tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
03.12.2014
Trương Tuyết Mai
Lật từng mảnh ghép

Chú Bảy nãy giờ đứng trên thềm uống nước và im lặng theo dõi cuộc “xử án”; nghe tôi nói ông bất ngờ bật cười, ho sặc sụa. Hình như chú không nỡ nhìn thấy tôi khổ sở nên nói với thím:


- Thôi được rồi mình ơi, con đã biết sợ thì cũng đừng làm nó căng thẳng quá, tội nghiệp.


- Mình để em dạy con, đừng can thiệp vô được không!


- Thì chỉ nhắc mình vậy thôi mà. Anh thấy con biết lỗi rồi đó mình à.


Chú Bảy chỉ nói với thím vài lời đó rồi đi vô nhà trong. Thím Bảy nghiêm nghị nhìn tôi:


- Con tới gần đây, vòng tay cao lên! Nghe cho kỹ và nhớ những lời mẹ dặn nghe không.


Tôi “Dạ” một tiếng, hai tay khoanh trước ngực, rồi e dè tiến tới, cúi mặt lắng nghe thím dạy:


- Từ nay trở đi, con không được tái phạm chuyện này nữa nghe chưa. Xấu lắm! Chị Huệ đã nói hết đầu đuôi cho mẹ biết rồi. Vì ham chơi mà phạm lỗi vậy đó! Mẹ tha cho lần này, nhớ không được tái phạm nghe hông! Con phải nghe lời và ngoan ngoãn thì cha mẹ mới thương. Hứa là sẽ chừa không?


- Dạ thưa, con nhớ rồi. Con xin hứa từ nay không dám như vậy nữa.


- Ờ, được rồi. Chị Huệ sẽ tắm rửa cho con. Vô nhà trong đi.


* * *


Như mọi hôm, ăn cơm chiều xong chú thím tôi ngồi uống trà trên bộ salon trong phòng khách. Bình thường hai người rất ung dung thư thái, vui vẻ đàm đạo, trao đổi công chuyện làm ăn. Nhưng hôm nay không khí có vẻ trầm lặng hơn. Ở hiên nhà tôi đã nghe tiếng chú thím Bảy lúc to lúc nhỏ:


- Mình à, sao không được vui vậy?


- Em lo lắm mình ơi. Mình nuôi dưỡng không khéo, con nó hư là anh chị Năm sẽ buồn lắm.


- Em đừng lo lắng quá, không sao đâu. Mình sẽ quan tâm hơn, dạy con từ từ là được mà. Tại con ham chơi thôi mình à.


- Em biết. Nhưng mình nghe nó lý sự với em không ? Con nít như nó có đứa nào dám vậy.


- Mình phải vui chớ, vậy là con nó khôn, biết suy nghĩ độc lập theo cách của nó mà.


- Em chỉ sợ lớn lên con sẽ khổ.


- Mình nghĩ gì vậy? Ðiều kiện của nhà ta dư sức nuôi con khôn lớn và lo cho nó cả về sau nữa đó chớ.


- Em đâu có lo con khổ về tiền bạc, mà sẽ khổ về tinh thần đó anh à.


- Mình đừng nói trước điều xui xẻo vậy nghen, lỡ vận vô thân con thì tội nghiệp nó đó.


Tôi không hiểu những lời trao đổi sau cùng của cha mẹ nuôi có ý nghĩa gì. Ðiều lo lắng của mẹ nuôi có vận vào số mạng của tôi hay không? Đó là một ẩn số mà tôi sẽ phải tìm ra giải đáp...


* * *


           Một lần má đến thăm, tôi mừng rỡ vô cùng, cứ luôn miệng nằn nì đòi theo má trở về nhà. Tôi không rõ má đã chuyện trò, bàn bạc gì đó với chú thím, chỉ biết vài ngày sau, vẻ mặt cha mẹ nuôi tôi buồn rười rượi, nhìn ánh mắt càng thấy nét buồn thêm thăm thẳm. Còn tôi thì rộn ràng, vô tư nhảy chân sáo theo má, lòng vô cùng hăm hở. Mãi sau này, khi lớn hơn một chút tôi mới được má cho hay: “Thời buổi loạn lạc quá, má không thể đành lòng để con rời xa gia đình thêm nữa. Ba đã ở chiến khu lâu rồi, má con mình đói no phải có nhau. Hơn nữa, em Liễu của con đã bị thất lạc trong lúc chạy loạn, lo sợ lại đến lượt con thì má chắc không sống nổi! Nên dù có bệnh tật hay đói khát đến đâu, má con mình cũng phải che chở, đùm bọc nhau con à...”.


Thời gian tôi làm con nuôi tuy không lâu lắm, nhưng cũng đã nhận được từ cha mẹ nuôi của mình rất nhiều sự thương yêu cưng chiều và dạy bảo tận tâm. Những rắc rối tồi tệ do tôi gây ra cho cha mẹ cũng không ít. Sau mỗi lần phạm lỗi, tôi từng tự nhũ: “Nhất định mình phải ngoan ngoãn hơn để cha mẹ nuôi an lòng”. Lời hứa chưa đủ thời gian thử thách, tôi cũng chưa kịp quen gọi chú thím bằng cha mẹ một cách tự nhiên, thuần thục. Tôi không biết rằng hai tiếng ấy là sự mong mỏi, là niềm khát khao của cha mẹ biết dường nào. Giá như hồi đó tôi khôn ngoan hơn, ít cứng đầu một chút, thì cha mẹ chắc sẽ vui và hạnh phúc lắm. Mỗi lần nhớ đến, tôi lại ao ước được trở về thời trẻ nhỏ ấy, và chắc chắn tôi không gọi cha mẹ nuôi bằng chú thím nữa.


            Cha mẹ ơi, con vẫn không nguôi nhớ về ngôi nhà có mái hiên dài rộng thoáng mát ấy, nơi luôn chất đầy những bao bố chà rinh và đường phèn. Nơi một thời cha mẹ đã quý yêu, che chở và dưỡng dục con. Nhưng nơi chốn ấy là đâu, thuộc địa phận nào - thì một đứa trẻ sáu bảy tuổi như con thời ấy không thể quan tâm và ghi nhớ được. Cha mẹ hiện còn ở đó không? Có được an lành mạnh khỏe, hay đau bệnh triền miên? Những ngày tháng cuối cha mẹ sống ra sao?... Con ao ước và tha thiết được phụng dưỡng cha mẹ biết chừng nào. Hãy lên tiếng cho con biết mà tìm về, cha mẹ nhé!...


3. Tuổi thơ bên mẹ


      Thời gian cứ trôi… trôi…


Bao năm qua, cũng như những nhạc sĩ khác, tôi có đủ ngọt bùi đắng cay, có những niềm vui hồn nhiên trong sáng, có những xót xa, bất hạnh – nổi chìm cũng đã được trải nghiệm. Nhưng rồi tất cả đều sẽ phôi pha dần theo năm tháng, chỉ để lại một điều duy nhất là tác phẩm, cùng những vết ngang dọc hằn sâu trên khuôn mặt mà thời gian và cuộc đời đã ưu ái dành cho.


          Tuổi thơ tôi không được may mắn. Rất nhiều năm không ai trong nhà biết được tin tức ba tôi. Lâu, thiệt lâu mới nghe má nói: “Ðêm qua ba về”. Thế rồi sau đó một thời gian, chị em tôi lại có thêm một đứa em.


          Năm tháng tiếp nối với những chuỗi ngày gian nan vất vả cùng cực. Chị em tôi nhiều khi nhớ lại, cũng không hiểu sao mình có thể tồn tại nổi.        


 Những lúc buồn, ký ức tuổi thơ tôi bên người mẹ hiền yêu quý sống lại rõ ràng sinh động, tưởng có thể cầm nắm được trên tay. Trước mắt tôi là hình ảnh má đau yếu xanh xao, đôi gánh trĩu nặng trên vai, một đầu là em trai Trương Hữu Minh, đầu bên kia là chiếc ba lô nhỏ cùng vài cái nồi đất. Chị Hai tôi độ tám chín tuổi xách trên tay ấm nước chạy theo, còn tôi thì ôm chiếc chiếu manh cũng cắm đầu chạy, hai đầu gối đã bị bầm dập vì té. Tất cả đều không nón mũ giày dép, hớt hải lao về phía rừng cùng đoàn người tản cư.


          Tôi nghe kể lại, hồi đó má mới sanh em Liễu có ba ngày đã phải rời bỏ nhà cửa, lội nước bạc tới ngực băng qua đầm sâu, dắt díu con thơ chạy theo mọi người. Cứ ngỡ chạy lánh nạn ít ngày rồi trở về. Ai ngờ cả gia đình rời xa căn nhà ở Phường Sài Nha Trang mãi mãi. Đi miết, đi miết không một lần quay về ngôi nhà của mình. Gia đình tôi chạy giặc với hai bàn tay trắng. Má tôi không tiền, không gạo, không nghề nghiệp và đau yếu bệnh tật. Bà phải cưu mang những đứa con thơ trong cảnh loạn ly, đạn bom và đói khát… Ba tôi ở chiến khu, đâu biết hết những đoạn trường mà má con tôi phải trải.


Có lúc may mắn, má con tôi sống bình yên trong một ngôi miếu hoang đã sạt đổ gần hết vì bom đạn. Ngôi miếu nằm bên con đường mòn trong rừng ở vùng núi Phước Lãnh, thuộc Phú Yên. Hàng ngày má tôi đi rửa chén mướn cho một quán cơm, cách ngôi miếu không xa lắm. Khi bóng tối đổ xuống, đứa em trai hai tuổi của tôi thường khóc rền rĩ thảm thiết, khóc khản cổ vì đói. Chị Hai tôi phải ẵm thằng em tội nghiệp ra đường để đón má và dỗ dành cho em bớt khóc.


           Nhiều hôm má về rất muộn, nhưng chúng tôi thật sung sướng mỗi khi má đi làm về, vì má đem niềm vui và sự sống cho chúng tôi. Những thứ Má đem về là bữa ăn duy nhất trong ngày cho đàn con – là thứ “xà bần” đựng trong cái nón đã cũ rách. Ðó là những thức ăn dư của khách và cơm cháy đáng lẽ cho heo. Má tôi đã gom những thứ đó lại rồi xin chủ quán đem về cho chúng tôi ăn. Hồi đó được sống như vậy, má con tôi cũng thấy yên ổn và hạnh phúc lắm rồi, vì ít ra chúng tôi cũng được một bữa ăn trong ngày, lại luôn được có má bên cạnh, yêu thương che chở.


          Thế rồi, má con tôi cũng chẳng hưởng cái hạnh phúc nhỏ nhoi ấy được bao lâu. Bệnh sốt rét, bệnh thương hàn bỗng từ đâu ụp xuống đầu chúng tôi, tưởng không ai sống sót được. May mắn sao, một người Thượng không rõ từ đâu tới, cũng chẳng biết họ dùng những thuốc gì, đã cứu má con tôi qua khỏi trận bệnh ghê gớm. Ai trong nhà lúc đó cũng đều rất yếu, chẳng còn chút sức lực. Bệnh tật và đói khát đã khiến chúng tôi bủng beo rất thảm hại.


          Một thời gian sau, cũng người Thượng đó đã đưa mẹ con tôi vào sâu trong núi. Chúng tôi sống trong sự đùm bọc, che chở của những người Thượng ở đây. Họ rất hiền và tốt bụng. Những người đàn ông đã dựng cho má con tôi một cái chòi để ở. Họ hay ghé thăm chúng tôi mỗi khi đi rừng. Mỗi lần ghé, lại đem theo rất nhiều bắp và bí đỏ, có khi đem cả mật ong cho má tôi chữa bệnh. Thời kỳ này má con tôi sống được là nhờ bắp. Hết bắp luộc đến bắp hầm, rồi bắp rang… cứ thế quanh năm suốt tháng. Chúng tôi không còn nhớ khái niệm thế nào là hạt cơm nữa.


          Những người Thượng “cà răng căng tai” ngày ấy, tôi không bao giờ quên được. Họ đều cao lớn và khỏe mạnh. Ðàn ông thường cởi trần, quấn khố, hút thuốc bằng ống điếu to với cái cán rất dài. Họ hay mang rựa bên mình và săn bắn rất giỏi. Ðàn bà đi rẫy thì mang gùi to trên lưng. Chiều về đeo đầy một gùi toàn những ống nước, hoặc củi khô; đời sống rất cực nhọc vất vả. 


Ðây cũng là nơi đêm đêm tôi được nghe tiếng gầm rú vang vọng của thú dữ. Tôi không sao quên ấn tượng rùng rợn đầu tiên khi nghe tiếng cọp gầm, chấn động cả núi rừng. Rồi những ngày mưa dai dẳng rét mướt thật đáng sợ. Áo ấm là thứ xa xỉ mà trong hoàn cảnh này chúng tôi cũng không thể mơ tới. Mọi người lớn bé, trẻ già thường ngồi quanh bếp lửa giữa nhà để sưởi ấm và chuyện trò. Trên bếp là trã[1] bắp rang đang nổ lốp bốp, chén muối ớt hòa với nước lạnh đang chờ để rưới vô rổ bắp sau khi rang xong. Chuyện xưa, chuyện nay cứ râm ran kéo dài không dứt bên bếp lửa hồng và  rổ bắp rang, trong lúc bọn chúng tôi ngửa cổ lên nghe rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết… Ngày tháng cứ trôi qua vô cùng giản dị bên những người Thượng thật thà chất phác ấy, những người má con tôi mang ơn suốt đời.                         


        Một hôm, không hiểu sao má tôi quyết định rời bỏ nơi này. Chúng tôi lại bồng bế, dắt díu nhau lội suối trèo đèo, đi riết về phía trước. Sau này mới biết má tôi hay tin có đơn vị bộ đội đóng quân cách chúng tôi không xa lắm, nên bà vội vàng đi, mong may ra gặp được ba tôi.


       Và cuộc sống vô gia cư, bữa đói bữa no, lang thang phiêu bạt của má con tôi lại tiếp tục. Biết bao cay đắng tủi nhục má tôi đã phải chịu đựng để thủy chung với chồng, để nuôi sống và che chắn cho đàn con thơ…


        Ngày má tôi trút hơi thở cuối cùng, chị em tôi chẳng làm sao lo được cái áo quan để má nằm cho tử tế, mà chỉ có một chiếc chiếu cũ bó quanh mình!... Má đã để lại cho chị em tôi tình yêu thương vô bờ bến. Chính tình yêu đó đã nâng đỡ tôi trong mọi hoàn cảnh, tiếp cho tôi năng lượng sống để vượt qua những cam go thử thách của cuộc đời.    


Má tôi là người đàn bà đẹp, dịu hiền, trung thực và thủy chung. Là người đầu tiên cho tôi làm quen với những bài hát ru của ba miền Trung Nam Bắc. Ðêm đêm, câu ru của má vẫn êm đềm dìu dặt bên tai tôi như thuở nào. Những câu hát ru nuôi dưỡng tinh thần tôi từ ngày thơ bé, đã ảnh hưởng lớn đến cả âm nhạc tôi sau này. Ðó là kho báu, là gia tài vô giá má đã để lại cho con.


Từ đó, chị em tôi là những đứa trẻ không nhà, không nơi nương tựa. Nhưng may mắn là có những gia đình công nhân khuân vác ở đầu cầu La Hai Nam, đã cho chị em tôi ở đậu một thời gian ngắn cùng những bữa lót lòng sau những ngày đầu má tôi nằm xuống…


4. La Hai Nam 


            Trong ký ức tuổi thơ tôi có một miền quê thuộc huyện Ðồng Xuân tỉnh Phú Yên, nơi đã lưu lại cho tôi nhiều niềm vui và nỗi buồn nhất. Có lẽ vì thuở đó tôi đã mười tuổi, cái tuổi biết ghi nhận và biết rung động trước những điều tai nghe mắt thấy, nhất là khi nó xảy ra trực tiếp với mình. Tôi luôn bị ám ảnh bởi những kỷ niệm thân thương ấy. Miền đất này giờ không biết tên gọi là gì. Con sông nhỏ bây giờ có còn xanh trong? Có mang một cái tên mới? Còn cây cầu sắt vắt qua sông, bây giờ vẫn giữ tên cũ hay đã đổi khác?


Thôi thì cứ đổi thay! Nhưng ký ức tôi vẫn mãi sống cùng miền đất có tên gọi La Hai Nam, với con sông La Hai và cây cầu sắt La Hai sáu nhịp. Cái tên “La Hai” luôn vang lên trong tâm tưởng tôi những vần thơ chứa chan tình yêu nguồn cội, những giai điệu ấm áp nồng nàn, nhảy múa hồn nhiên trong ký ức tôi.


Miền đất ấy nằm phía nam con sông. Phía trên mố cầu xe lửa là vùng đất cao, có dãy nhà lá dựng sơ sài dọc theo đường sắt, dành cho gia đình công nhân khuân vác tá túc. Trên một chút nữa, thoai thoải theo triền núi là ngôi nhà nhỏ xinh xắn của ông Tám Lý, chú ruột tôi. Tôi nhớ chú Tám và ngôi nhà này lắm. Chú có vóc dáng cao lớn, đĩnh đạc, tính tình hiền hậu, ngay thẳng. Tôi rất kính trọng và yêu quý chú không những vì tâm tính mà còn bởi một thời chú rất thương yêu và nuôi dạy tôi như con của mình. Tuy thời gian mẹ con tôi ở La Hai Nam không lâu, nhưng tôi vẫn nhớ như in những gì đã diễn ra ở đây, nhất là hình ảnh chị tôi gánh nước.


Kỷ niệm ùa về làm lòng tôi rưng rưng. Chị tôi dạo ấy chỉ độ mười hai tuổi nhưng đã phải đi gánh nước mướn. Mỗi lần như vậy, người ta trả công chị bằng những củ khoai, hoặc vài đồng xu lẻ để đỡ đần má nuôi em. Ðôi gióng[2] của chủ nhà là gióng cỡ người lớn, nên khi chị gánh, hai bùng binh[3] đựng nước ở đầu gióng cứ lết bết chạm đất. Lúc xuống sông, chị giang tay tóm gọn hai đầu gióng để giữ chắc cặp bùng binh, lội ra xa bờ một đoạn rồi mới vục xuống sông lấy nước. Ðôi bùng binh tuy nước không đầy ắp như của người lớn nhưng cũng rất nặng, nên chị phải lê dần từng bước leo dốc. Lên được tới mặt đường, chị phải dừng lại nghỉ lấy sức một chút, rồi sau đó tiếp tục đặt gánh lên vai leo thêm một con dốc nữa mới tới triền núi. Ngày nào  chị cũng gánh nước oằn vai. Những hôm đau yếu, chị có lần té sấp khi leo dốc, làm nước trong bùng binh đổ tràn hết ra đất. Chị lồm cồm bò dậy, thất vọng nhìn dòng nước thấm dần vào cát. Tôi thấy chị quẹt nước mắt rồi đặt gánh lên vai tiếp tục đi xuống sông. Tôi vừa bồng em vừa nhìn chị mà ứa nước mắt. Chị tôi sợ nhất nếu bùng binh bể, sẽ không có tiền mua cái khác đền cho người ta. Ngày xưa ở vùng này ai khá giả lắm mới có thùng thiếc để gánh nước, còn hầu hết đều dùng bùng binh làm bằng đất sét nung.


Hình dáng chị tôi nhỏ nhắn, thấp bé với đôi bùng binh nước trên vai, sấp mặt xuống đất, oằn lưng leo dốc cùng những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán - ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Ngoài tình ruột thịt, tôi thương yêu chị còn vì vào thời thơ ấu vô cùng vất vả, đói khát, loạn lạc ấy, chị đã lặng lẽ góp sức cùng mẹ nuôi dưỡng những đứa em thơ dại lớn lên.


La Hai còn in bóng dáng tôi lún cún theo má mỗi đêm có chợ phiên Ðồng Dài. Chợ cách La Hai xa lắm. Má cho tôi đi theo để coi gánh. Tôi đứng yên một chỗ với đôi gánh trống không chờ má đi mua các thứ đem tới. Bà lo tôi đứng một mình lâu sẽ buồn, nên một bữa nọ mới đi một lát đã thấy bà quay trở lại chỗ tôi đứng, tay xách cái ấm bằng đất đầy nước trà, tay kia cầm một cái chén to bằng chén ăn cơm. Má ngồi xổm xuống trước mặt tôi nói:


- Trong lúc má đi mua các thứ, con đứng một mình chờ hoài chắc cũng buồn. Má đưa con ấm nước trà và cái chén này, con đi vòng vòng trong chợ cho vui, ai cần thì con rót cho họ uống nghen.


- Con không phải coi gánh nữa hả má?


- Má nhờ thím Năm coi giùm cũng được.


Tôi nghe má nói thấy hay nên mặt sáng rỡ, đồng ý liền vì ít ra không bị cuồng chân đứng một chỗ quá lâu ngóng má. Không ngờ làm vậy mà có tiền. Tuy chỉ là những đồng xu bé nhỏ, nhưng cũng đỡ được chút đỉnh cho má. Và tôi trở thành đứa nhỏ bán nước trong chợ từ đó.


Giờ đây, mỗi khi có dịp đi qua nhà ga xe lửa hoặc bến xe, thấy những đứa trẻ bán nước dạo tôi lại bắt gặp bóng dáng mình ngày xưa, và một thời lại hiện về…


* * *


La Hai Nam có hai bến sông cách nhau không xa lắm. Bến phía dưới dành cho đò ngang đưa khách qua lại đôi bờ. Xuống đò ở bờ Nam, khách đi qua một bãi cát dài trắng phau mới đến bến xe ngựa. Ở đó luôn có bốn năm chiếc xe đậu sẵn chờ khách. Từ đây có thể đi Chí Thạnh, Tuy An, Tuy Hòa, Sông Cầu, Ðồng Bò, Phong Niên, Sơn Hòa v.v… Nhưng tôi yêu và nhớ nhất bến sông phía trên vì nơi đây đã lưu dấu nhiều hình ảnh sâu đậm. Mỗi lần khắc khoải nhớ về tuổi thơ của mình, hình ảnh ấy lại hiện lên sống động. Bến sông này có bờ thoai thoải mấp mé mép nước. Cư dân quanh vùng thường ra đây gánh nước dùng cho ăn uống; còn trẻ con tha hồ lặn ngụp, nô đùa. Tôi cũng suýt chết đuối vì một trò ngu dại tại bến sông này.


Lũ con trai tắm sông thường khoe tài bơi lặn, đua nhau cười nói, la lối vang dậy một khúc sông. Một trò chơi hết sức mạo hiểm, nhưng đứa con trai nào cũng muốn chứng tỏ mình, nên khi xuống sông, chúng xúm xít đứng chờ ở chân cầu để được tham gia. Trên xà nối cao nhất của trụ cầu giữa sông, những cậu bé đưa thẳng hai tay ra phía trước, chuẩn bị lấy đà rồi lao xuống chân cầu cuồn cuộn nước xoáy. Rất lâu sau mới thấy họ ngoi lên mặt nước cách thật xa chân cầu. Ai lặn được càng xa thì càng giỏi. Tôi mê mải nhìn theo chúng, lòng đầy thán phục. Nhưng sao chỉ thấy con trai chơi trò này? Con gái liệu có chơi như thế được không? Và tôi ước ao…


Một hôm, tôi bị trò chơi mạo hiểm ấy hút hồn lần đến gần chân cầu lúc nào không biết. Rồi cũng bắt chước trèo lên phía trên trụ cầu, tôi chỉ dừng ở xà nối gần mặt nước nhất. Thấy các bạn trai hào hứng lao xuống nước, tôi cũng nhắm mắt làm theo, và rồi... không còn biết gì nữa! Khi mở mắt ra, thấy mình đang nằm sóng soài trên bãi cát, dưới mắt nhìn của bao nhiêu người vây quanh. Tôi nghe mọi người thở phào, cùng tiếng lao xao: “Tỉnh rồi! tỉnh rồi! May quá, con nhỏ tỉnh rồi!”


Một anh thanh niên cúi gần mặt tôi hỏi:


- Nhỏ biết bơi không?


Tôi nhìn anh, lắc đầu.


- Nhỏ biết lặn không?


Tôi cũng lắc đầu.


- Trời đất! Bơi, lặn đều không biết mà dám ẩu vậy hả! Con cái nhà nào mà liều lĩnh quá vầy nè? Từ giờ không được làm vậy nữa nghen. Lỡ không không ai tìm được là phải ở luôn dưới sông đó, biết chưa? Ngu dại quá chừng! Tỉnh rồi thì em ngồi dậy đi. Níu tay lên cổ, anh đỡ lên cho. Tôi sợ quá, mặt cắt không còn hột máu, nương theo cánh tay anh ngồi dậy, im thin


thít đi về nhà, không dám hé nửa lời với má và chị Hai. Khi má mất, bà cũng không hề biết con gái của mình đã một lần chết hụt.


Khi đi tắm sông, tôi còn có một trò nghịch ngợm ngu dại nữa, một ám ảnh tội lỗi, theo riết tôi đến tận bây giờ. Ðó là trò mà đám con gái dân dã hồn nhiên rất thích thú.


Nước sông La Hai rất trong trừ khi mưa lũ. Mỗi khi ngồi trên đò ngang đi học, tôi thường thấy cá bơi theo từng đàn. Có đưa tay khỏa nước, chúng vẫn vô tư thong thả bơi tiếp. Những con cá to bằng cổ chân nhởn nhơ trông thật bình an, khiến tôi thấy rất gần gũi và thích thú. Chắc không bao giờ bị ai đánh bắt nên chúng thật dạn dĩ. Sát mép nước, từng đàn cá con bơi lội tung tăng trông thật đáng yêu.


Có lẽ vì quá yêu những chú cá con nên chúng tôi đã tìm cách bắt chúng cho bằng được. Tưởng tượng được nâng những chú cá bé xíu trong tay quả thật thích thú. Thế là cùng nhau bày trò, mỗi đứa hăm hở, hì hục moi cát thành một cái hố nhỏ cho riêng mình. Hố này thường chỉ lớn hơn cái thúng đựng thóc một chút, lại có cát ướt đắp quanh cẩn thận. Nước trong hố dâng lên trong vắt.


 Không ai bảo ai, tôi và các bạn lặng lẽ dàn trận, cố gắng thật nhẹ nhàng, khéo léo đón đầu, không cho đàn cá con tách xa bờ. Lùa cá tới gần hố nước đào sẵn, rồi thình lình ngồi bạch xuống, dang rộng hai chân thật nhanh tạo thành vòng cung chặn lối thoát của cá. Ðàn cá con bị vây giữa bờ cát và hai chân, chúng tôi chỉ cần nâng người lên một chút, từ từ áp hai chân cho sát mé nước để thu nhỏ vòng cung dồn cá lại. Bắt được cá, tôi thường nâng niu trong tay, nhìn ngắm, cười nói huyên thuyên một chút với nó rồi mới thả vào hố nước của mình; mặc cho nắng chang chang như đổ lửa trên đầu.


 Bắt cá xong, chúng tôi xúm xít chụm đầu trên những hố cá đếm xem ai được nhiều nhất để được các bạn tung hô, thán phục. Những lúc ấy sao mà hả hê, vui sướng thế! Chỉ bằng hai bàn tay mà bắt được cá đang bơi ngoài sông cũng là chuyện đáng vui lắm chứ. 


Tuy vui nhưng tôi không sao quên được hình ảnh những chú cá con bé bỏng, yếu ớt bị bắt lên bỏ xuống, vật vã không thôi dưới nắng, khó mà còn nguyên lành được. Đáng buồn nhất là sau mỗi lần vui như thế, không ai nhớ thả bầy cá trở lại sông, để may ra con nào khỏe còn có cơ hội sống. Trái lại, chúng tôi tiếp tục ngụp lặn, bày trò mới chơi nhỡn trên sông. Đến khi


thỏa thuê, kéo nhau lên bờ với nguyên quần áo ướt, lướt thướt vừa đi vừa cười nói om sòm, khoe nhau những “chiến lợi phẩm” có được.


Một hôm, tôi bỗng nhận thấy có điều gì bất an trong lòng, khi đứng im lặng nhìn đám cá con nằm nghiêng ngửa trên mặt nước, phơi bụng trắng lốp dưới nắng hè. Tôi đâu ngờ khi vục tay vào, nước trong hố lại nóng đến thế. Vậy là những con cá đã chết trong quằn quại vật vã vô cùng. Sao chúng tôi không nghĩ đến điều ấy nhỉ? Thật ngu dại quá! Từ đó, tôi nhất quyết không tham dự trò chơi ấy nữa. Đây là vết ố, vết xước hằn lên tuổi thơ mà mỗi khi nhớ đến, tôi lại thấy đau và vô cùng xấu hổ.


                                                             * * *


Đất nước hòa bình vào những ngày tháng cuối cùng tôi ở La Hai. Má con tôi giờ đây thật sự hạnh phúc vì không còn phải chạy loạn hay ăn nhờ ở đậu, mà đã có nhà riêng hẳn hoi, có hai bữa cơm ngon canh ngọt, nhất là má con tôi luôn được ở bên nhau. Tuy chỉ là căn nhà nhỏ một gian lợp bằng lá tranh, phên cửa dựng bằng liếp tre, không ngăn được gió thốc vào. Nhưng đó là căn nhà xinh xắn, sạch sẽ nhất của má con tôi sau chín năm rời xa căn nhà ở Phường Sài  Nha Trang.


Thời gian này chúng tôi được cơm no, một phần nhờ quét mót gạo rơi rớt ở nhà ga xe lửa. Hồi đó quanh khu vực nhà ga, những gia đình nghèo, đông con thường đêm đêm chờ tàu chở gạo từ các tỉnh phía trong ra. Nghe còi tàu hú từ xa, các bà mẹ gọi con dậy, dúi vội vào tay cái rá cùng cái chổi đót bé tẹo, giục chạy mau ra ga. Tôi và chị Hai cũng mắt nhắm mắt mở, hộc tốc chạy thật lẹ. Các chú công nhân khuân vác gạo từ trên tàu đưa xuống kho chứa, thế nào cũng để gạo rơi vãi. Đứa nào tinh mắt nhanh tay thì quét được lưng rá gạo lẫn với đất cát rác rưởi. Thỉnh thoảng gặp may có bao gạo nào bục rách mà các chú không biết, làm gạo đổ tuôn ra đất, mấy đứa nhỏ mặc sức bu vô quét, hốt. Những đứa hung dữ tham lam, đôi khi còn tranh giành, ẩu đả nhau.


Gạo mót đem về phải đãi sạn, cát và lượm rác cho sạch sẽ rồi mới đem nấu. Chị Hai làm việc này rất giỏi, không bao giờ bị má rầy la vì sạn còn sót trong cơm. Má thường động viên dặn dò: “Chịu khó đãi sạn cho kỹ nghen con. Mình sống nhờ gạo mót cũng là tốt lắm rồi” - tôi nghe giọng má nghèn nghẹn…


          Bờ Nam sông La Hai là một dải cát trắng phau chạy dài theo con sông. Dưới bến đò một quãng là nơi người ta trồng dưa hấu vào những tháng nước rút. Tôi thường theo các bạn ra bãi hái trộm dưa ăn ngon lành. Lúc đó, miệng đứa nào cũng nhồm nhoàm, mặt bết đầy hạt và nước dưa, vừa ăn vừa đùa giỡn. Chẳng đứa nào nghĩ đó là việc làm không tốt. Có lẽ vì dưa quá nhiều, trái nằm lăn lóc trên cát khắp cả một vùng, nên tụi nhỏ tưởng dưa hoang. Màu đỏ thẫm và vị ngọt thanh của dưa hấu La Hai theo tôi suốt đến bây giờ. Mỗi lần nhớ tới, tôi thấy vị ngọt mát thanh khiết vẫn như ở trên môi, dịu dàng thân thương.


         


Sau dải cát trắng là lũy tre cũng dài không kém, ngăn đôi con đường và dòng sông. Vì gần sông nên đường luôn đầy cát. Mùa hè, ai đi chân đất rất dễ bị bỏng vì cát nóng. Để tránh, người ta phải cố gắng chạy thiệt lẹ. Khi không chịu nổi nữa thì để ngửa nón xuống đất, đứng hai chân vào đó cho đỡ rát. Rồi cứ như thế cho đến khi tới đích.


Tôi nghe người lớn nói đây là đường thuộc tỉnh lộ hai mươi. Mặt đường không rộng lắm nhưng cũng đủ cho hai xe tải tránh nhau. Dọc  hai bên đường, nhà cửa, quán xá tuy không san sát, hoành tráng như những nơi khác, nhưng cũng tấp nập đông vui. Nổi bật nhất là quán cơm bà Thanh. Khách thập phương đều thích dừng lại đây ăn uống, nghỉ ngơi vì quán rộng rãi mát mẻ lại có vườn cây phía sau để khách mắc võng nghỉ thoải mái. Quán có thực đơn phong phú, món ăn nấu rất vừa miệng, nên thực khách La Hai hầu hết kéo về đây, các quán khác phải vất vả lắm mới tồn tại được. Một thuận tiện khác khiến quán bà Thanh phát đạt có lẽ nhờ bến xe ngựa ở sát bên. Khách sau khi ăn uống, nghỉ ngơi có thể lên xe đi ngay. Nhờ vậy khắp vùng ai cũng biết tiếng quán này.


          Dạo ấy, má tôi có phụ nấu nướng cho bà Thanh, nhiều lần tôi thấy má đang nêm nếm thức ăn trong bếp. Ðồ ăn má tôi nấu ngon lắm, không chê vào đâu được. Tôi đặc biệt thích món thịt thưng[4] má nấu, vừa mềm, vừa ngậy lại vừa thơm lạ lùng.  Chị Hai thì có nhiệm vụ kiếm củi, coi sóc việc nhà và lo cơm nước. Tôi được đặc cách trông giữ hai em nhỏ của mình. Suốt ngày tôi “tha em” đi lang thang theo bạn hết chỗ này đến chỗ khác. Ðầu trần chân đất, một tay dắt đứa em trai, bên hông bồng đứa em gái, lếch thếch ngoài nắng, mũi dãi lòng thòng. Tật ham chơi của tôi làm khổ các em rất nhiều, bị má rầy la bao nhiêu lần mà vẫn chứng nào tật đó.


Nhà tôi ở sát mặt đường. Băng qua con lộ là đường tàu xe lửa men theo dải núi không cao lắm. Ở đây mọc nhiều cây thấp, lúp xúp như sim, mua, chim chim, duối dẻ, chà là… Trái sim khi chín có màu tím sẫm thơm thơm, ngọt lịm. Trái chim chim thì khẳng kheo, lúc chín màu đỏ tươi, vị ngọt rất thanh. Trái chà là chỉ bằng đầu ngón tay út, khi chín trở nên đen bóng, vị ngọt bùi đậm đà đặc biệt. Duối dẻ chín thì múp míp, căng mọng vàng ươm.


Tôi yêu nhất một loài hoa dại có khá nhiều trên triền núi này, loài hoa mà các thiếu nữ ở đây rất thích cài lên tóc mỗi khi đi rừng. Ðó là hoa duối dẻ, cánh nó lớn hơn đầu ngón tay trỏ một tí nhưng rất dày, màu vàng phơn phớt, hương thơm đằm và lâu tan. Mùi hương hoa dẻ lạ lắm. Chẳng biết có phải bởi sự hòa hợp tuyệt vời giữa sang trọng và hoang dại hay không, mà ai cũng phải lòng mùi hương ấy. Tôi thường hái hoa dẻ đem về cho chị Hai, chị thích thú để hoa nhẹ nhàng trong lòng tay, rồi  đưa lên mũi hít hít mãi mới đặt hoa vào tủ quần áo. Chị mỉm cười nhìn tôi nói: “Cho hương thơm của nó thấm vào từng sợi vải, và hương con gái chắc sẽ dịu dàng, đằm thắm hơn khi mặc những bộ đồ có ướp hoa ấy”. Mới mười ba tuổi thôi mà chị đã biết nói với tôi như vậy. Tôi cũng rất thích thú vì ý tưởng đó, nên mỗi lần lên núi, phải tìm bằng được hoa dẻ đem về cho chị.


Ðồi núi ở đây còn một loại cây khá đặc biệt tên gọi là Găng, gai của nó vừa dài vừa nhọn, chĩa tua tủa khắp thân cành. Không may đạp phải là nhức thấu xương. Nhưng giống cây hoang này lại hữu ích vì trái rất nhiều, có thể nấu ăn trừ cơm được. Nhiều khi nhà hết tiền hết gạo, má vẫn biểu chị Hai lên núi hái trái găng về ăn thay cơm…  


Từ nhà tôi lên núi không xa lắm. Một buổi sớm nắng rực rỡ, tôi đứng dưới hiên nhà nhìn lên núi, tình cờ bắt gặp đàn chim Công đang xoè đuôi nhảy múa trên một trảng đất trống. Thật là dịp may hy hữu vì không mấy khi thấy được cảnh này. Tôi vui sướng quay vô nhà, khẽ gọi chị Hai và các em ra coi. Trẻ nhỏ ở các nhà chung quanh cũng tụ lại trước nhà tôi, mắt hướng về phía núi, đầy vẻ háo hức. Mặt  đứa nào cũng hào hứng nhưng lại căng thẳng im lặng, chắc sợ tiếng động sẽ làm chim ngưng nhảy múa. Những phút giây này quí giá và hiếm hoi làm sao. Ðàn chim chỉ năm bảy con, nhưng con nào con nấy đều to, lông đuôi rất dài. Ai cũng mê mẩn khi chim công xòe hết chiếc đuôi đủ màu sặc sỡ với những con mắt mở to bí ẩn, trông lộng lẫy và thật kỳ diệu.                                   


* * *


 Sau nhà tôi có lũy tre xanh. Giáp liền sau lũy tre là bãi cát trắng. Lúc xế chiều, bóng tre đổ xuống bãi cát mát rượi. Đám con nít trên phố lũ lượt


kéo nhau ra bãi cát, bày đủ các trò chơi dân dã. Bọn con trai thích nhất trò chơi kéo co và u tù, con gái thì xúm lại chơi ô ăn quan, nhảy tháp và chuyền nẻ…


Tôi nhớ và ấn tượng nhất là trò chơi “máy bay ném bom”. Trò này chơi vào những đêm không trăng mới càng kinh hãi, rùng rợn. Ðể thực hiện phải chuẩn bị trước ở nhà những vật dụng cần thiết. Đầu tiên phải đến nhà chú Tư làm dép, xin một ít sợi cao su cắt viền quanh dép đã thải. Sau đó ra bãi cát tìm những ngọn tre khô nằm vương vãi, rồi nắn, buộc thành chiếc máy bay có đầu, có đuôi và hai cánh đàng hoàng. Một việc rất quan trọng mà “các chuyên gia” chế tạo máy bay không thể quên là phải gắn đèn cho nó. Bây giờ những sợi dây cao su xin của chú Tư, được buộc gọn gàng vào đầu và cánh máy bay giả làm đèn, phần đuôi cũng được gắn một cái “đèn” tương tự. Còn một việc quan trọng nữa không được quên là phải buộc chắc “máy bay” vào một cần tre dài. Khi diễn trò, người chơi chỉ việc cầm cần tre chứ không phải chạm tay trực tiếp vào “máy bay”. Đề phòng trường hợp “máy bay” có thể bốc cháy giữa chừng cuộc chơi, các bạn trai thường phải làm thêm vài chiếc nữa để thay thế.


Bọn con gái chỉ có nhiệm vụ giả làm người gặp nạn, phải chạy loạn xạ thật nhanh và hoảng hốt như thật. Khi “máy bay ném bom” bọn tôi phải nằm rạp xuống đất, vẻ mặt phải kinh hãi thật sự. Ðứa nào trong bọn chúng tôi mà chẳng từng trải qua cảnh đó, vì vậy diễn lại không khó khăn gì. Gay go nhất là phải chạy thật nhanh. Mà hầu như đứa con gái nào cùng trang lứa với tôi cũng kè kè bên nách một đứa em, làm sao chạy cho nổi, nên nhất định phải suy nghĩ tìm mọi cách.


Có một giải pháp hữu hiệu và rất đặc biệt được tụi con gái đồng tình. Trời sắp tối mà trò chơi vẫn không thể bắt đầu vì “dân chúng” chưa sẵn sàng. Thế là con trai, con gái cùng hè nhau moi xới cát thật nhanh để đứa nào bồng em theo cũng có một cái hố nhỏ. Tất nhiên hố chỉ cạn thôi, và nhất là phải thật xa mé sông. Chúng tôi chỉ việc đặt em của mình vào hố rồi lấp cát đến ngực là xong. Tôi cũng không quên kiếm ít viên cuội và lá cành gì đó thả trên mặt cát cho em chơi.


Khi “dân chúng” đã sẵn sàng, các bạn trai lui về bên chiếc “máy bay” của mình, bật diêm quẹt đốt “đèn”. Những sợi cao su bắt lửa rất nhanh. Bỗng chốc một khoảng đêm bừng sáng. Cần tre dài cầm chắc trong tay, cácbạn trai chuẩn bị cho “máy bay” cất cánh. Họ còn chụm môi bật hơi thành tiếng u u u u u… ngân dài ra hiệu cho “máy bay” chuyển động. Tiếng u u đó cũng lúc trầm lúc bổng, lúc to lúc nhỏ theo đà “máy bay” chao liệng. Ðầu tiên “máy bay” chỉ là là mặt đất, sau đó mới từ từ vút lên cao. Nó cũng chao lên liệng xuống giống như thật. Khi máy bay ném bom, các bạn trai lại tạo ra tiếng “ầm! ầm!” nghe vang dội đầy uy hiếp. “Dân chúng” táo tác chạy, mắt dáo dác, la hét tán loạn, rồi giả làm người chết, bị thương nằm la liệt trên cát…


Cứ thế trò chơi náo nhiệt tiếp diễn từ bến sông phía trên chuyển dần xuống bến phía dưới lúc nào không hay. Khi thấm mệt thì cuộc chơi cũng vừa tàn. Quần áo mặt mũi đứa nào cũng đầm đìa mồ hôi. Sợ “hà bá kéo chân” nên không ai dám tắm sông ban đêm, mà về nhà tắm lén nơi khạp nước ngoài sân.


          Sau khi rửa sạch sẽ mặt mũi chân tay, tôi vô nhà chào má và chị Hai, rồi ung dung ngồi vào bàn ăn cơm. Đang so đũa chuẩn bị ăn, bỗng má nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên lo lắng:


- Em đâu con?


Thôi chết rồi!... Tôi chợt nhớ ra mọi chuyện và khiếp hãi tái hết mặt mày. Tôi run rẩy lẳng lặng rời mâm cơm, co giò chạy như bay ra bờ sông. Bình thường tôi không bao giờ dám một mình ra sông trong đêm tối như thế, nhưng tình hình này không cho phép tôi sợ nữa, ba chân bốn cẳng chạy thiệt lẹ ra tìm em. Vừa chạy miệng vừa lẩm bẩm: “Lạy trời lạy Phật, cho em con vẫn còn ngồi yên trong hố cát”.


Tôi nhào tới hố cát thật nhanh. May phước quá! Em gái tôi vẫn còn ngồi trong đó gào khóc thảm thiết. Tôi ôm em thật chặt vào lòng rồi cũng òa khóc theo nức nở.


Tôi nhìn bến sông vắng lặng, bãi cát không còn ai, những hố cát bên cạnh cũng trống không. Có nghĩa là khi ra về, các bạn tôi đã quay lại bồng em của mình. Chỉ có tôi không nhớ gì hết. Ðúng là gây ra họa lớn rồi. Tôi kéo vạt áo lên lau mặt cho em, rồi ôm siết nó vào lòng hôn hít tới tấp như để xin em tha tội.


La Hai Nam ơi! Tuổi thơ ơi! Những dại khờ của một thời trẻ nhỏ ám ảnh chập chờn mãi không rời - chiều nay bỗng ùa về, đẫm ngợp hồn tôi.


 5. Tìm cha


Cuối năm 1954, một trận lũ khủng khiếp tràn qua đất La Hai tỉnh Phú Yên. Con sông La Hai hiền hòa, trong xanh đến thế bỗng đỏ ngầu, ầm ào cuộn xoáy và hung dữ chưa từng thấy. Nước từ trên nguồn đổ về nhiều vô kể, cuốn băng đi nhà cửa, trâu bò nhấp nhô trôi trên biển nước mênh mông. Nước ngập hết cánh đồng phía La Hai Bắc, tràn cả vào phố thị. Phía La Hai Nam, tuy dân cư thưa thớt nhưng gần mé sông hơn, nước càng được thể cuốn hết nhà cửa hai bên đường. Khắp nơi mọi người hớt hải dắt díu nhau chạy lũ. Ai cũng chỉ mong một điều duy nhất là được bảo toàn tính mạng. Họ kéo nhau chạy về hướng đất cao - nơi có đường sắt, có những ngôi nhà nhỏ nằm trên các triền núi. Mọi người sẽ dựng lều, sẽ cậy nhờ tá túc tạm trên đó để chờ nước rút.


Tình hình càng khốn đốn hơn đối với gia đình tôi khi đó.


Sau khi ngừng bắn theo Hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954, ba tôi từ chiến trường được điều thẳng cùng đơn vị ra Quân cảng Quy Nhơn để tập trung, chuẩn bị xuống tàu tập kết ra miền Bắc. Má tôi vì bệnh nặng phải nằm một chỗ. Nhà nghèo quá, không có cách gì trị bệnh cho má được. Từ ngày má ốm đau, chị em tôi càng nheo nhóc hơn, nhờ hàng xóm láng giềng mới có được bữa đói bữa no. Má con tôi sống dưới một mái nhà mong manh, gió lớn một chút đã xiêu vẹo chứ nói gì đến lũ quét.


Mọi người cuống cuồng chạy lũ, chẳng ai rảnh rang mà giúp đỡ má con tôi. Nếu chạy không kịp, nhà sẽ sụp và dòng nước hung hãn cuốn băng cả gia đình tôi. Nước đã dâng tới đầu gối mà chị em tôi cứ luýnh quýnh kêu khóc quanh giường nằm của mẹ. Tôi nghe giọng bà thều thào với chị Hai:


- Dắt các em ra đường đi con, theo các cô chú chạy lên núi, mau lên.


- Không được má ơi, tụi con ở lại với má chớ không đi đâu hết.


- Mau đi con. Nước lên nhanh lắm. Không được cãi lại má! 


- Dạ, để con chạy ra đường coi có nhờ được ai không. Má nằm vầy làm sao tụi con đi cho được. Má ráng chờ, con chạy đi một chút thôi.


     Chị Hai vừa nói với má vừa khóc, rồi chạy vụt ra ngoài mưa. Nước mắt má


cũng ràn rụa… còn mấy chị em tôi thì khóc gào thảm thiết. Nước sông chảy xiết đã dâng lút chân giường mà má vẫn không ngồi dậy được.


Bỗng ngoài cửa có tiếng người xôn xao rồi họ nhào vô nhà rất nhanh, ai cũng ướt sũng từ đầu xuống chân. Có hai chú vội vàng đặt chiếc võng đay lên giường rồi khiêng má tôi nằm lên đó. Các chú xuyên đòn khiêng vào hai đầu võng rồi mỗi người đưa vai vào một đầu, nhấc má tôi lên. Tôi cõng em Kỳ bám vào tay chú đi trước, chị Hai bồng em Giang bám níu tay chú đi sau, vừa khóc vừa bì bõm trong dòng chảy cuồn cuộn dưới làn mưa xối xả.


Các chú vừa khiêng má vừa dìu chị em tôi chạy về phía núi, nơi ấy đoàn người tránh lũ đang nhốn nháo khiếp sợ, thất thần vì bỗng chốc chỉ còn hai bàn tay trắng. Má con tôi được tá túc trong một căn nhà bỏ hoang của chú Tám. Gọi là nhà chứ thực ra chỉ là túp lều rất nhỏ, thấp tè lợp bằng lá tranh đã cũ nát, muốn ra vào cửa phải cúi thấp người xuống mới được. Dù sao nó cũng ấm áp và trông khá hơn chiếc lều của người chăn vịt, vì bốn bức tường được trét bằng đất sét nhồi rơm, chứ không còn trống trải mặc cho gió thốc. Ðược vậy là đã hơn bao nhiêu người đang rét mướt dưới mưa tầm tã ngoài kia. Má tôi được nằm trên chiếc chõng tre nhỏ ở trong buồng, còn chị em tôi nằm co ro la liệt trên nền đất ướt át ở gian ngoài.


Nước dâng mỗi lúc một nhanh và dữ dội, không ai tưởng tượng nổi  sức tàn phá ghê gớm của nó. Lũy tre sau nhà tôi cao như thế mà chỉ còn vài ba ngọn phất phơ, vật vã gắng gượng nhô lên mặt nước. Hình ảnh những ngọn tre yếu ớt quằn quại, ẩn hiện trên dòng chảy đỏ ngầu cuộn xoáy, giống như những bàn tay vẫy chỉ còn chút tàn lực thoi thóp đang cầu cứu, cứ bám theo tôi, ám ảnh không rời. Nước dâng mấp mé mặt cầu xe lửa, làm cản dòng trôi của những ngôi nhà từ phía nguồn dạt xuống. Khắp mặt sông trâu bò, heo gà nổi trôi nhiều vô kể.


Nhiều người vẫn chưa hoàn hồn, đứng trên núi đăm đăm nhìn xuống dòng nước hung hăng, chẳng biết ngày mai sẽ ra sao với hai tay trắng. Tôi không thấy họ kêu trời, không la khóc, oán than, mà họ chỉ lặng im chôn chân như tượng - nén thắt và câm lặng đến dễ sợ.


Những ngày sau đó, dòng sông như dần bình tâm. Sự hung hãn lắng dịu dần, nhưng để dịu dàng trong xanh như cũ thì phải còn lâu nữa. Sự nổi giận của nó đã để lại không biết bao nhiêu vết tích tàn phá khủng khiếp. Đất phơi la liệt những hoang tàn – không ai nở được nụ cười trên môi mà chỉ lầm lũi cúi đầu, lang thang tìm kiếm, mong nhặt được chút gì còn vương lại trên nền đất. Có cách nào khác ngoài đành chấp nhận, dũng cảm làm lại từ đầu. Nhất định phải tạo ra sự sống trên mảnh đất chết này.


            Một buổi sáng, chị Hai bảo tôi vô buồng má - với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Má ra hiệu cho tôi cúi xuống thật gần để nói thầm. Tôi áp tai sát bên miệng má, lắng nghe:


- Ba đang chờ má con mình ở trạm Mục Thịnh. Con ra đó gặp ba nói là “má đau nặng lắm, không làm theo kế hoạch đã định được”. Nói vậy là ba hiểu và sẽ quay về đơn vị chứ không chờ đợi nữa; vì ba không có nhiều thời gian, con hiểu không?


- Dạ, nhưng trạm Mục Thịnh ở đâu, có xa lắm không? Ði bộ hả má?


- Trạm đó cũng cách xa nơi mình ở, phải đi bộ trong rừng, con làm được chứ?


- Con sợ lắm, lỡ gặp cọp thì chết!


- Con đừng sợ, can đảm lên vì chỉ có con mới làm được việc này cho má thôi.  Con cứ theo người lớn, thấy họ làm sao thì mình làm theo như vậy.


- Sao chị Hai không đi mà lại là con hả má? Xa xôi vậy, làm sao con đi một mình được.


- Cố lên con! Má nghĩ nhiều rồi, chỉ con làm mới được thôi. Chị con tuy mười ba tuổi nhưng cũng là lớn trong nhà, phải ở lại để chăm sóc hai em và chăm sóc má nữa. Vả lại chị con đi thì không an toàn bằng con.


- Bao giờ thì con đi hả má?


- Sáng sớm mai con sẽ đi. Nhớ theo sát người lớn. Ðường rừng nguy hiểm lắm, con không được tách ra đi một mình nghe chưa.


- Dạ, con nhớ rồi.


Tôi cứ “dạ” cho má yên lòng chứ thực ra tôi rất lo sợ. Lo đủ thứ. Một đứa nhỏ mới hơn mười tuổi vốn chậm chạp nhút nhát như tôi, gặp gì cũng sợ, quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn bên má, đã làm được gì đâu mà má tin tưởng chớ. Nhưng đúng là không còn ai ngoài tôi để má có thể sai bảo việc này. Muốn má được vui, tôi cũng phải gắng “to gan” một lần. Theo chỉ dẫn của má, nhất định tôi sẽ làm được. Vả lại, tôi cũng muốn chứng tỏ mình có ích khi má cần đến.


Sáng sớm hôm sau, với túi xách nhỏ trên vai, tôi ra nhà ga để đi xe goòng qua La Hai Bắc.


* * *


Theo lời của má, đây là vùng trắng giáp ranh giữa hai bên, có khoảng cách độ ba mươi cây số. Ranh giới phía Bắc từ Mục Thịnh trở ra. Ranh giới phía Nam từ La Hai Bắc trở vào. Ðầu ranh giới của mỗi bên đều có đồn bốt canh gác và có trạm kiểm soát nghiêm ngặt. Ðể qua mắt các trạm kiểm soát của đối phương, tôi buộc phải làm quen với một người đàn bà lớn tuổi trên chuyến xe goòng đó, và nhờ họ nhận mình làm con hoặc cháu cùng đi. May quá, có một bà đã luống tuổi nhận lời, tôi đàng hoàng thành “cháu nội” của bà, nhờ vậy mà tôi thoát qua các trạm kiểm soát được dễ dàng. Tôi nhớ việc đầu tiên phải làm sau khi rời xe goòng là vào ăn ở một quán cơm. Thấy mọi người gọi cơm dĩa – tôi cũng bắt chước làm theo. Ðang ăn thì nghe người ngồi cạnh hỏi thăm chủ quán về trạm Mục Thịnh. Tôi chú ý lắng nghe vì cảm thấy điều đó có liên quan tới mình. Người chủ quán đưa khách ra cửa chỉ tay về hướng Bắc nói: “Mục Thịnh ở phía ngoài này thôi, cứ đi thẳng hoài là tới”. Ông khách trở về bàn tiếp tục ngồi ăn nhưng tôi thì không thể, vì mừng vui quá đỗi. Vậy là con đường tìm đến với ba dễ dàng chứ có gì đâu mà má lo lắng quá. Với đầu óc non nớt của mình, tôi đã mường tượng ba đang ở rất gần đây thôi. Nghĩ vậy là làm liền. Bỏ dở dĩa cơm, tôi tức khắc đứng lên ra cửa, đi theo hướng tay người chủ quán đã chỉ.


Ði hoài đi hoài, nhà cửa hai bên đường đã thưa thớt dần. Tôi vẫn hăm hở bước vì trước mắt cứ hiển hiện hình bóng của ba. Ông sẽ ôm tôi vào lòng hôn hít, hỏi han. Tôi sẽ từ từ kể hết mọi chuyện ở nhà cho ba nghe.


Bất ngờ một cơn mưa rừng ào xuống, hạt to như hạt bắp, rơi xéo quất vào người, vào mặt tôi đau điếng. Một mình trơ trọi giữa đường rừng hun hút không một mái che, quần áo ướt bết vào người; mặt mũi, tóc tai cũng đầm đìa nước. Lạnh quá, tôi chợt nhớ đến túi xách mang theo, mới hay đã bỏ quên ở quán cơm, không quay trở lại lấy được vì đã cách một quãng đường khá xa. Đành tiếp tục đi tới bởi đã hứa với má rồi.


Bỗng trước mặt tôi xuất hiện một vực sâu, đó là đoạn đường bị mưa xói lở. Vừa sợ vừa băn khoăn không biết làm sao đi tiếp, thì tôi chợt nhìn ra một lối mòn nằm phía trên đoạn đường bị xói lở ấy. Tôi sẽ phải bám cây rừng men theo lối mòn mới sang được gờ đất bên kia. Tự nhủ như vậy nhưng nước mắt vẫn tuôn trào, nhờ vậy hai gò má tôi cũng đỡ tê cóng. Qua khá nhiều những đoạn đường bị mưa phá lở, tôi đã biết cách vượt qua một cách dễ dàng trong những lần sau.                          


Rõ ràng ông chủ quán đã chỉ tay nói: “Mục Thịnh ở phía ngoài kia, cứ đi thẳng hoài sẽ tới”, tôi đã làm đúng như vậy mà sao chỉ thấy chập chùng rừng núi và mưa xối xả. Nỗi sợ hãi và cái lạnh khiến tôi run lập cập, phải cắn răng cho khỏi đánh bò cạp. Chợt tôi nghe tiếng khóc của chính mình vang dội trong mưa… Phải chi nghe được tiếng của ba lúc này để còn biết hướng đi tiếp !...


Người ta nói cọp hay ngồi trong bụi rậm rình mồi lúc trời mưa. Biết có đúng vậy không ? Lúc này mà cọp bất thần xông ra thì tôi chết là cái chắc. Chết lặng lẽ mất xác không ai hay biết thì sẽ thế nào nhỉ ? Nhưng chắc sẽ tức lắm vì việc má giao đã không làm tròn… Tôi càng nghĩ lung tung càng khóc to dữ dội. Tiếng khóc không thấu tới đâu hết, chỉ có nước mắt chan hòa nước mưa tuôn tràn đầy mặt mũi tôi.


Mưa bỗng nhẹ hạt dần rồi tạnh hẳn. Tuy vậy, đường vẫn còn trơn trượt nhiều lắm. Bầu trời trở nên quang đãng hơn. Tôi chợt thấy trên nền trời xa xa một chấm đỏ. Ðến gần hơn thì chấm đỏ ấy lay động chậm chạp. Ồ! Là một lá cờ! Nó không tung bay được vì đẫm nước mưa. Lòng tôi reo lên: “Sắp tới nơi rồi! Ba đang ở đâu đó thôi!” Tôi đi như chạy. Dù bị té lên té xuống bao lần vẫn tiếp tục chạy. Nhưng sao lâu đến nơi quá ! Lá cờ vẫn thấy đó mà chạy hoài không tới. Tôi đâu biết cờ được treo vào một trụ cao trên đỉnh đồi, nên dù ở xa vẫn thấy, nhưng đến được tận nơi thì phải lâu lắm. Trời lại đổ mưa nhưng tôi cứ nhằm hướng lá cờ mà chạy, chạy mãi…


Rồi tôi cũng đến được chân ngọn đồi nơi lá cờ đang nặng trĩu nước mưa. Tưởng đã vui, đã hết gian nan, nhưng nào có phải. Tôi còn vượt một quãng dốc nữa mới lên tới đỉnh đồi được. Sau một hồi liên tục té lăn quay vì phải trèo lên trượt xuống bao lần trên đoạn dốc trơn như đổ mỡ - mình mẩy mặt mày tôi bê bết bùn đất. Chiếc áo lụa mới màu xanh da trời của tôi giờ trở thành vàng nâu màu đất sét. Cả cái quần đen cũng vậy. Ðây là bộ đồ mới đẹp nhất má may cho, đi gặp ba tôi mới được mặc, nhưng trông như tấm giẻ chùi nhà.


(còn tiếp)


Nguồn: Lật từng mảnh ghép. Tự truyện của Trương Tuyết Mai. NXB Hội Nhà văn, 2014. Tác giả gửi www.trieuxuan.info








[1] Dụng cụ nhà bếp giống như chảo rang, nhưng làm bằng đất sét nung.


 




[2] Giống như đôi quang của miền Bắc.




[3] Vật dụng làm bằng đất sét nung, dùng để gánh nước.




[4] Cách làm giống như món thịt rô ti.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »