tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
03.04.2013
Lâm Bích Thủy
Nhà thơ Yến Lan: Đời ba như quả đu đủ

Đối với nghiệp cầm bút của nhà thơ Yến lan - ba tôi, chỉ là vô tình, sao đời thơ ông lại tựa như ý tình trong “Bến My Lăng”. Ông  cặm cụi chèo trên bến sông thơ, thuyền ông đã chở nặng những dòng thơ cuộc đời, nhưng khách thơ tìm đến chỉ ngắm nghía qua loa rồi bỏ đi, bỡi đó chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ mang tính chất cảm xúc là chính.


Nhà thơ Thanh Hải:


    “Những vần “thơ lưu” của Yến Lan là cuộc sống được chắt lọc qua tim, qua tâm hồn thi sĩ, là nghệ thuật điêu luyện về ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu…là thế giới tình cảm bao la, là tiếng thơ của những cảm xúc chân thành”


   Nhà thơ Chế Lan Viên: “Lan đâu có gặp nhiều ngẫu nhiên may mắn như tôi, Lan đã phải đương đầu với nhiều khó khăn ở trong cuộc sống. Năm 1937 tôi mới có Điêu tàn. Nhưng năm 1935, khi nền thơ mới còn chập chững Lan đã có nhiều tìm tòi táo bạo. Tả một cánh buồm cô đơn, tìm về nghĩ ngơi trên sóng đảo dịu dàng, Lan viết:


Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ/ Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi.


Tả nắng chiều trải ra như cánh chim trên các trang viên ở Sầm sơn có hòn trống mái Lan viết: 


Trống xa mái ngẩn ngơ thơ đá chạm/ Chiều bồ câu cánh ủ khắp viên trang


   Cánh ủ viên trang, chiều bồ câu, thơ đá chạm biết bao nhóm chữ phối hợp cấu trúc trong cái tương quan kỳ lạ, ngỡ như mới được viết hôm qua, giữa năm 86 này…Hiện đại mà Việt Nam, mà dân tộc 


   Một nhà thơ có tài là có thể sử dụng thập bát ban võ nghệ, là như cây xương rồng có hai cực đối lập, gai rất gai mà hoa rất dịu dàng. Lan không phải chỉ có loại thơ điêu khắc kỵ khu vào đá ấy, mà lại có nước chảy đưa ru như nhạc. Gần nửa thế kỷ rồi, tôi vẫn thuộc các câu này mà có lúc Lan quên:


 Năm nay cũng có tiếng xe đi/  Đường cũ cong cong ngõ ý gì/ Chỉ thấy bàn tay người khớp ngựa/ Ngừng roi chậm séo cánh hoa si/ Và liễu bên đường sống phút mơ/ Xếp hàng nhau như vạn trang thơ/ Chờ bàn tay lạ, bàn tay gió/ Lật rải tung ra tờ lại tờ


 


 ****


                                                                       


   Hôm ấy, đang đọc cuốn “Hội chợ phù hoa” thì nghe ba gọi; tôi quay lại, thấy ông quắc quắc mấy ngón tay ra hiệu tôi đến bên: “Thủy, lại đây ba bảo cái này”. Vẻ bí mật đó khiến tôi hơi lo; bởi, chưa bao giờ ông tỏ ra như vậy. Rồi,  tâm tình: “Việc này ba chỉ nói mình con biết. Đây là toàn bộ sáng tác của ba, chưa đăng ở đâu, ba để ở góc này, con nhớ nhé.” Ông chỉ phía góc trái tủ gỗ, giả cổ (má mua lại của gia đình đã di cư vào Nam; hiện Tú Thủy chưng ly tách) và nói tiếp: “Nếu nhỡ lúc nào đó ba đi xa, con mang tập bản thảo này đưa cho các chú ở Nhà Xuất bản Văn Học”.  Nói đến đây gương mặt ba chùn xuống, đầy tâm sự: “Con có bao giờ để ý thấy quả đu đủ ứa nhựa tự hàn vết thương khi bị trầy, xước… Đời ba cũng như thế!”.


   Câu nói của ba khiến tôi mủi lòng. Sau đó.., chưa có gì xảy ra, tôi tạm gác lời tâm sự ấy vào tâm khảm; thầm hẹn sẽ tìm hiểu sau.


   Rồi, Hội Nhà văn xuất bản cho ba vài tập thơ. Tập nào tôi cũng lật từ trang đầu đến trang cuối, tìm chữ “đu đủ” Rất nhiều bài lướt qua mới thấy trong Tuyển tập Tứ tuyệt Yến Lan hai chữ “đu đủ”, ở bài:


                                    Quả đu đủ góc ao


                                    Ứa nhựa hàn vết đau    


                                    Tĩnh yên cành gió quật


                                    Quả đu đủ góc ao


                                    Lặng dâng đời quả ngọt.


Tôi muốn hiểu điều ba nói “Đời ba giống như quả đu đủ, tự ứa nhựa hàn vết đau” một cách trọn vẹn từ trong suy luận của người thi sĩ.


Trước hết; tôi liên tưởng đến mấy cây đu đủ từng nhìn thấy. Tôi nhớ lại, hồi chưa đi tập kết, trước sân có cây đu đủ, tự mọc. Nó nằm sát mép rào nhà cô Ba Đen; quanh nó chỉ gạch đá lởm chởm không thấy đất, đã vậy, cành trứng cá choáng hết ánh nắng; thân đu đủ khẳng khiu, oằn ra hứng chút ánh sáng để tồn tại; thế mà nó cho quả từ gốc đến ngọn, thịt nó thật thơm, ngọt lịm đến tận chân răng. Cả nhà tôi, ai cũng được ăn. Có lẽ ba liên hệ đời mình từ cây đu đủ này:


Mới năm sáu tuổi mồ côi mẹ, ba phải tự lập, vừa lớn thì cách mạng xảy ra; ông không chút so đo tính toán như người “Ta nằm chính giữa cân trời đất” mà bằng sự nhiệt tình của mình, tự nguyện dâng tuổi xanh cho cách mạng:


- Một là trực tiếp kêu gọi bà con thị trấn đứng lên giành chính quyền từ tay bọn phản động, quan lại,


- Ý thức được việc sáng tác của mình để động viên, cổ vũ nhân dân hăng hái làm cách mạng. Mà theo nhà thơ Anh Chi:


“Yến Lan là nhà thơ tả thực rất tinh, sâu và có hiệu quả thơ, khiến độc giả rung động bởi được hiểu đời thật và thắm thía thương đời. Có thể nói viết câu thơ tả thực mà làm cho người đọc rung động như Yến Lan là rất khó và rất hiếm:  Nghe trên đàng quạnh hiu/ Cổ xe bò nặng nhọc/Người trên xe trằn trọc/ Giữa những tiếng rơm kêu


 Trong thơ ông nặng tâm hồn yêu quê hương, giàu lý tưởng và ý chí cách mạng, khát vọng sống tự do hòa bình. Điển hình là bài Bình Định 1947.


       …Ôi Bình Định từ những ngày tháng Tám


Bao đứa con xiêu lạc trở về làng.


Cuộc gian khổ đã bắt đầu nặng gánh


Sông lại mong thuyền, tàu lại nhớ ga….


 


Và Bình Định nằm thương em nhớ chị


Ôm phố phường quấn quýt sắc trời xanh.


Một viên sỏi cũng cộm thành ý nghĩ,


Sáng trên đường chờ chận bước hôi tanh.


Tin hỏa tốc bạc thếp đèn cửa quán 


Lửa mài gươm sáng rực xóm Lò-rèn


Mẹ binh sĩ  lòng khâu theo túi đạn


Phòng tuyến binh người áo vải chân chen.


 


Mõ lốc cốc, chó không còn tiếng sủa


Quân lên đường chân đất bước như ru


Quạnh hơi thở trong những nhà đóng cửa


Cha mẹ phá đường, bà cháu tản cư


 


Trai Bình Định ôm bom vào Tú Thủy,


Ngự đèo Nhong hay canh bãi Vân Sơn.


Gái quạt trấu cũng hóa thành Dũng sĩ,


Cầu Bà Di đẩy dựng những toa goòng….


Lòng Bình Định như go chèn chỉ rối,


Dệt lòng tin qua từng gút âu lo…..


 


Nhà thơ Chế Lan Viên, người bạn văn, rằng: ”Có những câu thơ như nói chuyện bình thường, lại nổi tiếng: Đau đớn thay phận đàn bà/ Anh đi đường anh, tôi đường tôi. Nhưng có những câu nhỏ máu ra mà ít người hay. Có nhiều lý do… Nguyễn Nhược Pháp chỉ với chùa Hương và Sơn Tinh Thủy tinh đã không uổng công đi vào bể ấy.


Lan à mình bảo Lan rủi! Không, Lan thế mà lại may lắm. Mình thèm viết được một bài “Lại Về Tỉnh Nhỏ”, một bài Mùa xuân lên cao, một bài “Uống rượu với bạn đồng hương như Lan. Rất đỗi thèm.


 


Những nhà thơ khác như Trần Ninh Hồ, Nguyễn Bao, Thúy Toàn đều có chung ý nghĩ:  “Thơ Yến Lan về hình ảnh hết sức gợi cảm, gây liên tưởng sâu xa, nội dung thơ tuy mới, vẫn giữ được phong cách xưa, tứ thơ không phá vỡ đơn vị dòng; nên thơ ông vừa mang tính truyền thống mà lại rất hiện đại.”


 


 Lâu nay, tôi viết về chân dung cha mình. Nay, xin giới thiệu tới bạn đọc một số bài thơ của ông, để bạn chiêm nghiệm những điều đồng nghiệp đã ghi nhận về ông: 


Hai cung cùng một nhịp cầu


                                    


            Thân mến tặng La Nhiên “ Tel pere tel fils”           kính trao hương hồn cụ Paul Hổ  (Việt Kiều Pháp) tác giả bộ phim. Chuyện tình nàng Nha, mang bối cảnh  9 năm VN kháng Pháp ở Phú Đa-An Nhơn-Bình Định.


                       


Cung La buồn - nỗi nhớ


Văng vẳng vọng bên mồ


Mi ướt – dễ nao khô


Người xưa đâu trở dậy


Trăm cánh thư ngày ấy


Sao chẳng đến người thương


Chừ-lệ vẫn vấn vương


Tìm quên…Hoa về Đất


Cung Mi trầm – nỗi nhớ


“Sen”rũ giữa mùa hương


Biển xanh dội sóng dồn


“Giọt Măng cầm” nhịp lỡ


Hai cung đàn nỗi nhớ  *


Sương rơi… rồi sương rơi


Lệ chát mặn vị đời


Kiếp sau - chờ - xa xôi


Hai cung đàn nỗi nhớ


 


Sen = Liên (La Nhiên), tên của một nhân vật chính của bộ phim “Chuyện Tình Nàng Nha” nổi tiếng tại Alge’rie những năm 1960-70


 Hai cung đàn nỗi nhớ = Tựa đề bài thơ tặng La Nhiên của Yến Lan sau khi nghe tin “Nàng Nha-Lệ Nha”đột ngột qua đời 1952.


 


 


Độc ẩm


 


Người ta trối già, tớ chối già


Vẫn nguyên hồn bướm chực mơ hoa


Mơ hoa nên mãi chờ xuân đến


Xuân đến mừng xuân một ấm trà


 


Không ướp ngâu, nhài –chẳng mạn sen


Thiên thanh mầu nước bốc hương riêng


Cúc, mai kề gối vờn tay rót


Đỡ trống đêm nay bóng bạn hiền


 


Nhấp ngụm đầu tiên bỗng dạt dào


Thấy mình trở lại núi Tô Châu  (*)


Hồ Đông tưởng cạn từ đêm ấy


Theo cuộc trà chuyên lượn sóng chao


 


Uống hớp tiếp nhớ về Sa Vĩ


Một mái nhà tranh bờ Mẫu lệ


Ấm sành Mống Cái ẩn giao lân


Ngan ngát hương quê tình khách địa


 


Lung linh đất nước hiện hai đầu


Ký ức đưa mình tới những đâu


Lòng bỗng chập chờn theo tuổi trẻ


Hơi trà bốc dậy cả chiêm bao


 


Uống nhớ sông dài với núi cao


Mưa dầm eo gió, lũ ngầm sâu


Bến phà bom nổ, rừng lim cháy


Cốc nước nâu hoen đất chiến hào


 


_______


Tô Châu: tên một cụm núi ở Hà Tiên.


Sa Vĩ: bãi bể nơi tận cùng thuộc huyện Móng Cái.


Bờ Mẫu lệ: bờ đê nhớ xây bằng san hô vớt ở bể.


 


 


Sống bù


 


Tám chục năm qua nhiễm thói đời


Buông tuồng ngày tháng cuộc dong chơi


Duyên tình gán ghép, vinh hoa mượn


Cánh cửa chiêm bao hé mở hoài


 


Sách vùi cổ viên, tiếng trùng ngâm


Rượu nhạt, trăng hiu, lạnh phiếm cầm


Người đẹp khuất dần không kịp ngắm


Lửng lơ hoài niệm, khát tri âm


 


Còn được bao năm nửa sống thừa


Lấy gì ấp lạnh với che mưa


Nợ đời còn phải lo trang trải


Đến lúc xuôi tay hết lọc lừa


 


Ước có nơi nào hiểu nghĩa “già”


Tình làng nghĩa xóm khéo lân la


Đượm, nồng chén chuốt cơn thù tạc


Êm ả hồn quê giác sớm trưa


 


Trăng khuya huyền hoặc chái hương đình


Gió lộng, tùng ngâm, trúc lã mình


Ngắm lại sông Ngân cầu dứt nhịp


Thương đời còn đọng bước chông chênh


 


Cổng bụt song thưa lọt nắng đào


Lắng chừng tin bạn cánh thư trao


Cuốc kêu vườn thị gây mùi Đạo


Đèn nhớ nhung chong đến cạn dầu


 


Chiêu hồn Lý, Đỗ hận ly hương


Nhẫm chuyện thiên luân khóc Sở cuồng


Mắt mỏi, chữ mờ thèm nhớ sách


Thềm hoa gọi cháu giảng đôi chương


 


Kể chuyện xưa sau luận thánh hiền


Vô chùa đàm đạo thuyết nhân duyên


Nón nan, túi vải băng đồi thuốc


Nghiền ngẫm đơn thang, thuật cổ truyền


 


Lễ hội xuân thu nổi trống tuồng


Vịnh đào lát liễu tối liên hoan


Trái hườm trí tuệ theo mùa chín


Vẫy tới mùa sau gié mộng vàng


 


Tạ từ ẩn tích chốn đơn cô


Tám chục năm, thôi sống vật vờ


Lái trở nồm lên, buồm chuyển bến


Góc mai già đợi báo tin thơ


                        20.12.1994


 


Nghe sao


 


Có lẽ sao trời ta nhìn thấy đêm đêm


Là tiếng nói hào hùng nhịp đập con tim


Của nhân loại qua nghìn đời để lại.


Ta sẽ nghe từ chùm sao bánh lái


Tiếng người hô vượt biển thắng phong ba


Nghe sao Hôm, sao Mai nói đợi, nói chờ


Vằng vặc hai đầu không gian chung thủy.


Nghe Tua-rua gọi gieo trồng, gặt hái


Xong mùa màng lại bàn dệt chiếu chăn


Nghe Thần-nông dạy con cháu kiệm cần


Hạt vãi hạt vương lấy phần nuôi vịt


Nghe Bắc Đẩu, Nam-Tào lục tìm sổ sách


Xe chặt nhân duyên bằng sợi nghĩa, sợi tình…


Cả một Ngân Hà tỏ rạng lung linh.


Sao đang nói bao điều cho cuộc sống…


Biết đâu nữa ngày mai trên trời rộng


Sẽ mọc thêm biêng biếc một chòm xanh


Từ những lời em nói với anh.


 


 


Khi hoa đào nở


 


Sáng nay trời khép chân mây trắng


Thuyền bến sông ba đậu khít bờ


Chim về xóm lạ mong sương mới


Tháng chạp hoa đào nở lẳng lơ


 


 


 Gió đẩy bờ lau chạy với lau


Núi chàm thu hẹp núp trong sâu


Bên cầu trúc đỏ, phơi đầu bạc


Ông lão quên về, đứng thả câu


 


Và có hơi may thấm lạnh lùng


Có từng loạt lá trút trên sông


Có người thiếu phụ gầy như trúc


Đi khắp vườn cau tước gió đông


 


Nàng mơ sống lại thu hôm trước


Đã rung bao nhiêu ánh mặt trời


Mùa đông buồn quá, chim lâu quá


Chim cả trong lòng nét thắm tươi


 


Tiểu thuyết thứ năm, 10/10/1937


 


 


Trăng chín    


 


Đò trôi lấy bẩy nước xuôi dòng


Trăng bỏ đầu cành rụng xuống sông


Đôi tiếng ếch kêu từ gốc bẹ


Đáp vào rung lạnh mái chèo cong


 


 


Chơi xuân


 


Gửi bạn vào xuân, hương cúc thoảng


Thung sâu bặt tiếng búa sơn tràng


Quyên đôi rỉa cánh chòm mai nhún


Câu đối trưng lên ánh nhũ vàng.


 


Ông lục thơ xưa trong sách cũ


Cháu tìm khoe áo với đàn anh


Ngoài sân lơ lửng nêu xe tóc


Lạc ngựa luồn trong ngõ trúc quành


 


Chùa bên vẳng lại tiếng chuông ngân


Ẩn hiện bờ lau cát trắng ngần


Đò chở sang sông hai quả bánh


Của người thôn nữ viếng tình nhân


 


Giải khăn cô gái bay trong gió


Khúc khích cười sau vạt áo bà


Lúc nãy lên chùa dâng lễ phật


Vô tình để ố vết chu sa.


Người cũ năm nay đâu hút bóng


Ngõ thôn vòm trúc vẫn che ngang


Ta đi nhặt cánh tầm xuân rớt


Của khách chơi hoa rải dọc đàng.


1938


 


       Khô


 


Giếng làng hôm ấy không còn mạch


Chàng kéo gầu lên thấy nhẹ không


Từng đoạn đường xa bàng rụng lá


Một bờ sông nhớ một bờ sông


 


Đường chảy, người đi, mỗi sớm mai


Lá bàng lấp lại, dấu chân ai


Kéo dài trong cát khô như cát


Thuyền đậu bên bờ nối một hai


 


Thu khóc tình thu, ta khóc ta


Mà chàng mơ ước giếng làng xa …


Qua sông còn một con thuyền nát


Mà kẻ chèo kia đã ở nhà


 


Nhưng bỗng ta nghe lời trúc đổ


Tự rừng muôn cánh, gió bao phương:


Bỏ ta, chàng bước sang phường khác,


Gánh nước làng trên giếng dọc đường.


 


Hầu ta thôi khát, giếng càng khô,


Mắt đã ngừng trông nẻo hẹn hò.


Tim đã thôi reo lời tuyệt vọng,


Mực còn lưu đọng chảy ra thơ.


 


Tiểu thuyết thứ năm, số 30, 01/5/1939


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »