84. Chuột nhắt, chim sẻ và dồi nướng
Ngày xửa ngày xưa, có một con chuột nhắt sống chung với chim sẻ và dồi nướng. Chúng sống chung với nhau rất hòa thuận, ăn nên làm ra. Công việc của chim sẻ là hàng ngày vào rừng kiếm củi mang về, còn chuột nhắt thì đi xách nước, nhóm lửa chất bếp và dọn bàn ăn, việc nấu nướng thì do dồi đảm nhiệm.
Ở đời sướng quá hóa rồ ! Một hôm, dọc đường bay vào rừng kiếm củi chim sẻ gặp một con chim sẻ khác, nó kể cho con kia nghe về đời sống sung sướng của mình, nói là mình số sướng. Con chim kia nói rằng thế đâu có phải là sung sướng, công việc nặng nhọc sớm tối mình làm cả, còn hai đứa kia ru rú ở nhà cả ngày chỉ có bếp núc, nấu nấu nướng nướng. Xách nước, nhóm bếp xong là chuột có thể về buồng mình nằm nghỉ, chờ khi nấu xong ra dọn bàn ăn. Còn dồi thì chỉ có mỗi việc là đứng coi nồi cháo. Trước khi mang cháo lên ăn bao giờ dồi cũng cho tay vào nồi quấy bốn lần cho rau, cháo đều lên, nếm thử xem mắm muối đủ chưa. Khi chim mang được củi từ rừng về thì hai đứa kia đã ngồi chực sẵn bên bàn, ăn no chúng đi ngủ, làm một giấc ngon lành cho tới sáng hôm sau mà chẳng hề bận tâm lo lắng gì cả. Sống như thế thì ai chẳng bảo là sướng.
Nghe con chim kia xúi, hôm sau chim sẻ ghen tị, không chịu đi lấy củi nữa, nói rằng nô lệ cho cả bọn thế là đủ rồi, chả nhẽ suốt đời điên như vậy sao. Phải thay đổi mới được. Giờ luân phiên nhau làm. Chuột nhắt và dồi nướng… ra sức khuyên can nhưng chim vẫn không chịu, cho mình là trụ cột nên hai đứa kia phải theo. Phải liều một phen mới được! – Chim nghĩ bụng vậy. Giờ thì công việc nặng nhọc dành cho dồi, dồi phải đi kiếm củi mang về, chuột nấu nướng, việc của chim là lấy nước, nhóm bếp, dọn bàn ăn.
Vậy có chuyện gì xảy ra nào?
Dồi vào rừng kiếm củi, chim nhóm bếp, chuột đặt nồi lên bếp, cả hai ngồi đợi dồi mang củi về nhà để hôm sau dùng. Đợi mãi chẳng thấy bóng dáng dồi đâu cả, chắc là có chuyện gì xảy ra đây, chim cất cánh bay đi kiếm. Mới bay được một quãng chim thấy một con chó nhỏ xông tới chỗ dồi, giơ mõm ra ngoạm ngay lấy dồi quật xuống đất. Chim sà xuống, phản đối chó, cho như thế là cướp dọc đường, chó chẳng thèm nghe, nó còn nói rằng nhận được một bức thư nặc danh kể tội dồi, vì vậy dồi phải đền mạng là đúng lắm rồi.
Buồn bực, chim mang củi về nhà và kể cho chuột nghe những điều tai nghe mắt thấy. Nghe xong cả hai buồn rười rượi, hứa với nhau sẽ gắng hết sức mình làm việc, luôn luôn ở bên nhau. Chim dọn bàn ăn, chuột đi quấy cháo cho đều. Bắt chước dồi, chuột cho hai chân trước vào quấy cháo, rau đều lên, nhưng mới thò xuống chuột đã bị bỏng, ngã lăn tõm vào nồi cháo nóng, bị bỏng lột hết cả lông, da và bỏ mạng trong nồi cháo nóng.
Khi chim vào bếp tính mang nồi cháo lên để ăn thì chẳng thấy đầu bếp đâu cả. Chim lấy que củi gõ chỗ này chỗ kia, gọi í ới mà chẳng thấy có tiếng trả lời, tìm mãi mà chẳng thấy tăm hơi đầu bếp. Trong lúc chim xục xạo tìm chuột không may lửa cháy bén sang đống củi gần đó, lửa cháy bùng lên, chim chạy vội đi lấy nước, cuống cả lên chim vấp ngã nhào thẳng xuống giếng cùng với thiếc thùng mang theo, thùng chìm, bị dây thừng quấn chân chim cũng chìm theo và bị chết đuối dưới giếng.
85. Chuyện cổ tích tưởng tượng ở miền ĐiTHMARSEN
Tôi muốn kể cho các bạn nghe vài câu chuyện. Tôi nhìn thấy hai con gà quay bay, bay rất nhanh, bụng chúng đội trời, lưng quay về mặt đất. Và một cái đe cùng với phiến đá cối xay nhẹ nhàng bơi qua sông Rhein.
Tôi thấy một con ếch ngồi trên mặt nước đóng băng và ăn chiếc lưỡi cày trong dịp lễ Giáng sinh. Rồi lại có ba chàng chống nạng và đi cà kheo nhưng muốn đuổi bắt một con thỏ, người thứ nhất mù, người thứ hai câm, và người thứ ba không cử động được chân. Các bạn có muốn biết câu chuyện xảy ra như thế nào không? Đầu tiên anh mù thấy thỏ chạy băng qua cánh đồng, anh câm gọi anh chàng bị liệt tới và anh chàng bị liệt này tóm ngay lấy cổ chú thỏ.
Lại có vào người muốn đi thuyền buồm trên cạn, họ giương buồm hứng gió và thuyền lướt qua những cánh đồng rộng mênh mông, họ cho thuyền lướt qua một ngọn núi cao và tất cả đều bị chết đuối rất thảm thê.
Có một con tôm hùm săn bắt một con thỏ làm thỏ phải chạy trốn.
Và tít trên mái nhà có một con bì cái leo lên nằm. Ở đó, con ruồi to như những con đê ở nước ta.
Các bạn hãy mở cửa sổ ra để cho những chuyện tưởng tượng ngược đời ấy bay đi.
86. Chuyện cổ tích về xứ SCHlaUraFFen
Thời thượng cổ tôi có tới vùng này, tôi thấy thành Rom và cung điện giáo hoàng treo lơ lửng trong không trung bằng một sợi lụa nhỏ xíu, và một người không chân chạy vượt một con ngựa đang phi nước đại, rồi một lưỡi kiếm cùn đâm xuyên suốt qua một chiếc cầu. Hồi đó tôi còn thấy một con lừa mũi bạc chạy sau hai con thỏ, và những chiếc bánh ga tô tròn nóng hổi mọc từ thân một cây bồ đề cổ thụ. Chính mắt tôi nhìn thấy một con dê cái già gầy giơ xương có khối mỡ một vạn cân và khối muối ăn chứa trong thịt nặng sáu nghìn cân. Bạn thấy chuyện có bịa không?
Chính mắt tôi nhìn thấy lưỡi cày cày ruộng băng băng mà chẳng có bò ngựa nào kéo cả, và một em bé tròn một tuổi ném bốn cái cối xay bay từ vùng Regenburg về tận Trier rơi xuống thành phố Strassburg, và một con chim kền kền bơi qua sông Rhein một cách ngon lành. Hồi đó tôi nghe thấy cá nói chuyện với nhau nghe vang khắp trời đất, mật ong thơm ngon chảy như nước lã, chảy từ trong thung lũng sâu dưới núi chảy ngược lên ngọn núi cao. Bạn có thấy những câu chuyện ấy lạ kỳ chưa?
Chỉ có hai con quạ mà cắt hết một cánh đồng cỏ, và tôi thấy hai con muỗi đang xây một chiếc cầu, lại có hai con bồ câu đang làm lông một con chó sói, có hai em bé lấy dê con ném nhau, lại có hai con ếch đứng thi nhau đập lúa, có hai con chuột đang ngồi cầu kinh, hai con mèo cào lôi lưỡi một con gấu. Lúc đó có con sên chạy vội tới đánh chết hai con sư tử hung dữ, có một người thợ cạo đang cạo râu cho một người phụ nữ, có hai đứa bé đang bú nói mẹ ngồi im, có hai con chó săn khiêng một cái cối xay từ dưới nước lên và con ngựa già đứng đó nom thấy thế nói rằng: “Hai con chó săn khỏe thật”; ở trong sân có bốn con ngựa to khỏe ráng sức đập lúa sót ở rơm, và hai con dê cái đang lụi hụi đốt lò, và con bò màu đỏ đút bánh vào lò nướng. Giữa lúc đó có con gà trống cất tiếng gáy:
– Ki–kơ–ri–ki, chuyện kể đến đây là hết, ki–kơ–ri–ki.
87. Chuyện đánh đố
Ba phụ nữ kia hóa thành hoa trên đồng nội. Đêm đêm, một trong ba người được về nhà đoàn tụ gia đình. Có một chị dặn chồng:
– Sáng ngày mai anh ra hái hoa, như vậy là em đã được giải cứu để sống bên anh.
Trước khi trời sáng chị ta phải rời nhà và lại hóa thành một bông hoa đứng trên đồng nội.
Nhưng làm thế nào để nhận ra được?
Cả ba bông hoa đều giống nhau như hệt.
Thực ra cũng chẳng có gì là khó: Hai bông hoa đứng trên đồng nội trong buổi tối sẽ có sương đọng ở trên, còn bông hoa kia thì không có.
88. Chuyện tán gẫu
– Này chị kia đi đâu thế?
– Tôi đi lên thượng giới.
– Thế thì cho tôi đi với, tôi cũng muốn lên thượng giới.
– Thế chị đã có chồng chưa? Chồng tên là gì?
– Chồng tôi tên là Thằn lằn châu Phi.[1]
– Chồng chị tên là Thằn lằn châu Phi, chồng tôi cũng tên là Thằn lằn châu Phi, chúng ta cùng đi lên thượng giới.
– Thế chị có con không? Con tên là gì?
– Nó tên là Ghẻ lở.
– Con chị tên là Ghẻ lở, con tôi cũng tên là Ghẻ lở, chồng chị Thằn lằn châu Phi, chồng tôi Thằn lằn châu Phi, chúng ta cùng đi lên thượng giới.
– Thế chị có người hầu không? Người hầu tên là gì?
– Hài lòng hết chỗ nói là tên người hầu của tôi.
– Người hầu của chị Hài lòng hết chỗ nói, người hầu của tôi cũng Hài lòng hết chỗ nói. Con chị Ghẻ lở, con tôi Ghẻ lở, chồng chị Thằn lằn châu Phi, chồng tôi Thằn lằn châu Phi, chúng ta cùng nhau đi lên thượng giới.
89. Có Trời chứng giám
Một chú thợ học việc đi khắp nơi tìm việc nhưng chẳng có một ai thuê. Đúng lúc trong túi chú không còn đến một đồng trinh thì chú gặp một người Do Thái, chú nghĩ chắc dân Do Thái có nhiều tiền nên đi thẳng tới dọa:
– Đưa tiền đây không toi mạng bây giờ.
Người Do Thái kia đáp:
– Hãy để tôi sống, tôi có đây tám trinh.
– Tiền có mà không chịu đưa cho tao.
Nói thế rồi chú thợ học nghề túm ngay người Do Thái kia nện cho một trận tới lúc người kia mềm nhũn mới thôi. Trước lúc chết người Do Thái kia nói thều thào:
– Chuyện này có Trời chứng giám.
Chú thợ học nghề lần túi người kia, chú lấy được đúng tám trinh, đúng như lời người kia nói. Chú kéo xác người kia giấu vào trong bụi cây rồi lại lên đường.
Tới thành kia chú tìm được một người thợ cả nhận, chú đem lòng yêu ngay con gái người thợ cả. Hai người lấy nhau và sống rất hạnh phúc.
Khi hai vợ chồng có được hai người con thì bố mẹ vợ cũng qua đời.
Một buổi sáng kia, người vợ mang cà phê lên cho chồng, nhìn ánh sáng mặt trời lóng lánh trên mặt cốc nước cà phê, người chồng nói:
– Có Trời chứng giám, Trời nào chứng giám hử?
Nghe thấy nói thế, người vợ hỏi chồng:
– Trời, cái gì thế hở mình? Thế có nghĩa là thế nào?
Người chồng nói:
– Anh không thể nói cho em biết về điều đó được.
– Nếu anh thực lòng thương em thì sao anh lại không thể nói cho em biết được nhỉ.
Rồi người vợ hứa sẽ không kể tiếp cho ai biết câu chuyện giữa hai người, và cứ gặng hỏi mãi. Người chồng đành kể khi xưa lúc túng quẫn mình có đánh chết một người Do Thái, trước lúc chết người ấy có nói:
– Chuyện này có Trời chứng giám.
Nhìn ánh mặt trời lóng lánh người chồng nhớ tới chuyện khi xưa, nghĩ rằng làm gì có Trời nào chứng giám ở đây. Kể xong người chồng còn dặn vợ tuyệt đối không được kể cho một ai biết. Người vợ hứa sẽ giữ kín miệng.
Một hôm tới thăm bà cô, vui miệng người vợ kể cho cô câu chuyện và dặn bà đừng kể cho ai biết câu chuyện ấy. Chưa đầy ba ngày sau, cả thành phố biết chuyện. Người chồng bị giải ra tòa và phải chịu tội xử trảm. Đúng là “Có Trời chứng giám”.
90. Con chim vạc và chim rẻ quạt
Một người đàn ông hỏi ông già chăn bò:
– Bác hay cho bò ăn ở đâu?
– Ở chỗ này, nơi cỏ không được mỡ màng lắm nhưng cũng không thưa thớt và cứng; cả hai loại đều không tốt.
Người đàn ông lại hỏi:
– Tại sao lại không tốt?
Người mục đồng đáp:
– Ông có nghe thấy tiếng gọi ầm ì từ ngoài đồng cỏ vọng lại không? Đó là tiếng con chim vạc, ngày xưa nó cũng từng là mục đồng, và con chim rẻ quạt cũng vậy. Giờ tôi xin kể cho ông nghe sự tích câu chuyện:
“Con vạc chăn bò của mình trên cánh đồng cỏ màu mỡ có rất nhiều loài hoa mọc xen kẽ. Ăn cỏ ấy nên bò trở nên bướng bỉnh và dữ tợn. Rẻ quạt thì đánh bò lên ăn ở núi trọc cao tít, gió thổi cát bay suốt ngày, nơi ấy cỏ mọc thưa thớt và cứng nên bò của nó gầy còn ốm yếu.
Khi trời bắt đầu tối, khi những mục đồng khác chăn đàn bò của mình về nhà thì vạc ta loay hoay mà vẫn không gom được đàn bò của mình, lũ bò bướng bỉnh mỗi con đi một ngả. Vạc gọi:
– Bò khoang, quay lại!
Nhưng cũng vô ích, chúng chẳng thèm quay lại.
Còn rẻ quạt thì không sao thúc bò đứng dậy được, chúng quá mệt mỏi, ốm yếu. Rẻ quạt la:
– Hấp, hấp, hấp!
Nhưng chẳng ăn thua gì cả, chúng cứ nằm ì trên cát.
Nếu không biết chọn cỏ cho bò ăn sự thể sẽ như vậy. Mặc dù chúng không còn chăn bò nữa nhưng vạc vẫn kêu: “Bò khoang quay lại!” và rẻ quạt thì “Hấp, hấp, hấp!”.
Nguồn: Hợp tuyển Văn học Đức tập 1. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học, 2005.
|