                             Tạp chí vạn Hạnh số 19, 20).


[132] Trong kinh "Những Điều Phật Dạy", nguyên bản chữ Hán: Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh.


Điều thứ ba.


Đức Phật dạy rằng: Chúng sinh có mười (10) việc Thiện và mười (10) việc ác. Những gì là mười? Đó là: Ba thuộc về Thân, bốn thuộc về khẩu, ba thuộc về ý.


Ba việc thuộc về thân là: giết hại, trộm cắp, tà dâm.


Bốn việc thuộc về khẩu là: nói lời chia rẽ, nói độc ác, nói giận dữ, nói thêu dệt.


Ba việc thuộc về ý là: Tham lam, giận dữ, si mê.


Mười việc làm ấy không thuận theo thánh đạo nên gọi là ác.


Mười việc làm ấy chấm dứt, gọi là Thiện.


[133] Tám chữ: "Sinh diệt diệt dĩ,


                      Tịch diệt vi lạc"


(Sinh và diệt đã chấm dứt, đó là sự vắng lặng an vui của Niết Bàn).


Kinh Đại Niết Bàn, phẩm Thanh Hạnh, dẫn tích Bồ Tát Tuyết Sơn hy sinh tính mạng cho quỷ la Sát ăn thịt để xin được gnhe hai câu sau của bài kệ, tức hai câu "Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc".


Trong bộ Thủy Lục Toàn Khoa có câu "Trượng bán ngôn nhi tam chướng tiêu trừ, bằng tứ cú nhi lục trần thanh tịnh". Dưới đây là toàn bài kệ (4 câu):


"Chư hành vô thường


Thị sinh diệt pháp


Sinh diệt diệt dĩ


Tịch diệt vi lạc".


[134] Sách Tam Tổ Thực Lục chép: "Năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, tôn giả Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trụ trì chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở Tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Điều ngự Giác Hoàng đưa Pháp Loa vào lạy ở Tổ đường, xong cùng xuống trai đường để ăn điểm tâm sáng. Xong buổi tiểu thực, nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường: lúc đó vua Anh Tông đã ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách phân xong, mọi người cùng ngồi. Vua Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách ở pháp đường; quốc phụ Thượng Tổ (tức huệ võ vương Quốc Chấn) cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Điều Ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong Điều ngự rời pháp tòa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp tòa ấy, rồi đứng chắp tay đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau khi Pháp Loa đáp bái lại. Điều Ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Điều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục (1) một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Điều Ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử, và chùa Siêu Loại ủy cho Tôn giả Pháp Loa kế thế trụ trì, làm vị tổ thứ hai phái Trúc Lâm" (dẫn theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Tập I, trang 342, 343).


Sách Tam Tổ Thực Lục chép: "Năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16, vào ngày mồng một tháng giêng, tôn giả Pháp Loa phụng mệnh làm người nối pháp trụ trì chùa Siêu Loại ở giảng đường Cam Lộ. Bắt đầu buổi lễ, mọi người làm lễ ở Tổ đường; đại nhạc được tấu lên, các loại danh hương được xông đốt… Điều ngự Giác Hoàng đưa Pháp Loa vào lạy ở Tổ đường, xong cùng xuống trai đường để ăn điểm tâm sáng. Xong buổi tiểu thực, nhạc tấu lên, trống lớn nổi dậy, đại chúng chư tăng được triệu tập cùng lên pháp đường: lúc đó vua Anh Tông đã ngự giá tới chùa; ngôi chủ khách phân xong, mọi người cùng ngồi. Vua Anh Tông lúc đó đóng vai một vị đàn việt lớn của Phật Pháp, ngồi vào ghế khách ở pháp đường; quốc phụ Thượng Tổ (tức huệ võ vương Quốc Chấn) cùng với các quan cùng đứng dưới sân. Điều Ngự thăng đường thuyết pháp. Thuyết pháp xong Điều ngự rời pháp tòa, dắt Pháp Loa cho ngồi trên pháp tòa ấy, rồi đứng chắp tay đối diện Pháp Loa làm lễ thăm hỏi. Sau khi Pháp Loa đáp bái lại. Điều Ngự trao pháp y cho Pháp Loa khoác vào. Bấy giờ Điều Ngự ngồi xuống ghế khúc lục (1) một bên để nghe Pháp Loa thuyết pháp. Xong rồi, Điều Ngự đem Sơn Môn (Giáo Hội) Yên Tử, và chùa Siêu Loại ủy cho Tôn giả Pháp Loa kế thế trụ trì, làm vị tổ thứ hai phái Trúc Lâm" (dẫn theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Tập I, trang 342, 343).


[135] Giác Hoàng tịch cùng một ngày với Công chúa Thiên Thụy.


[136] Tháp chùa Phổ Minh xây năm 1310 theo lệnh của vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) để chứa một phần tro xương của Trần Nhân Tông.


Tháp này rất đáng được nghiên cứu về phương diện kiến trúc và về mục đích của kiến trúc tôn giáo, vì đó là tháp duy nhất tại Việt Nam được xây cất để chứa tro xương của một vị đế vương. Chắc là vì khi Thượng hoàng Nhân Tông băng thì vì ngài không là vua nữa mà chỉ là một tu sĩ nên mới dựng tháp của Phật giáo để làm lăng một vị vua.


[137] Nghiêm Thẩm, Tháp Chùa Phổ Minh, Vạn Hạnh số đặc biệt về thành đạo và xuân đinh vị – 1967.


[138] Cư Trần Lạc Đạo Phú: bài phú về cảnh sống ở cõi bụi mà vẫn vui vì lẽ đạo. Bài phú này được lưu hành ở nhà chùa và trải qua nhiều lần sao đi in lại, chắc là không còn giữ được đúng nguyên bản đời Trần.


Trong bản in năm Bảo Đại thứ bảy (1932), bài phú này để liền sau bài Thiền Tông Bản Hạnh.


[139] Thập Hội Dụng Diễn ra quốc Ngữ Phú: bài phú gồm mười đoạn, dùng tiếng nước nhà diễn thành lời ca.


[140] Nết Dụng Sơn Lâm: dụng là công dụng, tác dụng; nết dụng sơn lâm nghĩa là tính nết như là chịu tác dụng của cảnh an tĩnh của núi rừng.


[141] Nghiệp: từ ngữ trong Phật học, chỉ nguyên nhân tạo nên thiện và ác.


[142] Thể tính: thể là thân thể, tính là tinh thần bản nhiên vốn có.


[143] Thân tâm: thân là thân thể, tâm là tinh thần.


[144] Năng mấy chủ tri âm: có được mấy người làm chủ cảnh đẹp đào hồng, liễu lục mà hiểu được cảnh đẹp ấy.


[145] Lỗ Thiên Hà: lỗ (bây giờ có địa phương còn đọc là lỗ) là âm cổ của chỗ, thiên hà là sông Thiền, sông nhà Phật; lỗ thiên hà là cõi nhà Phật.


[146] Tuệ Phật: mặt trời trí tuệ (của phật), sâm lâm không có nghĩa rập rạp như rừng (nghĩa Hán tự) mà có nghĩa là nhiều lắm ở khắp nơi (nghĩa nôm)


[147] Lừa Hoán Cốt: lừa hoặc lựa có nghĩa là cố gắng sắp xếp, tìm mọi cách; hoán cốt, đổi xương, là phép của Đạo gia tìm cách đổi xương thịt nặng nề của người đời thành cốt cách trong nhẹ của tiên để có thể phi thăng, bay lên cao vào cõi tiên.


[148] Đan Thần: thuốc thiêng của thần linh, thuốc tiên Phục là uống thuốc.


[149] Nhắm Trường Sinh:  nhằm theo mục đích được vào cõi trường sinh. Thuốc quí: quí ở đây có nghĩa là thần linh như ở trong danh từ quỉ thần. Thuốc quí cũng có nghĩa như đan thần.


[150] Nơ: tiếng cổ, có nghĩa là bằng, là.


[151] Võng, Thác: đều có nghĩa là bậy bạ sai lầm. Cả câu này có ý nói tìm cách kiềm chế sự lầm lẫn thì tất là bớt được sự lầm lẫn.


[152] Dứt trừ Nhân Ngã: trừ bỏ được sự phân biệt, kỳ thị giữa người khác với bản thân mình.


[153] Kim Cương: chất cứng rắn nhất, tượng trưng cho bản lĩnh vững chắc của kẻ tu hành đắc đạo; Nhà Phật có kinh Kim Cương. Tướng thực có nghĩa là sự biểu hiện (tướng) chân thực (của bản lĩnh kim cương).


[154] Tham, Sân: tham lam và giận dữ.


[155] Làu: tiếng cổ có nghĩa là thông suốt (ta còn nói thuộc làu làu, thuộc lau lảu); lòng mầu là tấm lòng thấu suốt lẽ mầu nhiệm của đạo; viên giác là sự giác ngộ đầy đủ trọn vẹn.


[156] Tịnh Thồ (Cũng đọc là Tịnh Độ): đất thanh sạch, chỉ cõi Phật, Tây phương; chỉ cõi Phật, theo Tịnh độ tông thì Phật quá khứ là Phật A Di Đà ở cõi Tây phương cực lạc.


[157] Mựa: tiếng cổ, có nghĩa là chớ nên, đừng. Cả câu này có nghĩa là kẻ tu hành chân chính chẳng cần phải truy cầu Tĩnh thổ, Tây phương, A Di Đà, Cực Lạc ở đâu cả, mà tìm lẽ đạo ở trong tấm lòng trong sạch của mình, ỡ trong trí tuệ trong sáng của mình.


[158] Cầm Giới Hạnh: giới là điều răn giới, giới luật của nhà chùa; hạnh là đạo đức kẻ tu hành, giữ gìn theo đúng giới luật của nhà chùa và đạo đức của kẻ tu hành. Địch vô thường: chống lại cái vô thường tức là mọi sự ảo hóa khôn lường của pháp tướng, của các hiện tượng trong trần thế, giữ được sự an nhiên tự tại của tâm, của bản ngã, của Phật tính vốn có trong mọi người. Bán giác: nửa hào, ý nói món tiền rất nhỏ. Nào có sá cầu danh bán giác: nào có cầu đi tìm danh vọng một chút nào đâu.


[159] Vận Giẻ Vận Xui: đồ mặc, quần áo thì dùng giẻ, vải xấu, hoặc vỏ cây xui, ý nói giản dị, thô sơ.


[160] Nớ: Xem lời chú số 13.


[161] Cốc: hoặc đọc là cộc, tiếng cổ có nghĩa là hiểu biết


[162] Mở: xem lời chú số 20.


[163] Mã Tổ Một Vị Tổ Của thiền Tông, họ Mã, pháp danh là Đạo Nhất, đệ tử của thiền sư Hoàn Nhượng ở Tào Khê (Thiều châu), sống vào đời Đường. Cơ là then máy. Cả vế này ý nói cứ tu dưỡng lòng mình thì khắc có Phật tính ở trong, há phải đi tìm phép tắc, then máy của Mã Tổ.


[164] Bàng Công: tức cư sĩ Bàng Uẩn, học trò Mã Tổ. Khi giác ngộ rồi, ông đem khuân hết của cải quẳng xuống hồ Động Đình. Cả vế câu này ý nói cứ tu dưỡng nghiêm chỉnh ắt là thoát được sự ràng buộc của tài sản (vọng tài) xua đuổi được mọi ham muốn vật chất, hình sắc (đuổi sắc) chẳng cần phải có hành động quyết liệt đem tài sản quẳng xuống hồ như Bàng Công.


[165] Áng Tư Tài: áng là tiếng cổ, có nghĩa là đám, chốn đông. Áng tư tài là của cải, tài sản.


[166] Am Sạn: am bắc bằng sàn gỗ thô sơ (sạn là sàn gỗ)


[167] Yêu: tiếng cổ, có nghĩa là quí báu.


[168] Cả: lớn, rất.


[169] Bồ Đề: giác ngộ.


[170] Ưu Đàm: một thứ cây thuộc loài cây sung, có quả mà không có hoa. Hoa ưu đàm được kinh Phật dùng để gọi cái gì quí hiếm. Khi hoa ấy mà nở thì phúc to lắm.


[171] Cốc: xem chú số 24.


[172] Tam Độc: Ba cái độc là tham, sân, si (tham lam, giận dữ, ngu muội).


[173] Tam Thân: ba thân của Phật, một là pháp thân tức chân thân, hia là báo thân tức trí, ba là ứng thân tức hành.


[174] Lục Căn: sáu cái rễ khiến người đời bám vào trần tục; đó là nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tỵ căn (mũi) thiệt căn (lưỡi), thân căn (mình), ý căn (ý thức). Đoạn lục căn: chặt đức sáu cái rễ ấy.


[175] Lục tặc: sáu tên giặc làm hại người ta. Lục tặc là do lục căn mà sinh ra: do nhãn căn mà có sắc, do nhĩ căn mà có thanh, do tỵ căn mà có hương, do thiệt căn mà có vị, do thân căn mà có xúc, do ý căn mà có pháp làm cho người ta bị chìm đắm


[176] Chân Không: hoàn toàn không có gì, ý nói vượt ra ngoài sắc tướng và ý thức. Có tuệ quang chiếu thấu mọi sắc, mọi tướng (hình dáng) giả dối, ảo hóa, và thấy tất cả đều là không. Ngại thanh: vướng vào thanh, chấp sắc: bám lấy sắc.ù


[177] Chân Như: thực thể, thực tính không bao giờ thay đổi, vượt lên trên sự biến hoá vô thường của sắc tướng, của hiện tượng.


[178] Bát Nhã: trí tuệ.


[179] Thực Tướng: thực tính, thực thể của vũ trụ, tức chân như.


[180] Vô Vi: theo nghĩa nhà Phật, thì vô vi là chân lý. Chân lý không phải do nhân duyên tạo ra cho nên gọi là vô vi.


[181] Tam Tạng: Ba kho kinh điển của Phật giáo là kinh tạng, luật tạng, luận tạng.


[182] Thanh qui: qui chế của nhà chùa.


[183] Chiên Đàn hay đàn hương là loại cây gỗ thơm rất quí, chiêm bặc là giống cây ở Tây vực, hoa rất thơm.


[184] Thích Ca: tức Phật hiện tại, là thủy tổ của Phật giáo, người Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch kỷ nguyên.


[185] Di  Lặc: tên một vị Bồ tát, tức là Phật vị lai.


[186] Cung nhà: vua Trần tu ở ngay trong cung


[187] Khuy Bản: thiếu gốc.


[188] Nằm Nhãng: nằm khễnh lơ đãng, nằm mà quên nhãng đi.


[189] Quê Hà Hữu: Hà hữu hương, chữ trong sách Trang Tử, nghĩa là "quê có đâu", tức là một cõi vu vơ không có thực. Ở đây ý nói nằm trong cõi đời vốn chỉ là ảo hóa, không có thực.


[190] Tân La: tên một nước cổ ở bán đảo Triều Tiên, bị diệt vào cuối đời Đường. Có ý nói một nước không còn nữa.


[191] Khoáng cơ quan: then máy lỏng rộng, ý nói không câu nệ, gò bó


[192] Bô: là bỏ trốn, chểnh mảng bô việc là bỏ trốn công việc. Cả vế này có ý nói chính sách của nhà vua rộng rãi, dân có thể trút bỏ mọi ràng buộc trốn bỏ việc đời, mà đi theo Đạo Phật.


[193] Miễn: cũng như lẫn, có nghĩa như là với.


[194] Thoa:  cũng như thô, hẫm.


[195] Bát Thức: tám điều biết. Đó là nhãn thức (biết bằng mắt), nhĩ thức (biết bằng tai), tỵ thức (biết bằng mũi), thiệt thức (biết bằng lưỡi), thân thức (biết bằng thân mình), ý thức (biết bằng ý), mạt na thức (biết bằng sự suy lường), a lại da thức (biết bằng tâm thức).


[196] Bát Phong: tám gió, chỉ tám thứ có thể lay động lòng người như gió vậy; đó là lợi, suy, hủy (hủy báng), dự (vinh dự), xưng (khen), cơ (chê), khổ, lạc.


[197] Càng Đè Càng Bội: càng đè xuống càng tăng lên, nở ra. Ý nói bát thức, bát phong nếu dùng cách khiên cưỡng, gò bó, đè nén thì không thể trừ bỏ được, mà phải thoải mái, an nhiên thì mới khắc phục được.


[198]


[199]


[200] Tam Huyền Và Tam Yếu: tam huyền là ba điều sâu kín. Đó là huyền ở tron thể, huyền ở trong câu và huyền ở trong huyền, tất cả gọi là tam huyền môn. Mỗi huyền lại gồm tam yếu lý (ba điều chủ yếu), là lý, trí và phương tiện. Cả vế này nghĩa là: chia rành rọt ra làm tam huyền, trong mỗi huyền lại lấy tam yếu làm nòng cốt. Cắt là gọt tỉ, ma là mài giũa.


[201] Đàn Sách: sách, tiếng cổ có nghĩa là rong chơi, chơi dỡn (Ngày nay ta còn nói, hút sách, rướt sách); đàn sách là gảy đàn chơi. Xoang là khúc nhạc. Phật giáo nêu nghĩa vô sinh vô diệt. Vô sinh khúc là khúc nhạc của nhà chùa. Nhà chùa có câu kệ: "Vô duyên cầm thương tấu dương xuân, thiên cổ vạn cổ thánh bất tuyệt" (trên đàn không có giây đánh khúc nhạc xuân đầm ấm, nghìn năm vạn năm tiếng không dứt).


[202] Phím: thổi sáo, thổi địch. Nhà chùa có câu kệ: "Tranh tự nhất chi vô không địch, vi quân suy khởi thái bình ca" (sao giống một cây sáo khổng lồ, vì người thổi lên khúc ca thái bình).


[203] Câu Chi Trưởng lão: tức là hòa thượng Câu Chi, đời Đường, tu ở núi Kim Hoa. Một lần hòa thượng Câu Chi có điều chưa hiểu đem ra hỏi hòa thượng Thiền Long. Thiền Long giơ một ngón tay để bảo, Câu Chi bèn giác ngộ. Câu Chi thường nói: ta được phép Thiền ở đầu ngón tay của Thiền Long, ăn suốt đời không hết. Và hễ có đệ tử đến tham Thiền, Câu Chi chỉ giơ một ngón tay ra, không nói gì cả.


[204] Diễn Nhã Đạt ma: tức Yajedatta. Theo kinh Lăng Nghiêm thì đây là một nhân vật trong một truyện do Phật tổ kể ra để thuyết pháp. Diễn Nhã Đạt Đa lấy gương soi mặt, thì mặt mày có thể thấy, quay đầu đi thì bóng trong gương chớp đi không thấy nữa, cho là ma quỉ, sợ quá bỏ chạy.


[205] ,69) Khuyên Kim Cương, Bồng lật Cức: Thiền sư Dương Kỳ có hai câu kệ rằng:


thấu đắc kim cương khuyên


thôn đắc lật cức bồng


Nghĩa là:


Lọt được cái lỗ khuyên kim cương


Nuốt được quả gai lật cứ .


Dù nói khi đã giác ngộ lẽ đạo thì có thể bao quát vũ trụ, vạn vật trong khóe mắt của mình, lọt được qua cái lỗ nhỏ của vành khuyên bằng kim cương, có thể thông suốt mọi việc không còn gì vướng mắc, dầu có nuốt quả cức có gai góc tua tủa thì cũng trơn tuột không làm xước được da của mình. Tượng da: có lẽ ý nói da dầy như da voi, không có thể bị cào xước.


[206]


[207] Tam nghiệp: gồm có nghiệp về thân, nghiệp vầ miệng, nghiệp về ý. Xem thêm lời chú số 4.


[208] Ý nói Câu Nệ Về Văn Về nghĩa Trong Kinh Điển thì chẳng qua chỉ làm cho kẻ thiền khách thêm bơ vơ lạc loài (Thiền khách là người cư sĩ tin theo Đạo Phật, tuy chưa đi tu). Còn nếu biết giác ngộ cái lý sâu xa của đạo, hiểu thấu cái then máy huyền vi của đạo thì mới có thể trở thành người tu hành (nạp Tăng, nhà sư) đắc đạo.


[209] Thược Là Cái Gáo Múc Chất Lỏng, Sàng Là Dụng Cụ Để Phân Tách Những Hạt To Nhỏ. Lậu Là Thấm Nước, Thiền sư Lệnh Tuân đến gặp Tăng Đại Thông. Tăng hỏi: "Đại thừa là thế nào?. Đáp: "Là cái dây kéo ở giếng". Hỏi: "Tiểu thừa là thế nào?. Đáp: "Là cái dây sắt". Hỏi: "Hữu lậu là thế nào?". Đáp: "Là cái sàng, cái rây". Hỏi: "Vô lậu là thế nào?". Đáp: "Là cái mộc thược, cái gáo gỗ". The lọt: chưa hiểu nghĩa. Hoặc giả the có nghĩa như là kín chăng?. Ngày nay ta còn nói hàn the. Nếu hiểu hàn the là kín thì đối với lọt. Và cả câu có nghĩa như sau: "Hỏi thế nào là hữu lậu, hỏi thế nào là vô lậu, đáp rằng vô lậu là kín như cái múc nước, hữu lậu là cái khe lọt như cái sàng, cái rây”.


[210] Tơ Gạo: ngờ là day gáo viết sai. Chuổi tiền, dây gáo là những thứ dây để xâu chuỗi, hoặc để buộc. Xem lời chú số 72.


[211] Ý Nói Hiểu Thông Được Cái Bản Chất cái gốc của tâm thì có sợ gì mọi sự thay đổi (thời tiết) mọi sự ràng buộc (nhân duyên) thoát được cõi tục.


[212] Giữ Gìn Tấm Lòng Cho Trong Sạch, chùi cho hết mọi vết của sắc tướng (hiện tượng ở thế gian huyễn hoặc người ta).


[213] Ý Nói Học Thầy Chịu Ơn Nặng, dầu có dọt vỡ xương, óc của mình để tri ân cũng chưa đủ báo đáp.


[214] Sá: kinh lạ, lấy làm sự kỳ dị, lạ lùng. Cơ là cơ hội may mắn trong đó chúng sinh có thể gặp nhân duyên mà giác ngộ. Cơ tổ: then máy đạo lý của tổ sư, cả câu này ý nói xem trong kinh điển sách vở thì dễ thấy được lý thuyết của Phật giáo, nhưng học đòi để được dịp may mắn mà giác ngộ theo đạo lý của tổ sư thì phép tin kỳ lạ của đạo Thiền khó mới cứu xét được.


[215] Cùng Căn Bản: là đi cho đến chỗ tận cùng của gốc rễ, tả trần duyên là từ bỏ mọi sợi dây ràng buộc với cõi đời bụi, mỗ hào ly là chẳng một chút, một tí nào; dương mặt là mang ở trên mặt.


[216] Ngã Thắng Tràng: (tràng là một thứ cờ phướn của nhà Phật) ngọn cờ chiến thắng của bản ngã. Viên tri kiến: hiểu biết trọn vẹn đầy đủ. Họa giữa trong tay, ngờ là: họa giữ trong tay mà bản nôm đã in sai


[217] Tỉnh Thức: thức là những hiểu biết ràng buộc mình với cõi trần tục (xem lời chú số 58). Tỉnh thức là những hiểu biết vốn có từ bản tính của người đời.


[218] Lọt Mẹ Cha: lọt ra đời từ lòng mẹ cha ý nói chịu ơn sinh đẻ của mẹ cha.


[219] Miễn Đức Cồ: (cồ, tiếng cổ, có nghĩa là lớn), cố gắng noi theo đức lớn.


[220] Ý Nói: nếu ngoài miệng nói rằng tin mà trong lòng lại phạm lỗi thì trong việc thờ cúng dẫu cho có dùng đến vàng ngọc đi nữa cũng chẳng phải là thành tâm.


[221] Tua: tiếng cổ nghĩa là nên.chỉn Xá Tua Rèn, chỉ có thể nên gắng rèn luyện.


[222] Lơi Ý Thức Chớ Chấp Trừng trừng, phải để cho ý thức được lơi, được rộng rãi thoải mái, chớ câu chấp gò bó cái gì cả.


[223] Nén Niềm Võng Mà Còn Xong Xóc: nếu chỉ thô bạo mà nén xuống thì niềm võng (tức cái sai trái) lại cứ nổi lên như xong xóc.


[224] Cả Câu Ý Nói: bên ngoài thì phải giữ gìn trang nghiêm những nghi thức thuộc về bề mặt (sự tướng), nhưng bên trong thì lại phải rèn luyện tấm lòng đạo.


[225] Lục: sách ghi chép sự tích nhà chùa và các vị tổ sư của đạo Thiền.


[226] Dụng Mà Lỗi Một Tơ Một Tóc: dụng công chớ để sai trái một chút gì.


[227] Cùng Nơi Ngôn Cú: xét suy đến cùng các lời nói.


[228] Lật Thửa Cơ Quan: lật đi lật lại mọi then máy, mọi phép tắc của thiền môn.


[229] Chớ: để sơ hở một chút gì.


[230] Ý Nói: Đạo Phật nếu truy nguyên đến các dòng phái, các phép tu, các vị tổ, thì thấy có nhiều và thấy xa xôi, nhưng nên hiểu rằng Phật tại tâm thì lại rất ngắn.


[231] Mã Tổ: xem lời chú số 26. Tiêu Hoàng tức Hoàng đế nhà Lương tên Tiêu Diễn, miếu hiệu là Lương Vũ Đế. Tiêu Hoàng rất chuộng Đạo Phật. Chính vào thời kỳ này Bồ Đề Đạt Ma ở Ấn Độ sang Trung Hoa lập nên dòng Thiền tông ở đây.


[232] Công Đức Toàn Vô: nghe ngu mắng ắt còn vang:Tiêu Diễn Mời Bồ Đề Đạt Ma đến và hỏi:"Từ khi trẫm lên ngôi, dựng chùa chép kinh, có thể có công đức gì không:" Đáp: Chẳng có công đức gì cả". Hỏi:  "Vậy chân công đức là cái gì?. Đáp: "Tĩnh tri diệu viên thì thể tự không lặng, công đức mà như thế thì không thể lấy việc đời mà cân được". Hỏi: "Đệ nhất nghĩa của thánh đế là như thế nào?" Đáp: "Khoách thiên bất thức". Vua nghe thế mắng là ngu.


[233] Bồ Đề Đạt Ma sinh ở Thiên Trúc (tức Ấn Độ), sang Trung Hoa và viên tịch ở chùa Thiếu Lâm, phía bắc núi Thiếu Thất, chôn ở chân núi Hùng Nhĩ.


[234] Bài Giơ Mặt Vách Hành Lang: Bồ Đề Đạt Ma tu ở chùa Thiếu Lâm, suốt ngày thiền định, mặt quay vào vách, như thế trong chín năm, cho đến lúc chết. Ở chùa Thiếu Lâm cón có Điện Bích Am (cái Am nơi Ngài quay mặt vào vách). Bài giơ: tấm biển trỏ (nơi Ngài quay mặt vào vách).


[235] Lạt Lẫy: tiếng cổ, chưa rõ nghĩa lắm. Có lẽ có nghĩa là dùng thủ đoạn khéo léo (lấy tay lẩy). Thủ tọa là người trông nom Tăng xá, chỗ sư ở. Vương lão sư tức thiền sư Phổ Nguyện, học Vương, truyền đạo ở Nam Tuyền. Một hôm, hai người thủ tọa nhà phía đông và phía tây tranh nhau một con mèo, Vương lão bèn cầm con mèo giơ lên và bảo: "ai biết được con mèo là của bên nào thì cứu được con mèo, nếu không thì chém bỏ. Mọi người không ai trả lời được. Vương lão sư bèn chém chết con mèo. Có người giải thích việc sát sinh có vẻ trái với tôn chỉ nhà chùa ấy như sau: Vương lão sư đã có phép thần thông, hiểu rõ lẽ vô sinh, chắc có cách chiêu hồn. Làm như vậy một là để cho hồn mèo thoát hóa, hia là khéo léo giải quyết được sự phân tranh giữa hai người thủ tọa.


[236] Côn Sàng: chưa rõ nghĩa, có thể là một từ cổ, có thể là khắc sai ở bản in. Thầy Hồ là thiền sư Lợi Tung ở Tử Hồ Nham. Ở dưới cửa chùa có dựng tấm biển đề rằng: Tử Hồ có một con chó, trên thì lấy đầu người, giữa thì lấy tâm người, dưới thì lấy chân người. Ai mà dị nghị tức là bỏ thân mất mạng. Có thầy tăng đến tham thiền, vừa vén rèm định vào thì thiền sư quát: "Xem chó". Có người hỏi chó Tử Hồ ở đâu, Thiền sư nói: "Gâu! Gâu!. Đây là cách mà các nhà sư theo Thiền tông thường làm để thức tỉnh và giác ngộ đệ tử.


[237] Gạo Mạt: gạo tồi, kém. Thiền sư Nguyệt Luân một hôm đến yết kiến hòa thượng Giáp Sơn. Giáp Sơn hỏi: "Ngươi xứ nào?". Nguyệt luân đáp: "Ở Mân Trung. Hỏi: "Có biết lão tăng không?". Nguyệt Luân hỏi lại: "Có biết kẻ học trò không?". Giáp Sơn nói: "Không biết thì người trả tiền giày cỏ cho lão Tăng, rồi sau lão Tăng sẽ trả giá gạo Lư Lăng cho người". Nguyệt Luận nói: "Như thế thì chẳng biết, hòa thượng cũng chưa hiểu giá gạo chợ Lư Lăng là bao nhiêu". Giáp Sơn khen và truyền pháp ấn cho, đọc câu kệ rằng: "Nói thế quả là người anh linh. Đem hết gốc rễ tiếp hữu tình. Mới hỏi đến giá gạo chơ Lư Lăng. Toàn nhiên chẳng chút qua lộ trình". Ý muốn nói Phật pháp là vô giá, như giá gạo chợ, nói bao nhiêu trả bấy nhiêu, không được mặc cả.


[238] Thừa Đương: nhận gánh vác. Thạch Đầu là chỗ dãi đá ở phía nam núi Hành Sơn, phía đông chùa nơi thiền sư Hy Thiên đời Đường tu hành. Hy Thiên có biệt hiệu là hòa thượng Thạch Đầu.


[239] Phá Tác: Đập Bếp, Hòa thượng Phổ Trúc ở núi Tung Sơn. Trong núi có miếu thiêng. Người xa gần đem bò lợn đến bếp trong miếu để mổ và tế thần. Một hôm Phổ Trác đến miếu, vào bếp mằng rằng: bếp là do bùn đất mà nặn lên, sao lại nấu nướng giết hại sinh vật. Nói xong đập tan lò bếp. Lát sau có vị thần hiện ra vái lạy, thưa rằng: "Tôi là thần bếp, lâu ngày chịu nghiệp quả báo, may nhờ thiền sư tôi được thoát khỏi chốn này, nên đến để tạ ơn". Cấp Cô: trưởng giả Cấp Cô Độc ở Thiên Trúc làm tháp thờ Phật, lại dựng cờ phướn hình sư tử, trâu, chim, rồng để cúng.


[240] Câu Chi Giơ Ngón: xem chú thích số 66. Ông ang, tức là ông ông, là sắc cũ kỹ. Sau khi gặp Bồ Đề Đạt Ma tịch đã ba năm. Chu Vân lại gặp ngài ở núi Thúy Linh, chỉ đi một chiếc giày, nói rằng ông ta đi về Tây Thiên. Chu Vân về Trung Hoa, tâu vua xin đào mộ Đạt Ma lên xem, thì chỉ thấy còn một chiếc giày cũ


[241] Lâm Tế: một phái của Thiền tông do Thiền sư Lâm Tế nghĩa Huyền lập ra. Lâm Tế Lục chép rằng: "Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền bảo các Tăng: "Có khi quát một tiếng là bảo kiếm của kim cương vương". Trí tuệ bát nhã co thể khiến người ta dứt được mọi trần lụy cũng như lưỡi gươm chém đứt mọi xiềng xích. Bí Ma: tức hòa thượng Bí Ma Nham ở Ngũ Đài sơn (Sơn Tây). Nhà sư thường cầm một cái nạng gỗ. Có Tăng đồ đến tham thiền thì sư đè nạng vào cổ và nói: "Ma quỉ nào bảo người xuất gia? Ma quỉ nào bảo ngươi hành cước? Nói được thì cũng nạng cho chết, không nói được thì cũng nạng cho chết. Nói mau! Nói mau! Không có ai trả lời được.


[242] Ông Đoan: tức Tây Dư Đoan sư tử ở An Cát châu. Lúc đầu nhà sư thấy chơi sư tử thì phát sinh được yếu chỉ về tâm. Sau khi yết kiến thiền sư Long Hoa về bèn làm một bộ lốt sư tử bằng chỉ màu, thường khoác lên người, do đó mà có danh hiệu. Đoan Sư Tử. Thầy Hựu: tức thiền sư Linh Hựu ở Qui Sơn (Hồ Nam). Theo truyền thuyết, nhà sư ba mươi năm chăn một con trâu. Lúc đầu trâu khó bảo, sau tuân phục dần vâng lời người bảo. Rồi lại có thể thả rong, không cần chăn dắt, sau cùng biến thành con trâu trắng rồi biến mất. Sự tích này sau được vẽ thành mười bức tranh, gọi là Thập Mục ngưu Đồ (mười bức tranh về trâu), biểu hiện quá trình người tu hành khắc phục được bản ngã (con trâu tượng trưng cho bản ngã). Đàn việt là tín đồ Phật giáo.


[243] Phiến Tử: cái quạt. Thiền sư Vân Môn thường cầm cái quạt. Có Tăng đồ đến tham thiền thì giơ quạt lên mà chỉ thị. Trúc bề: một thứ lược tre. Thiền sư Thứ Sơn một hôm trả lời kẻ tham thiền, giơ cái trúc bề lên và nói: "Gọi là cái gì? Gọi là trúc bề thì xúc phạm, không gọi là trúc bề thì sai trái. Gọi là cái gì?"


[244] Xô Hòn Cầu: Thiền sư Nghĩa Tồn ở Tuyết Phong, Phúc Châu (Phúc Kiến) có thời làm phạn đầu ở Động Sơn. Một hôm, Tăng đồ họp, nhà sư xô ra một quả cầu bằng gỗ. Sư Huyển Sa bắt lấy để vào chỗ cũ. Thiền sư Nghĩa Tồn lên tòa, thuyết pháp rằng: "Ở Nam Sơn có một con rắn, các ngươi phải coi chừng". Cẩm Mộc Thược: xem lời chú số 72. Chước móc: mưu chước, máy móc. Ý nói mọi qui tắc, qui chế của nhà chùa.


[245] Tiễn Tẩy: chưa rõ nghĩa. Có thể là một từ nôm cổ. Nếu theo nghĩa Hán tự thì có thể hiểu là tẩy rửa tràn trề. Hãy tồn nghi. Thuyền Tử Gia Chèo: Thuyền tử là biệt hiệu của Thiền sư Đức Thanh ở Hoa Đình, Tô Châu (Triết Giang) thường chèo một lá thuyền con, ngao du sông nước, tùy duyên qua ngày mà tiếp người bốn phương qua lại.


[246] Đạo Ngô: người đồng đạo của Đức Thành. Múa hốt càn ma: chưa hiểu rõ điển này.


[247] Rồng Yển Lão: Yển Lão là thiền sư Văn Yển ở Thiều Châu (Quảng Đông) thường nói: "Chăng lưới to khắp trời bắt rồng, chăng lưới nhỏ bắt tôm và hến. Thế thì ngao sò lạc vào chỗ nào?" Lại nói: "Cây gậy hóa làm con rồng, nuốt hết trời đất thì núi sông còn ở vào đâu nữa?" Rắn ông Tồn: Ông Tồn là thiền sư Nghĩa Tồn, xem lời chú số 107


[248] Thái Bạch: là tên mà đạo gia dùng để gọi sao Kim Tinh, còn Thiên Cương là tên mà Đạo gia dùng để gọi sao Bắc Đẩu. Chưa hiểu rõ điển tích ở đây.


[249] Triệu lão: tức là thiền sư Tùng Nẫm ở Quan Âm viện Triệu Châu, thường có lời: "Uống chè đi" để đáp lại những Tăng đồ đến tham thiền. Sau có bài kệ rằng: Triệu Châu có lời: "Uống chè đi", các Tăng thiên hạ đều theo về. Bánh Thiều Dương: bánh của Thiều Dương lão nhân là biệt hiệu của thiền sư Văn Yển (xem lời chú số (110). Văn Yển theo thiền sư Chí Trừng. Một hôm Chí Trừng hỏi:" Minh Giáo ngày hôm nay ăn được mấy cái bánh đúc?" – Đáp: "mời hòa thượng vào uống chè". Chí Trừng nói: "Ta không cung dưỡng Nam Tăng" (Ý nói không cung dưỡng Văn Yển là người Phùng Nam)


 [250] Tào Khê: là tên con sông, nơi có chùa Bảo Lâm, Tuệ Năng tức Lục Tổ, người mở đầu Thiền tông phương Nam. Thiếu thất là tên núi, nơi có chùa Thiếu Lâm. Bồ Đề Đạt Ma, tổ thứ nhất của Thiền tông, tu ở đấy. Ruộng Tào Khê và vườn Thiếu Thất ở đây dùng để trỏ đạo Thiền.


[251] Gieo bó Củi: Tuyết Phong đến thăm thiền sư Ngộ Bản, gieo một bó củi trước mặt sư. Sư hỏi: Nặng bao lăm. Tuyết Phong nói: "Người khắp cả thiên hạ cũng không mang nổi". Nảy bóng đèn: chưa rõ điển tích.Lộc đào hoa:Thiền sư Trí Cầu ở núi Linh Vân, Phúc Châu. Nhân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo. nghe tiếng trúc: Đại sư Hương nghiêm một hôm làm đất, ném hòn đá vào cây trúc có tiếng kêu, chợt giác ngộ lẽ đạo.


[252] Ý Nói: nếu hiểu được lẽ chân không thì kết quả đến căn khí; chỉ vì lòng ta còn vướng mắc câu chấp nên chưa thông hiểu lẽ đạo, chứ then máy của tổ sư có gì là bí mật.


[253] Ý Nói do mình chưa hiểu chứ Bụt nào có hẹp hòi với ai, do chứng thực (chứng thực tướng) mà trở nên thượng sĩ (tức Bồ tát), chứ việc ở sơn lâm hay ở thành thị há có phân biệt gì.


[254] Yêu: tiếng cổ, có nghĩa là quí trọng. Người yêu quí; người sang trọng. Ý nói: ở dưới địa ngục bọn lính gác ngục canh giữ thiếu gì người sang trọng ở trên đời gác ngọc lầu vàng mà phạm tội


[255] Luông: luông tuồng. Luông nhân ngã: luồng tuồng thanh nhân chấp ngã, tranh giành hơn thua với người khác.


[256] Ý Nói: bề ngoài có vẻ đạo đức cả (mặt thánh) mà bên trong thì tầm thường dung tục (lòng phàm), cách xa nhiều lắm..


[257] Nghĩa là: Ở cõi đời bụi, vui vẻ lẽ đạo cứ để tùy duyên. Đói thì ta ăn, mệt thì ta ngủ. Trong nhà có của báu, đừng tìm tòi ờ đâu đâu. Đứng trước cảnh mà vô tâm, tự khắc có Phật sao phải hỏi Thiền.


Nguồn: http: //www.phatviet.com

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »