Một cuốn sách không chỉ về mỹ thuật, mà hoà trộn cả lịch sử, lý luận và phê bình, của tác giả, Nguyễn Quân - hoạ sĩ, nhà phê bình mỹ thuật, người đồng hành với Mỹ thuật Việt Nam vào đúng thời kì đổi mới, tập hợp nhiều dữ liệu sống động và gần sự thật. Đọc cuốn sách này, ngoài phần thông tin, người đọc sẽ thấy được tác giả, đọc được tác giả, và đó là một sự khác biệt nữa.
Lời giới thiệu của họa sỹ Lê thiết Cương
Viết về mỹ thuật có ba dạng: lịch sử, lý luận và bình luận. Mỗi người mỗi việc. Trừ Nguyễn Quân, ông làm cả ba việc. Ví dụ: Viết lý luận có cuốn Ghi chú về nghệ thuật, lịch sử là cuốn Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại. Còn bình luận thì quá nhiều qua những bài giới thiệu về các triển lãm, từ các họa sỹ thời đầu đến các họa sỹ trẻ đang hành nghề hiện nay. Viết được ở cả ba mảng đó, Nguyễn Quân là người duy nhất.
Trong cuốn sách này: Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, ngỡ là sách sử mỹ thuật nhưng khi đọc thì nhận ra, lịch sử, lý luận và phê bình hòa làm một. Ba người viết Nguyễn Quân : Nguyễn Quân - Lịch sử, Nguyễn Quân - Lý luận và Nguyễn Quân - Phê bình, là một. Nghệ thuật thì phải khác biệt đã đành nhưng viết về nghệ thuật cũng phải khác. Viết thì phải khác.
Chỉ có ngày tháng của những sự kiện thì sẽ là một cuốn sử đúng nhưng nhẹ, đúng nhưng không hay. Nguyễn Quân bao giờ cũng có những bình luận, nhận định riêng. Ví dụ: Năm 1884, Pháp phá tháp Báo Thiên để xây Nhà thờ lớn, Nguyễn Quân bình: Người Pháp khởi đầu thời kỳ “Khai hóa” bằng tàn phá. Hoặc khi bàn về bộ tranh khắc (Technique du people Annamite) của Henri Oger, Nguyễn Quân viết: Có lẽ Henri Oger không ngờ rằng giá trị nghệ thuật của bộ tranh có khi còn hơn giá trị khảo cứu dân tộc học mà ông theo đuổi.
Viết về Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, một thời kỳ đầy biến động, một thời kỳ đặc biệt của lịch sử Việt Nam đâu có dễ, và làm người đọc dễ đọc nếu tác giả không có tư duy tổng phổ chương hồi, phân kỳ mạch lạc. Mà cũng đâu chỉ viết riêng về mỹ thuật, lịch sử mỹ thuật là một mặt của lịch sử, mỹ thuật cũng là một mặt của nghệ thuật, điều đó đòi hỏi người viết phải có cái nhìn rộng sang các ngành khác như văn chương thơ phú, kiến trúc... Mỹ thuật cũng không chỉ là tranh vẽ, bên cạnh đó là điêu khắc, trang trí, đồ họa, mỹ thuật ứng dụng, lý luận phê bình, giảng dạy v.v... Rồi còn mỹ thuật ở miền Nam trước 1975 và các tác giả người Việt sống ở nước ngoài.
Nguyễn Quân là người đồng hành với Mỹ thuật Việt Nam vào đúng thời kỳ Đổi mới - một thời kỳ đặc biệt - cho nên ông có nhiều dữ liệu của người trong nhà, nó sống động và gần sự thật hơn là cách khai thác gián tiếp. Điều thú vị nữa, Nguyễn Quân là người vẽ, đó là một lợi thế không nhỏ để trong lúc luận bàn, ông có thể đồng cảm, cộng cảm với đối tượng được bàn, chưa kể ông có thể nói được về chuyện bếp núc của nghề, chuyện chất liệu, kỹ thuật v.v…
Đó là những khác biệt của cuốn Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 mà tôi đọc được. Sự khác biệt là dấu vết của cá nhân, là tạng tính của tác giả. Đọc cuốn sách này, ngoài phần thông tin, người đọc sẽ thấy được tác giả, đọc được tác giả, và đó là một sự khác biệt nữa.
2010
Lê Thiết Cương
Lời tác giả
Thế kỷ 20 có lẽ là thế kỷ nhiều biến động và thay đổi toàn diện, căn bản nhất trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Xã hội Việt Nam chuyển từ thời kỳ phong kiến suy tàn sang thời kỳ thuộc địa với những cuộc “đụng độ văn hóa Đông - Tây”, những vật lộn công nghiệp hóa, đô thị hóa. Tiếp theo là hai cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt dẫn tới sự chia cắt và thống nhất đất nước. Để rồi Việt Nam ta trở lại tiếp tục “đổi mới” công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong một thế giới hoàn toàn khác so với 100 năm trước. Mỹ thuật Việt Nam là đứa con dĩnh ngộ của lịch sử ấy. Nó cũng là dòng chảy soi bóng chân thực nhất diễn trình lịch sử ấy: Mỹ thuật thời trước 1925; Mỹ thuật Đông Dương; Mỹ thuật Hiện thực XHCN; Mỹ thuật Đổi mới và đương đại bây giờ. Tôi tin rằng, các thành tựu mỹ thuật cũng là sự biểu hiện thị giác tuyệt vời của tâm hồn Việt Nam, nội giới tình cảm và lý trí của những con người Việt. Điều đó làm cho mỹ thuật Việt Nam và lịch sử của nó trong thế kỷ qua quả thực rất hấp dẫn.
Ngoài nội dung chính, sách này còn có phần phụ lục: Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại, vốn là cuốn sách đầu tiên viết năm 1980. Say mê mỹ thuật Việt Nam một cách “bẩm sinh”, may mắn được sống cùng mỹ thuật nước nhà suốt hơn 1/3 thế kỷ, lại may mắn hơn là có được sự giúp đỡ, hỗ trợ của rất nhiều đồng nghiệp nhiều thế hệ nên tôi đã có thể “vững bước trên con đường sáng tác và nghiên cứu” của mình một cách nhất quán.
Tôi xin cảm ơn Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam với Khoa Lý luận & Lịch sử mỹ thuật; Viện Nghiên cứu mỹ thuật; Hội Mỹ thuật Việt Nam với Tạp chí và Nhà xuất bản Mỹ thuật. Cảm ơn các vị đồng sự đáng kính Mai Văn Hiến, Thái Bá Vân, Dương Viên, Nguyễn Trân, Trương Hạnh… Cảm ơn các đồng nghiệp Phan Cẩm Thượng, Lương Xuân Đoàn, Đặng Thị Khuê, Lê Huy Văn, Phan Thanh Bình, Đào Châu Hải, Trần Lương… và rất nhiều người khác nữa mà tôi từng được hợp tác làm việc.
Cảm ơn gia đình tôi!
Lời cảm ơn trực tiếp xin gửi tới nhà phê bình nghệ thuật Vũ Lâm, người giúp hoàn chỉnh bản thảo, và họa sĩ Lê Thiết Cương, người trình bày ấn phẩm này.
Xin cảm ơn GS. Chu Hảo và NXB Tri thức đã in sách này.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2010
Chương I:
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 20: TỪ NHÀ THỜ PHÁT DIỆM
ĐẾN LĂNG KHẢI ĐỊNH - CUỘC GẶP GỠ ĐÔNG - TÂY LẦN THỨ II
Người Việt chậm trễ...
Người Pháp lấn tới...
Khuếch trương hoạt động...
Kiến trúc đi đầu
Nghệ thuật tạo hình cất bước chậm chạp
Chương II:
MỸ THUẬT ĐÔNG DƯƠNG 1925 - 1945 VÀ CUỘC CÁCH TÂN LỚN
TRONG VĂN HÓA THỊ DÂN THUỘC ĐỊA
Vị trí danh dự
Đi vào đời sống văn hóa đô thị
Những người thầy giỏi
Và những học trò xuất sắc trở thành những bậc thầy đầu tiên
"Tình Việt" ở lụa...
"Hồn Việt" ở sơn mài...
Sơn dầu - thẩm mỹ đô thị, phụ nữ lên ngôi..
Lấy cảnh ngụ tình
Khuyng hướng thẩm mỹ và đặc điểm nghệ thuật
Học kỹ các bài học phương Tây - biết quên và biết cách chọn lọc
Phát huy kỹ thuật cổ truyền kết hợp với tạo hình mới
Ảnh hưởng Pháp rõ rệt và rất Việt Nam
Cái tôi tự do và chủ nghĩa cá nhân
Chương III:
MỸ THUẬT THỜI KỲ HAI CUỘC CHIẾN TRANH
VÀ ĐẤT NƯỚC BỊ CHIA CẮT 1945 - 1975
Thời kỳ chống Pháp 1945 - 1954: Một đời sống mỹ thuật mới với chủ nghĩa yêu nước và khuynh hướng tả thực
Sứ mạng mới, đời sống nghệ thuật mới
Đặc điểm nghệ thuật, khuynh hướng thẩm mỹ
Linh hoạt gọn nhỏ
Dễ hiểu nhờ tả thực
Hiện thực nhưng nhẹ nhàng, lạc quan
Giai đoạn 1945 - 1975: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghia ở Miền Bắc và vùng giải phóng.
Những nỗ lực "hiện đại hóa" nhìn ra thế giới ở Miền Nam
Hiện thực xã hội chủ nghĩa - phần quan trọng nhất - là một thực tế lịch sử
Mỹ thuật ở vùng giải phóng Miền Nam - Kinh nghiệm thời chống Pháp và bài học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Mỹ thuật đô thị Miền Nam - sự phát triển song song - những nỗ lực cách tân
Chương IV:
PHẦN TƯ CUỐI THỂ KỶ HÒA HỢP - ĐỔI MỚI - HỘI NHẬP
Mười năm đầu vất vả (1975 - 1985) 89
Hòa hợp và mâu thuẫn
Bộ máy nào sản phẩm ấy
Nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa, nghệ sĩ ở R về và nghệ sĩ tại chỗ - ba "lực lượng" trong một khuôn mẫu?
Mỹ thuật Đổi Mới - êm ả và quyết liệt
Năm năm bản lề 1985 - 1990 - Bắt đầu từ trong cơ chế
Những triển lãm
Trại sáng tác Đại Lải - và tham quan nước ngoài
Lý luận phê bình và thông tin đại chúng
Thập niên 1990 - 2000 mở cửa - hội nhập - hình thành thị trường
Mở cửa và "phát hiện ra mỹ thuật Việt Nam"
Mỹ thuật đương đại - Các "nghệ sĩ thị giác"
Ba thế hệ - một địa chỉ
Từ "hải ngoại trở về"
Hội họa bùng nổ rồi trì trệ
Không gian rộng lớn
Các khuynh hướng thẩm mỹ - cái mới - cái tôi khác - mẫu họa sĩ độc lập
Cảm hứng tự hào, tình cảm tưởng niệm
Thẩm mỹ dân tộc - hiện đại - mở cửa
Một khuynh hướng thẩm mỹ mới
Sự đa dạng của những "cái tôi" khác nhau
Phức tạp và không đồng nhất
"Trăm năm thì ngắn..." thay lời cuối
Tài liệu tham khảo
PHIÊN BẢN MINH HỌA
Phụ lục
NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Lời nói đầu
I. Sự ra đời và phát triển của nghệ thuật tạo hình Cách mạng Việt Nam
II. Sự mở rộng về đề tài và thành công về hình tượng
III. Sự phát triển của các chất liệu. Bước hình thành của bộ môn thể loại và loại hình nghệ thuật tạo hình
1 - Sự phát triển của các chất liệu và kỹ thuật
2 - Các môn nghệ thuật, các chủng loại, thể loại, loại hình nghệ thuật tạo hình
IV. Vấn đề phong cách và sự hình thành phong cách cá nhân
V. Kết luận
Lời bạt: Đi không hết chiều… |