Con tàu viễn dương Kilinski to lớn dềnh dàng của Ba Lan chở hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ Nam Bộ từ cửa sông Ông Đốc chạy ra biển Đông. Khi đến ngang Ô Cấp (Vũng Tàu), thuyền trưởng cảm thông tâm lý của người đi tập kết, cho tàu dừng lại một tiếng đồng hồ để được nhìn lại phần đất cuối cùng của Tổ quốc thân yêu.
Vận quân phục Vệ quốc đoàn, Nguyễn Tường Tri, chàng trai ngoài ba mươi, người nho nhã thư sinh, đứng dựa lan can boong tàu nhìn vào bờ xa xa với vẻ mặt buồn trang nghiêm. Vầng trán cao sát mí tóc xuôi về sau sắc nét đường vòng cung tròn. Đôi mày đậm lông dài cong theo bờ xương ổ mắt sâu, tròng con ngươi đen mun đầy tâm trạng. Biển vẫn là biển xanh sóng sẫm đậm màu ly hương thương đau. Biển lặng sóng mà lòng cồn cào dậy nhớ biển Cà Mau, biển Gành Hào… Nơi ấy biển xanh nhạt, lớp lớp sóng trắng hình vòng cung trông vui vẻ như những nụ cười. Chiều Ô Cấp mùa đông, trời âm u rười rượi buồn. Những dải núi, cánh rừng xanh mờ trong màn sương khói lượn đường cong lả lướt. Quanh sườn núi, con đường mảnh như vẽ màu mỡ gà, xe chạy chậm rì như rùa bò. Ôi! Nước non bao tình! Lưu luyến xiết bao. Nào ngọn hải đăng, nào dàn ra-đa, nào những đền chùa, tượng Phật, tháp chuông nhà thờ, nào biệt thự tường vôi mái son ẩn hiện trong vườn cây xanh um. Tìm người thì không một bóng mà không gian chiều hôm ngân nga buông tiếng chuông chùa quyện hồn cảnh vật ngân vào lòng người tha hương viễn xứ… Thốt nhiên anh ngâm khe khẽ câu thơ trong bài Ta đi tới của Tố Hữu: “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!/ Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt”...
Một anh bạn tướng tá phốp pháp, mái tóc rễ tre xửng ngược, vừa bước đến nghe câu thơ ca ngợi Tổ quốc, đập vai Tường Tri, thầu lẫu cặp mắt lộ bộc trực, giọng người miền biển rổn rảng:
- Rất tiếc là nhà thơ chỉ nói tới phía Bắc! Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt…
Tổ quốc còn cả phương Nam! Đấy, mầy thấy không? Chỉ một phần đất cuối cùng của Nam Bộ: Ô-cấp! Đẹp trong màu buồn thê lương! Nói về phương Nam đâu chỉ là những cái tên chung chung: Ai đi Nam Bộ, Tiền Giang, Hậu Giang... Mà tên cũng không trọn vẹn: Ai đi Nam - Ngãi - Bình - Phú… Chỉ có tỉnh Khánh Hòa được gọi tên trọn vẹn. Cảnh là tình. Nam Bộ biết bao là cảnh đẹp, trù phú phì nhiêu mà giờ đây phải giao lại cho quân thù thiệt là đau thắt ruột! Mẹ ơi! Lau nước mắt/ làng ta giặc chạy rồi!... Làng ở đâu? Giặc chạy rồi ở đâu! Giặc dồn vô miền Nam đặc nghẹt! Mẹ ơi, làng ta giặc đóng lại đồn! Mẹ tiễn con ra Bắc nước mắt chảy đầy sông!...
Tường Tri day sang vỗ vai Phước Lợi - đồng nghiệp trong tổ kỹ thuật Ban Quân giới miền Tây Nam Bộ:
– Tổ quốc bị chia cắt. Đúng là đau thắt ruột! Nước mắt chảy đầy sông! Nhưng mà mầy cũng nên cảm thông với nhà thơ. Tố Hữu đâu đã vào Nam Bộ. Nói như mầy: cảnh là tình, thì phải tả cảnh từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mới là tình trọn vẹn chắc?
Phước Lợi nện gót chân trần trên sàn tàu, muốn cãi lý mà buồn xo. Đôi bạn lặng im, mỗi người theo nỗi niềm riêng. Hồn buồn, Tường Tri hoài niệm khúc ca xưa:
“Nước non bao tình. Sao tâm hồn ta thấy xót xa…
Kìa mấy nếp tranh… đằng xa luyến bao làn khói sương.
Kìa bóng lá xanh còn vương tiếng chuông chiều buông…”
Mặt vẫn hướng vào bờ, anh nói với Phước Lợi:
– Non nước mình đẹp như vậy, vô cùng mến yêu như vậy mà giao lại cho giặc! Càng xót xa hơn là bà con đồng bào còn trong tay hung bạo như chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao! Một ông già hồi tiễn mình xuống tàu buông một câu nghe thót cả ruột gan. Ổng nói: “Đã là giặc thì lòng dạ của nó luôn muốn phá ngang. Hiệp định Genève chắc gì hai năm tổng tuyển cử được!”.
Phước Lợi gật gật mái tóc rễ tre, đôi mắt sầm xuống vẻ bực bội, hạ giọng trầm có phần hầm hừ:
– Tao có con em gái, thương thằng Minh bộ đội đóng trong nhà. Chuyện đi tập kết làm con nhỏ khóc lu bù mấy ngày sưng húp con mắt. Ông già thương con gái, báo với tiểu đội trưởng của thằng Minh, đề nghị cho hai đứa nó “động phòng”, coi như giao kết duyên nợ vợ chồng, rồi đi tập kết thì cứ đi. Tiểu đội trưởng làm sao dám quyết, đòi báo lên cấp trên. Ổng nói khỏi, lòng vòng lâu lắc; đêm nay qua cho hai đứa nó động phòng, con gái qua chửa đẻ, qua nuôi cháu ngoại. Rồi ổng bảo mẹ con nó làm thịt vài con gà nấu cháo, mua can rượu đế năm lít mời tiểu đội cùng cả nhà nhập tiệc! Tiệc vui, chan nước mắt buồn! Ôi! Cái cảnh sinh ly thật là éo le tức tưởi muốn bể ngực!
– Nghĩ lãnh đạo cũng khéo động viên: “Đi thắng lợi - Ở vinh quang”. - Tường Tri chau đôi mài rậm vừa dài, khép cặp mắt lá răm ưu tư - Thật ứa nước mắt phải chia tay mấy anh chị em được phân công ở lại! Mấy anh chị phải giấu lý lịch và giấy sinh hoạt Đảng cuốn trong ống trúc; lủi thủi quá giang ghe xuồng bà con lén lút trở về địa phương!...
Phước Lợi lại nện gót chân trần trên sàn tàu, chỉ tội nghiệp cái gót chân. Cảm thông đồng chí, đồng đội những người ở lại, anh gằn gằn giọng thổ ngữ miền Tây:
Rồi lặn trong lòng địch mình ên! Ăn bờ ngủ bụi mình ên! Tâm trạng ôm một bầu cũng chỉ mình ên chớ còn biết thở than cùng ai?!
Còi tàu chợt rúc lên ngân dài trên biển chiều sẫm màu xanh lục. Tiếng còi dần tan dư âm trong phút giây ngậm ngùi chia xa mảnh đất Nam Bộ thương yêu. Một tiếng đồng hồ sao mà ngắn ngủi! Mọi người rời boong tàu lục tục xuống khoang, ai về chỗ nấy lặng lẽ nằm sắp lớp trên dãy sạp dài hăng hắc mùi gỗ thông, ken khít nhau như cá mòi.
Tết Ất Mùi - 1955 diễn ra trên con tàu lênh đênh ngày đêm chạy ra biển Bắc. Bao nhiêu con người, ăn tết chỉ có ăn bánh mì khô, cá hộp, nước bình toong! Sự thiếu bánh tét, bánh phồng, dưa cải thịt kho rệu quen thuộc, mới là trăm nhớ ngàn thương mấy má, mấy em Cà Mau, Năm Căn, Cái Nước, Cái Tàu, Biển Bạch! Rồi bao nỗi âu lo bà con sẽ bị giặc trả thù, bầm mình đấu tranh sống chết với giặc thù!...
Con tàu chạy năm ngày đêm. Được nhìn thấy hai ba lần qua mặt ngược chiều tàu Mỹ hay tàu nước nào đó chở khẳm đừ đầy nghẹt đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Đứng trên boong tàu bên nầy nhìn sang, Phước Lợi giọng rổn rảng mà đa cảm:
– Chắc là tàu bên đó bà con miền Bắc cũng tuôn nước mắt chia ly ngập tràn như bên Nam ta!
– Không như bên Nam ta đâu? - Tường Tri cải chính - Bên ta không có dân đi tập kết. Dân ở lại, sanh ly mới là đoạn trường! Bên họ dân họ di cư cả gia đình. Binh lính, sĩ quan cũng di cư hết cả gia đình.
– Sao biết?
– Mấy anh Trung ương ở Hà Nội vô truyền đạt và hướng dẫn thi hành hiệp định Genève, cho biết: Có bàn tay của đế quốc Mỹ cài gián điệp phá hoại hiệp định, phá hoại miền Bắc. Chúng bày trò ma giáo tung tin tượng Đức Mẹ khóc; tuyên truyền Việt Minh trả thù; lừa mị, xúi giục đồng bào Công giáo và đồng bào lương bài Cộng, cưỡng ép dân lương thiện, thành cuộc di cư rầm rộ. Đặc biệt bạn mình, ông Trần Mạnh chánh trị viên tiểu đoàn 308 nghe tin mật tiết lộ: Tay Lênh-đênh (Edward Lansdale) chuyên gia tình báo CIA nổi tiếng, kiêm đạo diễn chánh trị, tổ chức lưới gián điệp xâm nhập miền Bắc. Trò lừa bịp trên chính là mưu thâm của Lênh-đênh. Ngoài chuyện mị dân, hắn còn cho sản xuất loại bánh than chạy đầu máy xe lửa, bên trong cài chất nổ cực mạnh, tung tay chân mang đi trộn lẫn vào các kho than, các trạm xe lửa ở miền Bắc. Rất may, một công nhân mình phát hiện, bắt được thủ phạm, phăng ra diệt tận ổ mới không xảy ra vụ nổ nào.
– Chà! Điệu này cách mạng miền Nam đây rồi còn mệt với Mỹ dài dài!
– Hội nghị Genève phiên cuối cùng, đại biểu Mỹ… bỏ ra về không dự, để khỏi ký hiệp định. Âm mưu của đế quốc Mỹ thâm độc phá hoại từ trong cuộc hội nghị, đến chừng thi hành hiệp định còn nguy hiểm bực nào?!
– Tao không ngờ Tường Tri mầy biết nhiều chuyện độc vậy!
– Cũng ông Trần Mạnh được triệu tập cùng với một số cán bộ cấp cao các tỉnh học chỉnh huấn tình hình nhiệm vụ mới ở rừng U Minh do Trung ương truyền đạt. Ổng nói về phương châm sách lược của miền Nam là kiên trì đấu tranh chính trị theo pháp lý hiệp nghị Genève. Nhưng đặc biệt có tin “học phụ” thú vị nói gọn là: Cuộc chiến tranh Đông Dương của thực dân Pháp, do ngân sách Mỹ chi tám chục phần trăm. Bản tin mật khẳng định: “Pháp đánh thuê cho Mỹ!”. Phương ngôn Pháp chứng minh: “Trong bữa tiệc, ai chi tiền, người đó là chủ!” Nghe vậy, biết vậy đi, tin sự thật vậy đi, đừng tra hạch xuất xứ mệt lắm!
– Chà! Đế quốc Mỹ mới nhúng tay vào mà… tình hình đã gay go rồi ha!
– Suy gẫm khẩu hiệu: “Đi thắng lợi - Ở vinh quang”, như chúng mình đi đây là nhiệm vụ xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng quân đội chánh qui hiện đại để đối phó tình hình xấu xảy ra. Cho nên dù thắng lợi mới nửa nước, nhưng cực kỳ quan trọng. Miền Bắc là hậu phương lớn, chi viện đắc lực cho miền Nam. Đặc biệt tới đây Chánh phủ mình từ Việt Bắc về tiếp quản Hà Nội, với thế mạnh của pháp lý quốc tế từ Cách mạng tháng - 1945 thành công. Hà Nội trở thành Thủ đô với vai trò trung tâm quyền lực, phát huy mạnh mẽ thể chế, đối đầu lịch sử giữa Việt Nam và đế quốc Mỹ cùng các phe tham chiến. Còn miền Nam, nửa nước bị tạm chiếm, dân ở lại ăn chịu xiềng gông của giặc thù kềm kẹp. Cán bộ ở lại thì lặn trong dân, bí mật lãnh đạo dân đấu tranh chánh trị với hai bàn tay không! “Ở vinh quang” là chỗ đó đó, Phước Lợi ơi! Là ở chỗ anh dũng trân mình thi gan cùng quỷ sứ!
– Ôi! Cái vinh quang trời đày! Dù không rơi vào mình, rơi vào đồng bào, đồng chí mình, nhưng chính mình cũng tức anh ách như bò đá!
Phước Lợi nghe nóng mũi, nện gót chân trần trên sàn tàu gang sắt đụi đụi hầu như không biết đau…
***
Đến biển Sầm Sơn, tàu Ki-lin-ski neo ngoài xa. Đồng bào Thanh Hóa chèo thuyền hăm hở ra rước bộ đội miền Nam vào bờ. Nhìn bà con mặc toàn nâu, đàn bà con gái mặc váy, đầu bịt khăn mỏ quạ toàn đen, Tường Tri trông lạ mắt mà lòng càng cảm thương cái vẻ lam lũ, nhọc nhằn! Lên bờ nhìn lán trại san sát làm anh ngợp mắt. Nhìn quân đông nghìn nghịt chưa từng thấy, anh nghe lòng dậy lên niềm tự hào, niềm tin thắng lợi.
Mấy ngày ở trong khoang tàu buôn Ba Lan, quân nằm sắp lớp như cá mòi hộp, rít róng hôi hám. Khi lên bờ, thấy ao hồ bên lán trại nước trong leo lẻo Tường Tri mừng húm, ỷ y sức trai tráng, hô nhau nhảy xuống tắm liền. Ối cha! Lạnh queo râu, tím da, thấu xương, trèo lên không hay gì kịp. Một cảnh tượng thật buồn cười. Các chàng lính trẻ Nam Kỳ chỉ độc quần đùi, răng đánh bò cạp lụp cụp vừa nhảy cà tưng vừa la: “Ôi! Rét độc mùa đông đất Bắc, đánh đòn phủ đầu Bộ đội miền Nam!” Mấy cô gái Bắc “chị nuôi” đi rửa rau, bụm miệng cười khúc khích: Bộ đội miền Nam mình đồng da sắt các cậu ơi! Lát sau, bắt bén phái đẹp, các chàng trai lân la phụ bếp để được sưởi ấm và trò chuyện cùng mấy cô gái Bắc líu lo như chim. Con gái mà gọi nhau xưng hô cậu tớ, nghe thiệt ngộ! Rồi những ngày cơm sốt canh nóng, món lạ su su, cải bắp, cà chua su hào xào thịt; lùa một hơi ba chén sắt đầy vun. Tường Tri hết sức xúc động. Đêm ngủ trên sạp lồ ô lót rơm, Tường Tri nằm kề Phước Lợi, đôi bạn tâm giao tỉ tê: Thấy cảnh đón tiếp quy mô, ân tình ruột thịt, nuôi quân cùng cán bộ miền Nam tập kết ra ăn ngon, mặc ấm, chu đáo mọi bề… quá sức tưởng tượng, xúc động vô cùng! Thanh Hóa dân đang đói, thấy cảnh bưng rổ đi hái rau má cùn mằn theo bờ ranh mà ứa nước mắt! Chánh phủ mới về tiếp quản Thủ đô còn vô vàn khó khăn.
Ở Sầm Sơn nghỉ mấy ngày, cũng là lần đầu tiên bộ đội miền Nam được thưởng thức nghệ thuật chuyên nghiệp, hiện đại, hấp dẫn của đoàn Văn công Tổng cục Chính trị biểu diễn. Các điệu múa: Hái chè bắt bướm, Múa sạp Tây Bắc; hoạt cảnh Hò kéo pháo, tốp ca Giải phóng Điện Biên… khá là ấn tượng.
Sau thời gian nuôi quân lại sức, một cuộc chuyển quân đúng là trùng trùng quân đi như sóng. Ở chặng giữa, trông dài mút mắt phía trước là băng cờ biểu ngữ ngang trời; trông dài mút mắt phía sau một đơn vị nào đó cũng băng cờ biểu ngữ ngang trời. Quân được bố trí trật tự theo kế hoạch, chia về đóng nhà dân hầu khắp các huyện: Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Nông Cống, Thọ Xuân… Bà con Thanh Hóa lại một phen nữa thể hiện hết tấm lòng ưu ái bộ đội miền Nam, nhường nhà ở, giường ngủ, hạ ván cửa kê sạp, bện ổ rơm chống rét…
Ở nhà dân mà không hề thấy họ ăn cơm. Phước Lợi nghe tiếng thì thầm trong buồng, tò mò lén dòm qua kẹt vách ngó thấy, kéo Tường Tri ra hè thủ thỉ: “Trời ơi! Thấy mà ứa nước mắt mầy ơi! Bữa cơm gia đình chỉ là rau má nấu với cám heo!” Nghe vậy, hai người chuyền tai anh em, bảo nhau, ăn cơm lưng lưng rồi bới một chén đầy vun đem về mời gia đình. Nhưng nài nỉ lắm gia đình mới chia nhau ăn. Chuyện nhỏ thành lớn, những nhà không có bộ đội đóng xầm xì ganh tỵ! Chính quyền địa phương phản ảnh lên trên. Quân đội chủ trương bớt tiêu chuẩn bộ đội từ 8 xuống 7 lạng/người/ngày, gom lại trợ giúp đồng bào; thông qua địa phương phân phối. Tình cảnh xúc động, ghi dấu ấn sâu sắc trong tâm trí Tường Tri, đặc biệt là bà con Thanh Hóa.
an quân giới miền Tây Nam Bộ chuyển về Hà Nội, được đưa lên Hà Đông học chỉnh huấn. Gần mãn khoá học, một hôm có mấy đồng chí quân đội đến, không rõ đã nghiên cứu lý lịch tuyển chọn hồi nào, điểm danh ngay một số cán bộ từng trải các chiến trường tiêu biểu cho cả ba miền đất nước. Một cơ duyên đến thật bất ngờ, trong số đó có Nguyễn Tường Tri, Võ Phước Lợi cùng vài anh em trong Ban quân giới miền Tây. Số cán bộ nầy được đưa về tiếp quản và xây dựng sân bay Gia Lâm. Bấy giờ sân bay giặc Pháp rút đi đập phá tan tành, nhà để máy bay trống trơn. Toàn bộ nhà cửa đổ sập. Đường sá lở lói. Rác rưởi tràn ngập. Đường băng hư hỏng, ngổn ngang những thùng phuy cát đến mức cái nào cũng bị chọc thủng. Chỉ còn vẻn vẹn một chiếc… xe cứu hỏa. Cái cảnh nầy nhìn thấy ai nấy hỡi ôi ngán ngẩm! Nhưng rồi được lãnh đạo động viên coi đây là “gia tài đầu tiên” hết sức nghèo nàn của ngành hàng không Việt Nam. Nghĩ mà thương đất nước còn nghèo, phát huy bản chất quân đội, ý chí tuổi trẻ tận tâm, tận nhân lực, tận dụng phế thải, xây dựng nhà cửa, xây dựng đường băng, tu sửa đường sá, dọn dẹp vệ sinh. Hơn một năm ròng rã, với sự lãnh đạo của quân đội, anh em chiến sĩ cả ba miền chung sức, sân bay Gia Lâm được tái sinh. Chính có cơ sở tạm ổn định, năm 1956, Trung Quốc viện trợ cho ta 5 máy bay: 3 chiếc MI-2 của Liên Xô, 2 chiếc Aero-45 của Tiệp Khắc và đưa chuyên gia sang huấn luyện; mở lớp đào tạo cấp tốc về kỹ thuật hàng không như: kiểm tra trước và sau bay, kiểm tra thân và cánh máy bay, động cơ máy bay, điện tử máy bay, vô tuyến điện… Nguyễn Tường Tri, Võ Phước Lợi được chọn cùng học lớp nầy.
Năm 1957, Bộ Tư lệnh không quân - bấy giờ gọi là Ban nghiên cứu về sân bay-không quân, tuyển chọn bảy cán bộ của sân bay Gia Lâm để sang Trung Quốc học chuyên về “kỹ thuật động lực hàng không”, trong số đó có Nguyễn Tường Tri, Võ Phước Lợi và mấy anh em cùng Ban Quân giới miền Tây.
Qua đến Bắc Kinh, lúc đó đang xây dựng sân bay, nên đoàn sĩ quan Việt Nam được đưa bằng xe lửa lên Thiên Tân, một thành phố công nghiệp, lớn bằng hai Sài Gòn, có sân bay, vừa là trường Hàng không. Điều làm Tường Tri thú vị là khi xe lửa chạy qua Lư Cầu Kiều, được người hướng dẫn cho biết đây chính là nơi phát xít Nhật gây chiến với Trung Quốc hồi năm 1937, anh chỉ biết qua báo chí từ hồi nhỏ. Hôm nay được nhìn thấy tận mắt cảnh quan cùng di tích cổ xưa, gợi cảm bồi hồi xa xót về một cuộc nhân loại chém giết tương tàn!.
Đoàn chỉ có bảy người, vậy mà khi đến nơi được đón tiếp rất nồng nhiệt. Cổng vào có băng-rôn vải đỏ, chữ trắng to hai thứ tiếng Hán và Việt: “Hoan nghênh và chúc mừng các đồng chí Việt Nam đầu tiên sang Trung Quốc học hàng không”. Đại tá Vương Dũng, Tư lệnh sân bay nồng hậu bắt tay từng người. Ông có vóc người cao to khỏe mạnh, làn da trắng hồng hào, nhìn như người Âu. Tâm trạng đang bỡ ngỡ, lạ cảnh, lạ người lại bất đồng ngôn ngữ, đột nhiên Tường Tri nghe tiếng Việt Nam mà lại là giọng Sài Gòn nữa, hỏi: “Các anh có ai người Sài Gòn không vậy?”. Anh hết sức bất ngờ, mừng quýnh reo lên:
– Có! Có! Tôi quê Sài Gòn, ở Tân Định đây! - Tường Tri đáp, bắt tay chị vừa hỏi rất chặt - Trời ơi! Xa xứ mà nghe giọng nói đồng hương nó khoẻ liền. Vậy chị quý danh gì xin đồng hương cho biết.
– Em tên là Hiền, quê ở Sài Gòn ở chợ Tân Định. - Đó là một thiếu phụ trẻ đang vui vẻ bắt tay từng người, vừa líu lo – Em vừa là dâu của đơn vị không quân vừa là chủ nhà. Rất hân hạnh được tiếp đón, chăm sóc đoàn sĩ quan Việt Nam.
Đoàn bảy người được xếp ở chung một nhà, cứ hai người một phòng thật lịch sự, đầy đủ tiện nghi. Sau khi sắp xếp nơi ăn nghỉ cho các anh, chị Hiền cho biết:
– Ngày chủ nhật có chế độ đi thành phố Thiên Tân học khiêu vũ. Có xe đưa rước, đài thọ ăn trưa. Còn ở đây có tập trượt băng. Ai muốn chơi môn nào thì đăng ký với em đây.
Trong đoàn ai nấy đăng ký đi Thiên Tân học khiêu vũ, riêng Tường Tri đăng ký trượt băng. Chị Hiền đưa anh đến giới thiệu với đồng chí cán bộ phụ trách thể dục thể thao sân bay. Vốn mau mồm vui tính chị Hiền tán tụng:
- Thầy dạy trượt băng đây là đồng chí Vương Việt La tiểu thơ, con gái đầu của Vương tư lệnh. Cô được hưởng thụ huyết thống của mẹ là người Nga xinh đẹp như tiên nga, lại còn được thừa hưởng truyền thống của cha từng chỉ huy Sư đoàn kỵ binh Giải phóng quân Trung Quốc thời kháng Nhật nên từ nhỏ đã phi ngựa rất tài.
– Tâng bốc em chi lắm, chị Hiền ơi!- Việt La từ tốn.
– Thôi, bây giờ tôi giao đồng chí Tường Tri dân Sài Gòn của tôi đẹp trai hết ý cho đồng chí đó, để còn lo cho mấy anh đi Thiên Tân học khiêu vũ. – Nói rồi chị Hiền thoăn thoắt lui ra.
Tường Tri lại ngẩn ngơ! Tưởng đâu cũng giới mày râu… hóa ra là… Coi đài các tiểu thơ vậy mà là “thầy” dạy trượt băng sao? Mang hai dòng máu Á - Âu, Vương Việt La - một tuyệt sắc giai nhân! Cô khoảng 25 tuổi, người thon thả mảnh dẻ, da trắng mịn màng, mày cong bán nguyệt, tóc bom-bê đen mướt, đặc biệt đôi mắt xanh trong ngần làm Tường Tri mê mệt. Tiếng Bắc Kinh mới học trước khi sang Trung Quốc, giọng còn bập bẹ, anh giãi bày:
– Chúng tôi ở xứ nóng không có băng, xem hát bóng thấy người ta trượt băng mà hằng mơ tưởng. Không ngờ sang đây lại gặp cơ duyên…
Đôi mắt xanh Việt La lung linh, chăm chú nhìn Tường Tri từ diện mạo khôi ngô đầy đặn, đến tướng tá cân đối khỏe mạnh. Ấn tượng đối với cô nhất là cặp chân mày vừa đậm vừa dài, đôi mắt đen mun vẻ rụt rè mà e ấp trữ tình. Con mắt nghiệp vụ của cô nhìn chân anh thấy hơi nhỏ, khẽ mím làn môi hồng rất duyên nói:
– Chân đồng chí hiện trong kho không có giày vừa cỡ. Nhưng dễ thôi! Để cho thợ đến đo chân, đóng cho đồng chí đôi giày mới.
Hôm sau nhận được đôi giày trượt băng mới toanh, Tường Tri mừng rơn, cứ vuốt ve cặp lưỡi thép dưới đế mà lần đầu tiên mình sở hữu. Anh nôn nao háo hức trông cho mau đến ngày chủ nhật. Đêm thứ bảy anh thao thức mãi; chưa năm giờ sáng anh đã thức dậy lục đục chuẩn bị ra sân. Cùng chung phòng, Phước Lợi càu nhàu: “Coi bộ nôn gặp mặt người đẹp dữ rồi đó! Trời chưa sáng mầy ơi!”
Đây là sân băng thiên nhiên, mặt hồ bề rộng chừng 1 km, chiều dài cỡ 3 km, mặt băng dợn sóng chớ không bằng phẳng như sân trượt băng nghệ thuật. Quanh hồ, hàng cây tầm tầm xen cùng cổ thụ trụi lá mùa đông trơ cành buồn hiu.
Thầy dạy vừa đến, lên tiếng rất trong trẻo:
– Chào đồng chí Tường Tri! Đồng chí ra sân sớm thế! Chờ đã lâu chưa?
Tường Tri dí dỏm:
– Không lâu! Chỉ mới sáu mươi phút thôi!
Việt La mỉm cười tế nhị, xin lỗi, lẹ làng chọn chỗ trải tấm bạt để túi đựng thức ăn, rồi rót đưa Tường Tri uống cốc rượu rất thơm. Rượu vừa khỏi cổ ấm ran cả người. Cô cho khởi động rồi mới cho cởi áo khoác, chỉ còn mặc bộ đồ thể thao bằng len bó sát, rất nhẹ và ấm. Cách buộc giày, cũng như lý thuyết từng động tác, cô hướng dẫn tỉ mỉ. Rồi cô trượt mẫu, uốn lượn uyển chuyển, có lúc nghiêng người tưởng đâu ngã té bỗng bật đứng dậy thật nhẹ nhàng. Mặc đồ bó sát, trông thân hình Việt La nổi lên sắc nét vòng eo, đường cong, bộ ngực căng đầy làm anh mải mê chiêm ngưỡng mà không thu nhận được gì về động tác kỹ thuật. Đến lúc cô dừng lại, bảo anh ra trượt thử thì anh lóng ca lóng cóng, té nhào lăn chiêng. Cô phải hướng dẫn lại từng động tác. Đến trưa thầy trò mệt nhoài. Trên băng mà áo đẫm mồ hôi, vào dùng bữa mới hay đói và khát nên ăn uống ngon lành. Bấy giờ thân nhiệt bừng lên gương mặt Việt La trắng hồng. Đặc biệt đôi mắt xanh màu biển lặng sóng kín đáo liếc xéo chàng trai Sài Gòn làm Tường Tri mê mẩn. Ôi đôi mắt đa tình! Anh cũng tự cảm nhận mình cũng không đến nỗi nào, da trắng xứ lạnh ăn nắng Nam Bộ đỏ hồng.
Vốn sáng dạ, Tường Tri thu nhận bài học chuyên môn nhanh, học trượt băng cũng tiến bộ. Xong chủ nhật tuần đầu, lại trông mau đến chủ nhật tuần sau. Rồi chủ nhật tuần sau nữa. Bắt nhãn trong tình ý, như thành ngữ: tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Những ngày mùa đông Thiên Tân rét buốt mà ấm áp. Những buổi tập trượt băng lướt trên sóng dợn mà êm đềm. Ban đầu anh hay bị vấp, ngã té, được cô giáo trượt theo sát bên, đưa tay đỡ gọn. Bắt bén sinh nghịch ngầm, anh quyết tập sao cho thành thục nhanh để “lấy le” với người đẹp, đến đổi mấy lần đang đêm anh lén ra sân tập một mình, khiến trực ban sân bay phải kêu vào ngủ để giữ nghiêm điều lệnh. Không lâu, một buổi tập tiếp sau Tường Tri phô diễn mấy vòng lượn số 8 uyển chuyển làm Việt La tròn mắt kinh ngạc, vỗ tay reo mừng. Anh chàng hứng chí trượt sâu về phía ven hồ, khiến cô giáo phải trượt đuổi theo. Biết nàng sắp đến gần anh ngoái nhìn làm bộ mất thăng bằng loạng choạng rồi ngã té. Việt La nhanh lẹ chìa tay ra đỡ. Anh thả mình luôn cho nàng phải ôm ghì anh vào lòng. Bốn mắt sát kề giao cảm. Trái tim nhịp đập rộn ràng. Khi biết mình ngộ nhận, Việt La e lệ đỏ bừng mặt, đấm yêu chàng những quả đấm lậm vào cõi mộng. Từ buổi ấy, cái điệu tâm hồn khởi động, lửa tình bén đượm. Việt La thường đến phòng anh trò chuyện thân tình. Phước Lợi cùng phòng cũng tâm lý, bèn sớm lui ra đi Thiên Tân tập khiêu vũ.
Quan hệ chính đáng, thấm nhuần lễ giáo Phương Đông, minh bạch một biến chuyển tình cảm quan trọng, Việt La thỏ thẻ với mẹ về anh sĩ quan Việt Nam:
– Tường Tri là con người có tiểu sử hay lắm, mẹ ơi!
Mẹ hỏi:
– Hay là thế nào?
Việt La hết lời ca tụng phẩm hạnh của anh, dám từ bỏ cuộc sống gia đình bình yên, dám từ bỏ tiền đồ xán lạn, bứt ngang nửa chừng trường Polytechnique Supérieure Sài Gòn, vâng lời cha lãnh sứ mạng cao cả theo Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng… Mẹ lại hỏi:
– Vậy con và Tường Tri đã yêu nhau chưa?
– Chúng con yêu nhau song cả hai đều biết giữ gìn đức hạnh.
Mối cảm tình chuyển sang mẹ, bà khen và bảo Việt La:
– Vậy hôm nào con xin phép cha, mời Tường Tri về nhà ta dùng cơm để mẹ coi mắt chàng trai Việt đó như thế nào mà con ca ngợi dữ vậy?
Đại tá Vương Dũng vốn có thiện cảm sâu sắc với cuộc kháng chiến của Việt Nam, ái mộ Hồ Chí Minh, nghe mẹ con trò chuyện, lên tiếng xác minh lời con gái, khen Tường Tri học kỹ thuật hàng không tiến bộ nhanh, đúng là anh chàng có kiến thức cơ bản, thông minh.
Hôm ấy ngày cuối tuần, anh em đi thành phố Thiên Tân khiêu vũ. Tường Tri nằm trùm chăn đọc sách. Như thường khi, Việt La đến phòng Tường Tri, cửa để mở, từ ngoài đã lên tiếng:
– Tuyết rơi đầy sân băng, nghỉ tập buồn phải không “đồng chí” Tường Tri?
Anh vùng ngay dậy, bước ra cởi áo khoác cho Việt La, đáp:
– Nhờ cô giáo dạy giỏi, trượt ngon lành rồi, đâu có buồn gì.
Co ro rụt vai, xoa hai tay vào nhau, Việt La ngúng nguẩy:
– Anh lại tâng bốc em như chị Hiền nữa rồi! Em về có giới thiệu anh với mẹ, mẹ bảo mời anh đến nhà dùng cơm. Nhất định là anh bằng lòng đi rồi.
Kêu bằng “anh” xưng “em” ngọt ngào thay cho thường ngày gọi đồng chí, lại khéo nói nữa, Tường Tri nở ruột nở gan, trào lòng thương yêu. Anh âu yếm khoác áo cho Việt La rồi cho mình. Đôi tân tình nhân cắp tay nhau đi trong tuyết rơi trắng xóa. Tuyết bám từng chuỗi hạt như kim cương trên mũ rung rinh. Tuyết đậu trên cành cây trụi lá trông như những bông hoa sứ óng ánh đẹp lạ lùng. Tuyết phủ lên mái nhà chảy lòng thòng xuống thành hàng những giọt tuyết đông mảnh như giọt nước buồn hiu im lìm không rơi. Trời Thiên Tân mùa đông lạnh lẽo mà tình yêu lứa đôi thì bén lửa ấm nồng.
Bữa cơm gia đình nhà Vương Tư lệnh diễn ra vui vẻ ấm cúng. Người vui nhứt có lẽ là Vương phu nhân. Bà là người Nga, thân hình mảnh mai thon thả, mái tóc bạch kim sáng ánh, mắt xanh lung linh. Thảo nào Việt La giống mẹ mắt xanh xinh đẹp, duy mái tóc bom-bê đen huyền của cô giống cha. Bà Vương giỏi tiếng Pháp, từ khi lấy chồng về Trung Quốc ít có dịp giao tiếp tiếng Pháp với ai, nay được trò chuyện với Tường Tri, lại nói tiếng Pháp giọng Paris rất chuẩn nữa nên bà rất thích và càng quí mến anh. Bà khen Việt La có con mắt biết nhìn và bộc trực bình phẩm: “Tường Tri có đôi mắt đen rất đẹp, độc đáo đôi mày rậm và dài, hài hòa tính cách giữa cương và nhu”.
Chàng trai Việt Nam anh tuấn chinh phục lòng mến mộ của cả gia đình Vương Dũng, từ Việt La con gái đầu thì khỏi nói, đến ông bà Vương, em trai kế, em gái Ca Ly thứ ba. Bà ân cần hỏi thăm gia cảnh Tường Tri.
Anh vui vẻ trả lời:
- Cha cháu quê Sài Gòn, mẹ Long Xuyên. Ổng làm công chức cho Pháp trong ngành giao thông công chánh…
Qua vài lần mời cơm Tường Tri, một hôm vui miệng bà Vương ướm hỏi:
- Việt La và đồng chí Tường Tri yêu nhau, gia đình chúng tôi cũng thấy xứng đôi vừa lứa. Vậy đồng chí muốn ở rể Trung Quốc không?
Trước mối tình đẹp như mơ, câu hỏi làm Tường Tri “hoang mang thiên địa”, cảm động muốn trào nước mắt, trả lời lúng túng:
- Thưa con hết sức cảm tạ hai bác có lòng thương. Việc nầy con khó trả lời. Bởi Việt Nam còn đang chiến tranh.
– Không sao. Hỏi vậy thôi. - Bà Vương ưu ái nhìn chàng trai Sài Gòn - Như là bác đây với ông nhà. Hồi sư đoàn kỵ binh của ông đóng gần biên giới Xô - Trung, bác là bác sĩ quân y của Hồng quân Liên Xô, ban đầu quan hệ qua lại là tình hữu nghị, lần hồi rồi trở thành tình yêu tự bao giờ. Vậy là phận gái theo chồng, bác thành dâu Trung Quốc. Bây giờ, cũng thế. Hay là cho Việt La về làm dâu Việt Nam, đồng chí muốn thế nào?
Tường Tri liếc nhìn Việt La bắt gặp đôi mắt xanh biểu đồng tình, lòng bồn chồn day dứt muốn mở lời hứa ra, nhưng vẫn nói:
– Việt Nam còn đang chiến tranh, rồi con sẽ trở về miền Nam…
Yêu nhau chính đáng, anh cũng mặc cho Phước Lợi chung phòng nhắc nhở: “Cẩn thận, đừng làm bố sớm rồi không về nước được đâu!”. Nhưng trước mối tình sâu nặng của Việt La và gia đình, Tường Tri có thể tự quyết và thu xếp cho tròn nhiệm vụ với Tổ quốc… Nghĩ còn đường hy vọng, anh dứt khoát không nổi, trả lời loanh quanh… Một hôm, Việt La đến phòng Tường Tri. Cũng đã quen mặt, cô nghiêng người duyên dáng chào Phước Lợi đang ngồi ở salon, tiện tay đặt hộp bánh lên bàn rồi xoay người cho Tường Tri cởi áo khoác. Cũng được biết Phước Lợi từng cảnh báo Tường Tri: Đừng làm bố sớm… cô điềm nhiên bày bánh lên khay, mỉm cười, líu lo khoe tài: “Bánh em tự tay làm đấy. Mời đồng chí Phước Lợi, anh Tường Tri ăn cho vui! Xin mời!” Bàn tay trắng nõn với những ngón thon dài mũi viết xinh xắn, cô lấy bánh ra trao tận tay hai người, vừa thuyết trình: “Bánh nầy tên là hạnh nhân, em thích làm bánh nầy như nhắc nhở mình làm người có đức hạnh. Ngoài nguyên liệu chính em điểm thêm nho hộp Hồng Kông”. Lấy một cái bánh khác, cô líu lo: “Còn bánh này là Choux à la crème, em nói tiếng Pháp không chuẩn, anh đừng cười em nghe!”. Tường Tri nói đỡ người yêu: “Tiếng Việt gọi là bánh sữa nhân kem”. Việt La ngon trớn còn giới thiệu tài khéo của mình mấy món bánh nữa rồi cùng ăn hồn nhiên. Điểm tâm bánh, cà phê xong, Phước Lợi ưu ái nhìn Việt La:
– Rất cám ơn nhà nữ công tài hoa! Từ khi sang Trung Quốc đến nay tôi mới được ăn một bữa bánh thiệt ngon.
– Thôi đồng chí ơi! - Vừa thu dọn, Việt La ngắt lời - Hình như các anh chị Việt Nam thường hay tâng bốc người ta lắm? Từ chị Hiền, anh Tường Tri, giờ tới đồng chí Phước Lợi!
– Tâng bốc chính xác, chân tình thì càng tốt chớ sao. - Phước Lợi nghiêm giọng - Thường món gì làm công nghiệp, đại trà là thua thủ công. Như bánh hạnh nhân điểm nho hộp đúng là hấp dẫn...
– Rồi! Lại chỉnh huấn khéo đừng làm bố sớm nữa! - Việt La pha giọng đùa.
– Nhắc nhở đừng sớm thôi! - Phước Lợi cười lớn, thanh minh - Chớ còn làm bố đàng hoàng, chính đáng thì… tán thành cả hai tay.
Tường Tri vuốt lời bạn:
– Đồng đội chí cốt nhắc nhở mà cũng tâm lý lắm, mỗi khi em đến ảnh kiếm cớ rút lui. Mét chuyện anh và em yêu nhau lên Đại sứ quán Việt Nam là đồng chí Bí thư chi bộ của các anh. Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh đã viết thư gửi Đảng ủy trường Hàng không Thiên Tân, xin phép cho Tường Tri về Bắc Kinh để kiểm điểm. Nhưng khi gặp, Bí thư Đại sứ quán hỏi qua cho tường tận rồi cũng chỉ nhắc nhở thôi. Sau đó cho ăn bữa cơm thiệt ngon. Đại sứ quán mà!
Bấy giờ Phước Lợi đứng lên, mặc áo khoác, vừa nhìn Việt La cười hiền, chưa kịp nói gì cô đã chặn lại:
– Đồng chí lại định tiếp diễn tặng món quà tâm lý chớ gì?
– Không! Không! - Lại giọng cười ồm ồm - Tôi cũng học tập Tường Tri đấy. Bấy lâu nay là tôi đi Thiên Tân học khiêu vũ. Nếu Tường Tri “ẵm” được thầy trượt băng thì tôi cũng “bồng” được thầy khiêu vũ. Bây giờ tôi đi khiêu vũ đây!
Hòa theo giọng cười Phước Lợi ồm ồm, Việt La phát lên một chuỗi cười trong trẻo, rung cả mái tóc đen tuyền:
– Thật vậy sao!
– Tình yêu đâu phải chuyện đùa mà không thật!
– Ô hay quá! Tường Tri có anh em bạn rể ở Trung Quốc rồi!
Phước Lợi đội mũ lông, bước ra cửa quay lại nói vui:
– Biết nhắc nhở bạn, tất biết nhắc nhở mình!
Phước Lợi vừa ra khỏi cửa, Việt La đắm đuối nhìn Tường Tri, thỏ thẻ:
– Cả nhà đã thương anh nhiều rồi. Cha mẹ thuận tình cho chúng mình kết hôn rồi. Bây giờ chẳng ngại gì Đại sứ quán Việt Nam nhắc nhở. Tình yêu là của hai chúng mình; ăn thua là hai chúng mình quyết định.
– Tình yêu là của lứa đôi, xưa nay vậy. Nhưng anh là người con của Sài Gòn, miền Nam đang trong khói lửa chiến tranh, anh rồi phải trở về. Em đâu có thể theo chồng như mẹ theo cha về Trung Quốc! Hồi ấy hoàn cảnh lịch sử rất khác bây giờ!
– Cách mạng miền Nam đâu có sử dụng máy bay! Anh học kỹ thuật hàng không, học xong về công tác ở Hà Nội. Miền Bắc hòa bình, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố hậu phương lớn chi viện cho miền Nam, đương nhiên anh có đóng góp trong đó mà!...
Tường Tri lặng im, Việt La biện minh thật có lý, anh thừ ra ngây độn. Thắng lý, Việt La nguýt cặp mắt xanh đa tình, hí hửng ôm hôn Tường Tri. Nụ hôn đột ngột như nụ hôn đầu đời với Jeanne năm nào, anh ôm chầm thân hình Việt La kiều diễm hằng mộng mơ, cuốn quýt tận hưởng mê đắm. Ngoài trời thánh thót rơi tuyết lạnh. Hai tấm thân quyện nhau ấm nồng. Nàng thì thào: “Ôi! Cái lò sưởi!” Thế là anh bồng hẳn nàng lên, thả êm xuống giường nệm. Nhưng nàng chồm ngay dậy. Thoáng giật mình vì cử chỉ sỗ sàng của mình, chàng ngoái nhìn theo, chợt thở phào. Nàng ý tứ ra chốt cửa phòng. Trong chăn ấm, hai tấm thân nóng rực cuốn hút quấn quýt vào nhau. Sân băng êm đềm bấy giờ tuyết rơi lạnh lẽo, vắng ngắt quạnh hiu, chỉ còn có nụ hôn nồng nàn mê mẩn. Chót lưỡi uốn éo quấn quýt nhau đê mê; lưỡi chàng còn biết rà rẫm trên làn môi mềm khiến nàng rùng mình. Những ngón tay xung điện tuổi trai tơ, hút theo áp lực rờ rẫm làn da mịn màng nóng rực tích điện âm sung mãn. Cảm xúc bùng nổ, đánh thức nhục cảm bạn tình trinh nguyên. Khuôn mặt bạch diện hào hoa của chàng áp lên bộ ngực êm ái ấm rực. Cặp nhũ hoa săn cứng lan tỏa hương thơm sữa non tinh khôi khiến chàng trân trọng hôn nhẹ, tận hưởng hương vị ngọt lịm sâu lắng... Niềm khao khát tận cùng cực lạc mà cuộc đời trai tơ chưa từng một lần nếm trải, dồn nén đến lúc tức nước chực vỡ bờ, dần dà tay chàng tò mò chạm đến vùng nhạy cảm… Nàng bừng tỉnh, hất nhẹ tay chàng. Cơn tê lịm, căng thẳng đến dập dồn hơi thở bị đè nén, từ từ chùng xuống. Đành rằng tình yêu chân chính không một lực cản nào ngăn trở nổi. Song tự chế ngự còn bởi tình thương sâu nặng người yêu mới bước vào đời, thất trinh sẽ gánh lấy hậu quả tồi tệ. Những ngón tay si tình, lóng cóng khép nhẹ y phục cho nàng, anh vuốt ve thủ thỉ:
– Đời anh đây là lần đầu tiên được hạnh ngộ ôm ấp một tấm thân ngọc ngà diễm lệ.
Lặng im sửa lại áo váy, Việt La ngồi lên, mủm mỉm làn môi mềm đỏ tươi một cách kiêu sa:
– Em không tin!
– Thiệt mà!
– Hư-ư...! - Giọng nhí nhảnh thời con gái chưa qua, Việt La bắt nọn - Lần đầu tiên mà cái điệu anh hôn em… Không biết nói thế nào… Mà thôi! Cũng như hiện thời anh trượt băng lượn vòng số tám thuần thục một cách ngoạn mục.
Tường Tri ứ hò he, hết chối, trả lời ngập ngừng; bất đắc dĩ nói không thật lòng cũng để nhất quán nguồn gốc lý lịch:
– Đúng là anh đã có người yêu ở... ở Sài Gòn. Mà cũng chỉ mới có hai nụ hôn thôi: một nụ hôn đầu đời và một nụ hôn chia ly từ khi anh theo cách mạng! Chuyện đã lùi vào dĩ vãng rồi. Hãy coi như bây giờ anh chỉ có em trong đời và trọn đời cũng chỉ có yêu em mà thôi!
– Vậy thì anh kể chuyện tình ở Sài Gòn cho em nghe!
Xoa hai bàn tay áp lên má em, Tường Tri pha chút tinh nghịch:
– Cô giáo mà em yêu! Kể để rồi em… ghen!
– Thèm ghen! Hiện anh đang là của em đây mà!
– Ờ ha! Vậy em pha cà phê nóng chống rét đi!
hính từ phẩm chất trung hiếu, cao thượng, Tường Tri đã gieo vào tâm hồn Việt La một tình yêu say đắm, chân thành. Đôi mắt xanh Nga đa tình lúng liếng dẫu có làm dậy sóng mối tình đầu cùng hai nụ hôn say đắm chỉ trở thành kỷ niệm đầu đời mà thôi! Mối tình ngây thơ, nhút nhát bị Jeanne mắng: “serin” là thằng ngốc nghếch, (còn có nghĩa: chim bạch yến). Song cũng từ buổi đầu bị mắng, “con chim bạch yến” bay sang Trung Quốc mà Tường Tri “ngoan” lên, hồn nhiên bay bướm trên đường tình, lửa lòng chàng trai Sài Gòn bùng cháy, lãng mạn mộng mơ… Âu cũng là một thách đố ngọt ngào bền bỉ từ tình bạn đến cuộc tình trong sáng, song không kém phần lâm ly!
Mùa tuyết tan. Sân băng trả lại lòng hồ mặt nước, gió gợn lăn tăn lấp lóa nắng bình minh êm đềm kỷ niệm. Thảm cỏ quanh hồ mùa đông lụi tàn để giờ nhường ngôi cho mầm non nhú đều mượt mà như lụa vàng óng ả vương màu nhớ nhung. Bông tuyết cũng trả lại những cành cây nẩy lộc non chồi biếc tiềm tàng sinh lực, đẹp vô ngần. Tường Tri ngồi trong phòng nhìn ra mái hiên đã tan đi rồi những giọt tuyết đông lòng thòng hình giọt nước mắt, quang đãng trở lại mà sao chạnh lòng trống vắng man man buồn. Trái tim anh thổn thức linh cảm cuộc tình rồi lại chia ly như hồi nào với Jeanne!...
Chương trình học ở Thiên Tân đã xong, đoàn bảy người của anh sắp trở lên Bắc Kinh, về sân bay Tây Giao thực tập. Đang buồn, bỗng bên ngoài có tiếng bước chân, anh để mở cửa phòng ngầm ý mong chờ Việt La, nhưng hóa ra là Vương Ca Ly bước vào làm anh sững sờ. Ca Ly hơn mười tuổi là em gái thứ ba của Việt La. Anh ngạc nhiên hỏi:
– Em đi đâu lúc trời đang rét lạnh thế này? Ca Ly?
- Em… Em bị mẹ rầy! - Ca Ly mặt phụng phịu - Em sang đây để mét với anh.
- Tại sao bị mẹ rầy? Mẹ rầy sao lại bỏ đi? Thôi em vào ăn cái bánh đã, rồi anh đưa về. Lần sau mẹ có rầy cũng không được bỏ đi nữa nhé!
Ca Ly vui hẳn lên:
– Nếu được anh đưa thì em mới dám về! Thôi em không ăn bánh đâu, về liền đi.
Từ doanh trại sân bay về nhà Vương Tư lệnh khoảng trăm mét. Hai anh em nắm tay nhau đi vừa trò chuyện, phút chốc đã đến nhà. Thấy Ca Ly về có Tường Tri theo sau, cả nhà reo lên, nổi bật là giọng bà Vương:
– Tường Tri đến rồi! Phải thưởng cho Ca Ly mới được! Khéo nói mới mời được Tường Tri. Bởi Việt La nó không chịu mời trước, bảo anh Tường Tri thích chuyện bất ngờ, để dọn sẵn rồi mời tới cho anh ấy bị bất ngờ.
Nhìn vẻ mặt ai nấy rạng rỡ rồi liếc qua bàn ăn thấy đã bày biện sang trọng, Tường Tri bấy giờ mới biết mình bị “mắc kế”, bất ngờ một cách sung sướng và tràn đầy xúc động!
– Tường Tri sắp chuyển về Bắc Kinh - Bà Vương giọng trìu mến - gia đình muốn mời bữa cơm chia tay do Việt La làm bếp - Rồi bà gọi to vào trong - Tường Tri đến rồi, Việt La!
Từ nhà trong đi ra, Việt La thận trọng bưng món gì đó tự tay chế biến bốc mùi thơm ngọt ngào. Lòng ưu tư, phần do ảnh hưởng bếp núc, Việt La mặt đỏ bừng, đôi mắt xanh hơi tối, song vì thế vẻ đẹp đượm buồn càng làm Tường Tri xao xuyến.
Cả nhà ngồi vào bàn, trật tự như các lần trước: Việt La được dành chỗ ngồi cạnh Tường Tri, bà Vương, ông Vương ngồi đối diện, bên ông là Ca Ly và em kế. Cũng từng đến dùng cơm gia đình với họ Vương, nhưng chưa có lần nào ấm cúng và thịnh soạn như hôm nay. Anh ngồi vào bàn mà lòng nghe bùi ngùi. Linh cảm đây là bữa cơm cuối cùng với người yêu.
Đại tá Vương Dũng tỏ ra rất vui, làm chủ không khí cho ngon miệng, ông lấy máy ảnh ra bấm, chủ mục vào Việt La và Tường Tri. Bà Vương rất tâm lý, muốn bữa tiệc thêm phần vui vẻ, bà lại khen chàng rể tương lai đẹp trai, rồi lại hỏi như lần trước:
– Học xong, Tường Tri có muốn ở luôn Trung Quốc làm việc không?
Tường Tri đáp giọng trầm buồn:
– Việt Nam còn nghèo, lại bị đế quốc Mỹ gây chiến tranh xâm lược. Câu hỏi của bác con chưa trả lời được!…
Bà Vương trầm ngâm một lúc:
– Hay là cho Việt La về Hà Nội sống với Tường Tri có đặng không, đồng chí suy nghĩ kỹ đi. Hai người yêu nhau, gia đình chấp nhận. Nếu cần chúng tôi lên đề nghị với Đại sứ quán Việt Nam. Quyết định lẽ nào là tùy ở đồng chí Tường Tri.
Đại tá Vương tiếp lời:
– Ôi! Hễ yêu nhau rồi là cũng dễ thôi! Như hồi đó nhờ tôi công tác ở sư đoàn kỵ binh, đóng quân ở biên giới Trung - Xô, bà tình nguyện về làm dâu Trung Quốc vậy mà… Chồng đâu thì vợ đó; vui cùng vui, khổ cùng khổ.
Đôi mắt xanh lung linh sâu vời vợi của Việt La nhìn xoáy vào Tường Tri sáng bừng hy vọng, dù trong phút giây cũng khiến anh muốn trào nước mắt. Đại tá Vương Tư lệnh đã mở đường thấu tình đạt lý đến thế, còn gì nữa mà không hứa? Về nước công tác trong ngành hàng không thì cũng ở Hà Nội thôi. Nhưng anh vẫn ngồi lặng câm. Cuối cùng, từ đáy lòng chân thành, Tường Tri nâng ly cảm tạ ông bà Vương Tư lệnh. Tâm nguyện khắc cốt ghi xương mối cảm tình nồng hậu của gia đình cùng tình yêu thắm thiết của Việt La. Còn chuyện hôn nhân thì anh không đả động tới, bởi chính anh cũng chưa giải đáp nổi “cõi lòng” đang rối như tơ vò của mình…
Buổi tiệc tan. Đêm Thiên Tân về khuya. Tuyết tan song ngưng đọng nỗi lòng người giá rét. Việt La tiễn anh ra cổng. Hai người ôm hôn nhau nụ hôn dài, rạo rực trong bồi hồi ám ảnh cái cảnh sinh ly! Lưu luyến nhau hồi lâu, nàng đứng lặng trông theo Tường Tri sắp khuất mình vào đầu tường doanh trại, nhìn anh quay lại vẫy tay, nhìn gương mặt anh mờ qua làn nước mắt, Việt La vẫy tay đáp lại rồi lững thững quay trở vào nhà.
– Mẹ nghĩ chuyện của con với Tường Tri rồi cũng sẽ an bài... Việt Nam, Trung Quốc có xa xôi gì, nếu con về Hà Nội cũng như mẹ về Trung Quốc, thế thôi!
Nghe mẹ nói đúng nỗi lòng, Việt La ôm chầm mẹ, lâng lâng niềm hy vọng!
***
Đoàn của Tường Tri sau khi về Bắc Kinh, thực tập ở sân bay Tây Giao, đạt yêu cầu tốt đẹp, được đi tham quan Vạn Lý Trường Thành, Thập Tam Lăng, Di Hòa Viên… Thập tam lăng là 13 cái lăng giống hệt nhau; được biết vua chúa xưa chết chôn theo ngọc ngà châu báu vô số kể, cho nên sợ kẻ tham đào bới, nên xây giống nhau để không biết cái nào thật, cái nào giả. Những thắng cảnh, di tích làm ngợp lòng người, để lại ấn tượng vừa khâm phục tài nghệ kiến trúc, mỹ thuật, vừa xót đau mồ hôi và máu của hàng vạn dân nô lệ. Như Di Hòa Viên, nơi xưa vốn vùng đất bằng, thể theo ý muốn của Từ Hi Thái Hậu, sai bắt hàng ngàn dân nô lệ lao lực đổ mồ hôi sôi nước mắt và cả máu, đào đất đắp cái đồi cao như núi để xây lâu đài cực kỳ nguy nga cho bà ngự. Khu đất đào ấy thành cái hồ rộng lớn mà ngày nay du khách tham quan cùng dân bản xứ đến bơi lội vui chơi… Những ngày “đế vương”, đi chơi, ăn chế độ “đặc táo”, món ngon vật lạ không nhớ xiết, có món dưa chua bằng nhân sâm thì chỉ ngậm, nuốt sợ phí! Tuy nhiên Tường Tri thất thơ thất thẩn như một cái bóng. Nhìn đâu cũng thấy hình ảnh Việt La. Việt La trong trái tim, Việt La trong chiêm bao. Lại càng nao lòng nghe Phước Lợi kể chuyện một cán bộ ta sang công tác bên Cu Ba, yêu một cô bên ấy, ở với nhau có thai, xin cưới. Đại sứ quán cự tuyệt, đến nỗi bà Mendela (đại sứ Cu Ba ở Hà Nội) can thiệp cũng không được; bà báo cáo lên Liên đoàn Phụ nữ Quốc tế nhờ can thiệp cũng không thành! Cuộc tình đành tách đôi! Chàng mang nỗi buồn biệt ly về nước! Nàng mang bầu tâm sự tự đẻ, tự nuôi! Biết chuyện vậy, Phước Lợi rút lui sớm với bạn tình khiêu vũ ở Thiên Tân. Mối tình của Tường Tri thì sâu nặng khác hẳn, nên lòng buồn rười rượi!… Sắp đến ngày về nước, không còn dịp nào gặp lại người yêu, anh lang thang bách bộ đến chợ Đông An. Vào chợ, hàng hóa lóa mắt, người mua bán xôn xao, nhưng không sao xao lãng hình ảnh Việt La. Anh rảo bước các gian hàng, tìm mua cái khăn phu-la, hàng của Singapore, loại lớn, màu sắc rực rỡ, mịn mềm, mát tay. Trở về phòng lòng nhớ Việt La da diết, anh ngồi tỉ mẩn xếp khăn, gói lại tử tế!… Kèm theo chiếc khăn, anh viết mấy dòng ngắn gọn:
“Còn mấy hôm nữa anh lên đường về nước. Cho dù không còn dịp gặp nhau, anh vẫn giữ mãi mối tình cao đẹp và trong sáng của hai ta. Hình ảnh em vẫn ở mãi trong trái tim anh cho đến suốt đời…”.
Anh ra bưu điện gửi quà về cho Việt La thông qua Đại tá Vương Tư lệnh chuyển giao. Mấy hôm sau, Vương Dũng từ Thiên Tân đi máy bay lên Bắc Kinh đến gặp Tường Tri, trao cho anh hộp bánh của Việt La chính tay cô làm. Cái hộp bánh bằng giấy các-tông in hình những bông hoa rất đẹp, có dán dòng chữ: “Tặng anh Tường Tri hộp bánh để ăn trên đường trở về Tổ quốc Việt Nam”.
Nhìn đôi tay Tường Tri run run ôm hộp bánh, Đại tá Vương xúc động nói:
– Việt La nó khóc mùi tội quá! Nó yêu đồng chí sâu nặng lắm! Hay là cứ cho Việt La theo đồng chí về Hà Nội, chuyện cưới hỏi tính sau. Đồng chí quyết định đi?
Tường Tri nghe chết điếng trong lòng, như có vật gì chẹn ở cổ không nói nên lời. Trong tình cảm sâu xa anh không quên mình là người con của Sài Gòn, nói rộng hơn là con của miền Nam nước Việt. Nơi ấy kẻ thù đang phá hoại hiệp định Genève, trả thù những người kháng chiến cũ, tàn sát đồng bào đẫm máu, hàng đêm nghe tin trên đài… mà buốt nhói trái tim xa xứ!… Lòng anh tan nát! Ôi! Tổ quốc và tình yêu?… Đại tá Vương nói tiếp:
– Tôi và mẹ nó cũng khác dân tộc, nhưng vẫn hạnh phúc với nhau. Hoặc đồng chí hứa một lời nào, tôi sẽ đến gặp ngay đại sứ quán Việt Nam nhờ can thiệp!…
Nén cõi lòng tan nát, Tường Tri rành rọt từng lời trước Tư lệnh Vương Dũng:
– Cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang hồi quyết liệt! Mà những đứa con của miền Nam nhứt định phải trở về quê hương chiến đấu. Con không thể nào để Việt La phải theo chồng, gánh chịu đạn bom cực kỳ nguy hiểm! Còn tình yêu Việt La, hình ảnh Việt La luôn trong trái tim con. Thủy chung chỉ một lời nguyền! - Từ cõi thẳm sâu tâm hồn không thành lời, anh còn ẩn lời nguyền thiêng liêng đối với Tổ quốc…
Tường Tri dứt lời, Đại tá Vương hiểu ra ngay, đứng lên ôm chầm lấy anh. Hai người đàn ông một trẻ một già của hai dân tộc láng giềng, ôm lấy nhau long lanh nước mắt. Hai trái tim cùng thổn thức...
a ngày đêm trên con tàu lăn bánh về Tổ quốc, cũng là ba ngày đêm trái tim Tường Tri như lăn ngược về Thiên Tân. Ca củm hơn hành lý, Tường Tri giữ ổ bánh của Việt La khư khư như báu vật. Phước Lợi từng được ăn bánh tự tay Việt La làm, tuyên truyền ầm ĩ, đòi khui hộp bánh ra ăn, kẻo để lâu hư. Tường Tri ôm trum trủm, bảo rằng bánh của người yêu tao làm để bao lâu cũng vẫn ngon, không cho đứa nào ăn hết. Khi về đến sân bay Gia Lâm, ổn định chỗ ở đàng hoàng, bấy giờ Tường Tri mới khui hộp bánh ra chia nhau ăn thì cái nào cũng ngon tuyệt. Bánh ăn hết rồi, tình yêu càng vấn vương, Tường Tri gói cái hộp cất kỹ làm kỷ niệm.
Bấy giờ Bộ Tư lệnh không quân đã hình thành, nhận thêm viện trợ máy bay phản lực của Liên Xô. Bảy cán bộ đi học bên Trung Quốc về được phân công phụ trách kỹ thuật an toàn cho các loại máy bay. Một hôm đồng chí cán bộ tổ chức của Bộ đến gặp riêng Tường Tri, giao một nhiệm vụ đặc biệt là phụ trách kỹ thuật an toàn chiếc IL.14-482, chuyên cơ của Bác Hồ! Ôi! Một nhiệm vụ chưa hề dám mơ! Từ lâu vâng lời cha về nước tìm Nguyễn Ái Quốc, nhưng chỉ gặp lý tưởng của Người, nhìn thấy Người qua hình ảnh Hồ Chí Minh. Bây giờ sẽ trực tiếp được nhìn Bác tận mắt, thực sự bằng người thật; một con người mà cha mình kỳ vọng, phó thác cho con trai về nước tìm Người. Một con người lý tưởng của Tường Tri, gắn liền tình yêu Tổ quốc - Nguyễn Ái Quốc! Niềm sung sướng đến bồi hồi gan ruột, ra sân bay tiếp nhận chiếc máy bay được giao, Tường Tri chú tâm kiểm tra tỉ mỉ độ an toàn các bộ phận. Loại máy bay nầy anh đã làm quen từ bên Trung Quốc nên rất thông thạo. Kiểm tra xong, anh đề nghị Bộ Tư lệnh Không quân cho anh cùng bay thử với tổ lái để nghe động cơ vận hành. Máy bay bay tốt, nhưng anh chưa thật vừa ý, còn kiểm tra kỹ thuật chu đáo thêm.
Hôm ấy 29 tết Nguyên Đán, Tường Tri nhận được lệnh chuẩn bị chiếc IL.14-482. Anh cùng tổ thợ mang dụng cụ ra kiểm tra các bộ phận máy, tra dầu mỡ, cho khởi động thử. Đến trưa, các đồng chí bảo vệ của quân đội đến kiểm tra, hỏi Tường Tri xong chưa? Anh đáp:
– Còn một động cơ vận hành chưa thật chuẩn.
– Vậy thì cứ bình tĩnh chữa cho tốt. Hôm nay Bác chưa đi.
Tường Tri yên tâm tiếp tục mà lòng bồn chồn. Nhưng mươi phút sau, một chiếc xe con chạy vào sân bay, đến đậu gần máy bay anh em đang làm việc. Bác cẩn thận xuống xe. Một bất ngờ sung sướng, anh nhìn sừng sờ. Ôi! Đôi mắt Bác ấm áp, vui cười nhân hậu. Vầng trán rộng bắt nắng trưa cùng chòm râu sáng ánh như cước lấp lánh. Bác vẫn giản dị trong bộ kaki trắng bốn túi và chân đi tất trong dép cao su đen quen thuộc. Bác đến bên Tường Tri đang kiểm tra máy ân cần bảo: “Đã mười hai giờ trưa. Các chú về ăn cơm, đói bụng rồi!”. Tường Tri lúng túng, vùng đứng nghiêm chào Bác theo tư thế quân nhân, khi lòng rất muốn dang tay ra ôm hôn Bác cho thoả lòng ước mơ. Ôi! Thương Bác quá! Hình ảnh từ vầng trán, đôi mắt, chòm râu ăn sâu trong hồn anh từ ngày đầu cuộc khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám tại bùng binh chợ Bến Thành mà ngày ấy anh nhảy lên reo hò: “Ôi! Bác Hồ - Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh!”
Cảm thương các chú xúc động, còn đứng trù trừ, Bác lại bảo lần nữa: “Các chú về ăn cơm đi kẻo đói! Hôm nay Bác không đi đâu. Bác sang chỉ đón khách”.
Được gần Bác là Tường Tri đủ no rồi, còn bụng dạ nào về ăn cơm. Bác Hồ đó! Nguyễn Ái Quốc đó! Bậc vĩ nhân mà Tường Tri hằng nuôi dưỡng niềm hy vọng, giờ đây hiện diện gần gũi cho anh cảm nhận những phút giây thiêng liêng nhất trong đời. Anh muốn ôm hôn Bác, muốn “khoe” rằng con là con của Nguyễn Văn Tường, từng được đón Bác về nhà… và đã cho con thay cha theo Nguyễn Ái Quốc… Bao nhiêu nỗi niềm trào dâng, Tường Tri hồi hộp lưỡi thụt đâu mất, nghẹn ngào, trào nước mắt thầm nhớ đến cha già mẹ yếu còn ở nơi xa xôi muôn trùng!
Bỗng một chiếc máy bay Air Hong Kong hạ cánh. Xe thang chạy đến bắc sát cửa. Khách chưa xuống, Bác đã nhanh nhẹn leo lên, vào tận trong khoang máy bay. Một lúc, từ cửa máy bay xuất hiện cùng Bác là một ông cụ người cao lớn, tóc bạc phơ, kề bên là bà cụ bước lên ngang Bác, theo sau là một thiếu phụ. Bác rạng rỡ vẻ mặt, giới thiệu cùng mọi người:
- Trân trọng giới thiệu, đây là ông bà Luật sư Lozbai cùng cô con gái, vị ân nhân từng giải thoát Bác khỏi nhà tù ở Hong Kong. Nhận lời mời, ông bà luật sư cùng con gái đến ăn tết Việt Nam với chúng ta!
Giữa tràng pháo tay hoan hô, Bác quàng tay một bên là ông luật sư, một bên là bà luật sư, cô con gái theo sau, cùng bước xuống thang trông rất ấm áp thân tình.
Ôi! Những con người mà anh hằng đem vào mộng mơ như huyền thoại, hằng nuôi dưỡng niềm hy vọng, giờ đang hiện diện trước mắt anh! Nước mắt anh lại trào dâng!...
Sau đó Tường Tri cùng anh em thợ ở sân bay được nghe đồng chí cán bộ tùy tùng của Bác kể về hành động cao cả của gia đình Luật sư Lozbai:
Chuyện kể rằng… Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hồng Kông. Gay go là thực dân Pháp ở Việt Nam biết tin, tung mật thám sang Hồng Kông theo dõi và vận động Chính phủ Anh cũng như Toà án: trao trả Nguyễn Ái Quốc cho Pháp. Pháp đã phái tàu thủy chực sẵn ở bến cảng, nếu Tòa án Anh trục xuất là bắt lại ngay, đưa về Việt Nam. Chính quyền ở Hồng Kông cũng muốn trao trả Nguyễn Ái Quốc cho Pháp. Từng nghe danh, vào khám thăm gặp Người, luật sư Lozbai cảm phục, nên rất lo âu cho số phận Nguyễn Ái Quốc một khi trả về tay Pháp. Vốn dòng dõi Hoàng gia, luật sư báo với Nữ hoàng, đề nghị đưa vụ án ra xét xử công khai; đợi Tòa án tối cao xét xử. Điều đó được thực hiện. Trải qua 9 phiên tòa với sự biện hộ đầy nhiệt tâm của luật sư Lozbai và một đồng nghiệp. Nhưng chỉ đạt đến mức: trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Đông Dương. Luật sư Lozbai kịch liệt phản bác, coi đó là sự cố tình giao Nguyễn Ái Quốc cho Pháp; cũng bằng án tử hình. Luật sư chống án lên tới Hội đồng nhà vua và nhờ luật sư Nowell Pritt ở Luân Đôn tiếp sức biện hộ. Nhờ ảnh hưởng lớn ấy, Nguyễn Ái Quốc được xóa án, trả tự do, đi đâu tùy ý, miễn rời khỏi Hồng Kông. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đi đâu cho khỏi lưới mật thám Pháp?! Bước nguy hiểm cuối cùng nầy luât sư Lozbai cũng không cách gì cậy uy tín Hoàng gia! Ông bà cùng cô con gái bàn nhau đủ cách. Qua gần gũi Nguyễn Ái Quốc, với đức độ khiêm tốn và tài năng uyên bác, càng làm luật sư thêm mến yêu. Ông nói với vợ con: “Nguyễn Ái Quốc là người có sức cảm hóa lớn. Con người nầy sẽ trở thành vĩ nhân; phải ráng tìm mọi cách giải thoát.” Bà luật sư tán thành và gợi ý: “Khi được trả tự do, ta mời Nguyễn Ái Quốc về nhà mình. Trước mắt là bảo vệ, sau chờ tìm cách….” Luật sư nghe phải, nhưng cần phối hợp hành động không chỉ đưa về nhà mà còn bước tiếp theo là đưa đi đâu?... Luật sư Lozbai đến gặp Thống đốc Hồng Kông thuyết phục. Sau khi được lời thiện chí của bạn thân, Thống đốc cho cảnh sát Anh đưa Nguyễn Ái Quốc về nhà riêng của Luật sư. Đương nhiên lưới mật thám Pháp vẫn không ngừng theo dõi; bám sát nhà Luật sư.
Ở nhà Luật sư, Nguyễn Ái Quốc được đối đãi như thượng khách. Đích thân bà luật sư cùng cô con gái săn sóc miếng ăn, giấc ngủ. Trong thời gian này, để chuẩn bị cho bước tiếp sau, bà Luật sư đến tâm tình với bà phu nhân Thống đốc. Bà Thống đốc nhận lời sẽ thuyết phục chồng giúp sức, nhưng đòi bà luật sư phải cho gặp mặt Nguyễn Ái Quốc. Bà Luật sư đưa bà Thống đốc về nhà mình. Sau khi tiếp xúc với một con người vừa trải qua 9 phiên toà quan trọng nhất ở Hồng Kông, bà Thống đốc nhìn nhận: “Đúng! Con người nầy không thể để bị sát hại được!” Sau bước mở đường quan trọng giữa hai mệnh phụ phu nhân, luât sư Lozbai đến gặp Thống đốc Hồng Kông thuyết phục lần nữa: “Từ lâu, chúng ta chỉ nghe danh Nguyễn Ái Quốc, đến nay mới được hiểu. Con người nầy sẽ trở thành vĩ nhân. Tôi và anh, không thể để con người nầy bị sát hại oan uổng.” Thống đốc Hồng Kông không chỉ nể bạn mà thực sự nhận ra lẽ phải, nhất trí với luật sư Lozbai, bàn kế hoạch giải thoát.
Nhân một tối thứ bảy, nhà Luật sư mở tiệc, mời vợ chồng Thống đốc đến dự. Bấy giờ là mùa đông, thống đốc đi xe có rèm, chạy thẳng vào ga-ra trong nhà. Tiệc xong 12 giờ đêm, xe Thống đốc vẫn phủ rèm ra về. Mật thám Pháp bám theo bên ngoài, nhưng không ngờ Nguyễn Ái Quốc (sau khi được thết tiệc, được bà luật sư chuẩn bị hành lý và giấy thông hành) đã ngồi trong xe, cùng về nhà riêng của Thống đốc Hồng Kông.
Sáng hôm sau, Thống đốc đi chơi biển như thường lệ trên chiếc ca nô cắm cờ Thống đốc Hồng Kông. Ngồi bên cạnh Thống đốc, Nguyễn Ái Quốc nghiễm nhiên trở thành một thương gia người Trung Hoa. Cùng ngày, theo lịch có một chuyến tàu khách Hồng Kông đi Thượng Hải. Mật thám Pháp theo dõi chặt bến tàu, vẫn không thấy Nguyễn Ái Quốc; chúng đinh ninh vẫn còn ở nhà luật sư Lozbai. Chiếc tàu khách rời Hồng Kông một đỗi, Thống đốc cho mời thuyền trưởng đáp ca-nô sang gặp và yêu cầu cho gởi ông bạn thương gia đi Thượng Hải. Thuyền trưởng đồng ý rồi mời vị thương gia cùng mình sang ca-nô lên tàu đi Thượng Hải.
Căm tức vì không bắt được Nguyễn Ái Quốc, hơn nữa
căm tức người Anh, các báo thực dân Pháp bịa đặt: “Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh lao và đã chết trong nhà lao của Anh”. Các báo Anh quật lại: “ Các ông run sợ trước một người cách mạng Việt Nam, nhưng không làm gì được. Người cách mạng đó đã được Tòa án Anh tha bổng và đã xa chạy cao bay…”
***
Những năm tháng Tường Tri phục vụ máy bay riêng cho Bác cũng là những năm tháng hạnh phúc nhất trong đời. Mỗi lần Bác đi đâu, sĩ quan bảo vệ báo trước để chuẩn bị chiếc chuyên cơ IL.14-482. Kiểm tra kỹ lưỡng các bộ phận, anh cùng tổ máy khởi động rồi đưa ra đường băng, chờ phi công đến bàn giao. Phi công lên máy bay thử máy xong quay xuống ra hiệu tiếp nhận. Bấy giờ xe nhỏ đưa Bác ra máy bay. Lần thứ hai được gần Bác, Tường Tri nhìn Bác với vẻ xúc động khác thường. Bác đến gần thân mật hỏi han:
– Cháu Nguyễn Tường Tri có khỏe không?
– Dạ thưa Bác, khỏe ạ! – Trời ơi! Bác vẫn nhớ tên mình! Có lẽ bảo vệ báo cáo lý lịch của anh với Bác. Anh vụt muốn xưng là con của Nguyễn Văn Tường… Nhưng kịp nín lặng!
Theo thói quen Bác mở hộp thuốc lấy một điếu làm quà, nhưng anh từ tốn thưa không biết hút thuốc. Bác khen rồi bảo: “Học Bác cái gì thì học, đừng học hút thuốc”. Tỏ thiện cảm, Bác quay sang bảo người công vụ lấy tặng anh chiếc huy hiệu của Người. Nhìn chiếc huy hiệu lồng trong hộp nhỏ rất đẹp, anh sung sướng bồi hồi. Từ ấy, hễ mỗi lần được gặp là Bác lại tặng quà cho anh, thường là huy hiệu. Anh cất cẩn thận trong ba lô với ý đồ sẽ có ngày trở về miền Nam...
uộc đời Tường Tri tới tuổi ngoài bốn mươi mà vẫn vò võ đơn côi. Trong khi nầy Phước Lợi mắc tóc gái Bắc Hà, gia đình đầm ấm, càng thấu cảm nỗi độc thân của bạn. Anh “tâu rỗi” với lãnh đạo nội bộ ở sân bay, rằng Tường Tri từng cắt đứt mối tình sâu nặng bên Trung Quốc. Biết chuyện, tổ chức rất cảm thông, giới thiệu cho anh “bắt mối” những cô gái Hà Nội. Các cô gái làm việc ở sân bay, phải nói là được tuyển chọn đều rất xinh đẹp. Nghe Tường Tri dân Sài Gòn, học giỏi, đặc trách kỹ thuật cho chuyên cơ của Bác Hồ, lại trẻ trai, mặt hiền khô nên xáp vô hồn nhiên. Đúng là sau hơn hai năm học bên Trung Quốc, ở xứ lạnh trắng trẻo trở lại, Tường Tri trẻ ra. Nhưng trò chuyện thân mật vậy thôi, đêm về thường nằm chiêm bao thấy trượt băng té vô mình Việt La; hoài niệm duy nhất một lần âu yếm cùng Việt La… Dần dần các cô gái Bắc Hà dạt lơ hết, có lẽ cũng chê thầm: Con trai Sài Gòn gì ngốc nghếch. Đến Phước Lợi cũng “giận” bạn không bắt mối được cô nào. Dù giận, nhưng rất thương bạn chí cốt với mình từ những ngày gian khổ ở Ban quân giới miền Tây cho tới bây giờ. Anh thì thầm với vợ là Thùy An:
- Tổ chức giới thiệu công khai, Tường Tri không chịu vậy đâu. Phải là tự anh ta quan hệ tìm hiểu như hồi bên Trung Quốc vậy. Cái tánh Tường Tri nghiêm túc đến khắt khe với chính mình. Tối kỵ la cà tán gái. Giữ kẽ, khép kín, hiền khô vừa ngây thơ quá trời, chỉ có đợi con gái nó ôm hôn.
- Thế năm nay anh Tri bao nhiêu tuổi?
- Trên bốn mươi rồi đó. Mà em nầy!
- Gì mà ngập ngừng, nói đại ra đi?
- Thùy Dung năm nay bao nhiêu tuổi?
- Ba lăm chứ còn trẻ trung gì nữa! Già kén kẹn hom. Cũng giữ kẽ, khép kín. Bao nhiêu chàng phi công đẹp trai hay đến thư viện đọc sách để tò vè cô ả, nhưng đều bị chỉnh khéo tư cách, đâm ra gièm pha sau lưng là đạo đức giả. Con nhỏ càng giữ nghiêm tợn.
- Mình nên đôi hạnh phúc. Thương cho hai người đều lỡ thời, phòng không! - Phước Lợi bỗng bật cười rúc rích - Cũng bởi hai người đều là lính không quân cho nên phòng không ráng chịu!
- Em cũng nhân viên bên Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân, sao anh với em cũng đều không quân mà phòng có? - Vợ chồng đồng cảm ém giọng cười ục ục, ngại phòng bên Thùy Dung mất giấc.
- Vậy… em nầy!
- Gì mà ấp a ấp úng? - Thâm tâm Thùy An có thiện cảm với Tường Tri, đoán trước ý chồng - Có phải anh có nhã ý xây dựng hạnh phúc cho Tường Tri và Thùy Dung không?
- Ôi! Trời ơi! Vợ tôi tâm lý quá! - Phước Lợi rên lên…
- Ôi nhột mà! Có gì đâu, chuyện hợp tình hợp lý. Bên nào cũng quá đát cả!
- Còn quan hệ Bắc Nam, Thùy Dung tính ra sao?
- Thì cũng như anh và em thế thôi. Cuộc chiến tranh vệ quốc nầy mục đích cuối cùng là độc lập tự do, thống nhất nước nhà; cả nước hiện đang nỗ lực chung. Thùy Dung thông minh, biết nghĩ lắm. Anh yên tâm.
- Vậy… có thể hôm nào mình mời Tường Tri về nhà ăn cơm cho em gái Thùy Dung với Tường Tri trò chuyện làm quen.
- Hóa ra chồng em cũng giỏi tâm lý lắm! Em nghĩ Thùy Dung sẽ đồng tình ngay. Rất hợp tình là hai chị em cùng lấy chồng Nam Bộ. Ai chứ chị gái đã nói “vô” thì em Thùy Dung thuận nhĩ ngay.
Vợ chồng Phước Lợi lạm quyền ông Tơ, bà Nguyệt, Thùy An tỉ tê với em gái:
- Phần chị với anh Phước Lợi yên bề gia thất rồi. Thầy mẹ ở quê, có anh cả lo. Lên Thủ đô chỉ có hai chị em mình, chị phải lo cho em được hạnh phúc như chị vậy. Em nay cũng ba mươi ngoài rồi. Nói thẳng ra là chị muốn giới thiệu em với anh Tường Tri, bạn chí cốt với anh Phước Lợi. Người em từng quen mặt chớ không ai xa lạ. Anh Tường Tri, chưa nói là sĩ quan đặc trách chuyên cơ cho Bác Hồ, cái dễ cảm nhất là tính tình khiêm nhu hiền đức…
Chị vừa mở miệng, Thùy Dung đã đoán được ý, lặng im nghe. Dĩ nhiên người đức hạnh, trung trinh, tự trọng, biết chọn bạn đời cho mình không phải như ra chợ chọn mua một cái váy, đôi giày. Tới từng tuổi như Thùy Dung thì cũng đã kén chọn kỹ lắm rồi. Đồng thuận nhận xét của chị về Tường Tri, tuy nhiên tình yêu phải đến từ hai phía. Mới biết mặt, biết đâu được lòng; cô em đáp lập lờ để thủng thẳng coi sao?...
Bữa cơm gia đình nhà Phước Lợi sớm diễn ra. Hai “đạo diễn” khéo dàn cảnh cho hai anh chị ngồi đối diện. Không phải lần đầu về nhà của bạn, Tường Tri đến chơi cũng từng quen mặt Thùy Dung nên ngồi chung mâm không có gì bỡ ngỡ. Bà chị tán tụng em gái hết ý, rằng đã tốt nghiệp trường Văn hóa - Nghệ thuật, hiện công tác ở thư viện sân bay, khối chàng trai phi công la cà vào đọc sách bị quyến rũ. Thùy Dung thấy anh ăn có vẻ kiểu cách, gắp miếng ngon bỏ vào bát anh, nói biếm rất bạo:
– Nam thực như hổ, nữ thực… Anh Tường Tri cũng thực như miêu hay sao? Hay tại có mặt em, anh ngại?
– Chưa chắc à! Em gái vợ tui ơi! - Phước Lợi vui miệng chống chế.
– Em nghe mấy cô nhân viên bên Phòng chính trị kháo về anh Tường Tri… Em nói anh Tri bỏ quá nghe?
– Không sao! Đồng chí cứ nói. Tôi “chịu đạn” mạnh lắm! - Tường Tri đáp.
– Ối! Sao kêu em bằng đồng chí hoài vậy?
- Tật quen miệng ở bên Trung Quốc đó mà - Phước
Lợi đỡ lời - Nhưng mấy cô bên phòng Chính trị nói Tường Tri sao?
- Mấy cô ấy nói anh Tri nhát gái như… như chuột gặp mèo. Trai Sài Gòn gì ngây thơ ngốc nghếch bỏ xừ!
– Coi chừng lầm chết à mấy cô em ơi! - Phước Lợi bênh bạn - Hồi học bên Trung Quốc, nhờ anh luôn cảnh báo: “Coi chừng làm bố sớm không được về nước à nghen”, nếu không thì ông Tri đã ẵm một cô “sẩm” bên Tàu về Hà Nội rồi.
– Còn hiện giờ đang ở Hà Nội đây! - Thùy An, bà chị gái tỏ ra đáo để - Muốn ẵm ai mà chẳng được.
– Vậy thì… - Phước Lợi bộc trực cười khớ khớ - Vậy thì hai anh em Nam Kỳ cục chúng tôi ẵm hai cô gái Bắc thành anh em bạn cột chèo, chèo ghe về Nam Kỳ hê hê!... Tôi chèo lái, Tường Tri chèo mũi. Đẹp đôi hết ý chưa! Ha! Ha!
Ai nấy cười vui hả hê. Thùy An thắm ý cười giòn nhất, hỏi dồn:
– Còn hai chị em em là gì?
– Hai chị em em thì là… - Phước Lợi vẫn giọng pha trò - thì là dâu hiền Nam Kỳ ngồi trong mui hát chèo í-a là … tang tính tình…
Mặt Thùy Dung chợt đỏ bừng, liếc xéo Tường Tri một cái sắc lẻm làm anh chợt mái động trái tim.
Nhưng rồi bữa cơm cũng chỉ đạt được mức quen nhau có chiều thân tình vậy thôi. Vợ chồng Phước Lợi quyết tình tác thành hôn nhân hai người cho bằng được.
Thùy An gợi:
- Đã tạo giao cảm bước đầu, để lâu nguội. Bây giờ mình xin nghỉ phép, đi Đồ Sơn, Tam Đảo, kèm hai anh chị đi cùng cho có điều kiện tâm tình.
Phước Lợi nói:
- Không lực Hoa Kỳ đang tăng cường chiến tranh phá hoại… Ví lại trong khi miền Bắc đang phát động một người làm việc bằng hai, chi viện cho miền Nam ruột thịt, mình kéo gia đình đi nghỉ mát coi sao đặng!
- Vậy thì anh thuyết phục Tường Tri, em thuyết phục Thùy Dung?
- Cũng không ổn! Tánh Tường Tri khí khái, không chịu đâu! Phải chinh phục trái tim anh chàng. Cái đó là ngón sở trường của phái đẹp, như em hồi nào đã tung nhiều chiêu độc “hốt hồn” anh vậy…
Nghe chồng nói chí lý, bà chị bày vẽ mấy “ ngón chiêu hồn” cho em gái. Suy phận mình già kén đến lỡ thời, vả lại qua tán tụng của chị và anh rể, cũng như qua mấy lần giao tiếp, Thùy Dung đã đem lòng ái mộ một con người hiền nhu đến nhút nhát mà chân tình; mẫu người cũng mô phạm. Một hôm Thùy Dung uốn ba tấc lưỡi, khéo thuyết phục, mời được Tường Tri đi tham quan Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ở Hà Nội bao lâu mà hết đi học xa đến nhiệm vụ gần trọng đại, được dịp người đẹp mà là em vợ của đồng đội thân tình mời mọc, anh đâu dám chối từ.
Hôm nay cô nàng trang phục sơ-mi màu hồng đào, váy xanh da trời, trông mảnh mai non tơ. Hương nước hoa Eau de Colonne quen thuộc chan hòa hơi thở. Càng gợi cảm khi kề vai cánh tay trần nõn nà. Và đôi bắp chân thon trắng ngần, đong đưa bàn chân đi săng-đan nhịp bước thong dong dáng tiểu thơ. Một vẻ đẹp tổng hòa kiêu sa, quyến rũ từ gương mặt tươi sáng thùy mị cho đến bàn chân gót chân son. Với anh cảm nhận thẩm mỹ thêm phần sang trọng còn là giữa khung cảnh kiến trúc Quốc Tử Giám tôn nghiêm, vườn cổ thụ xum xuê, hoa kiểng xanh tươi ngoạn mục. Hơn nữa được nghe cô nàng dẫn giải từ cảnh quan đến nội thất, giúp anh nhận ra bao điều mới mẻ. Thùy Dung hồn nhiên nắm tay anh, vừa đi tới đâu vừa thỏ thẻ giọng oanh vàng tới đó:
– Văn Miếu được xây dựng năm Canh Tuất -1070, đời Lý Thánh Tông. Bắt đầu từ cổng chính gọi là: Văn Miếu Môn, đi tiếp là cổng Đại Trung Môn, hai bên có hai cửa nhỏ kia là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn. Vào tiếp là Khuê Văn Các. Kiến trúc được thu nhỏ. Tầng gác phía trên là một lầu vuông, tám mái, bốn bên tường là 4 cửa sổ tròn biểu trưng hình mặt trời tỏa sáng. Hồ nước Thiên Quang Tỉnh hình vuông - tượng trưng giếng soi ánh mặt trời. Khuê Văn Các hàm ý tất cả tinh tú của bầu trời tỏa xuống trái đất. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được danh nhân hội tụ thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay… Khuê Văn Các được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội. Hai bên Khuê Văn Các có hai cửa dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sỹ. Ta vào xem đi anh… - Thùy Dung tiếp dẫn giải qua kiến thức thư viện khá rành rẽ - Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa,… cao nhất là Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa đá. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ về các khoa thi …
Sau khi xem lướt nhà bia Tiến sĩ, Thùy Dung đưa anh vào khu trung tâm của Văn Miếu, dẫn giải: “Khu nầy gồm hai công trình lớn: Văn miếu thờ Khổng Tử, và tứ phối đó là: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử... Còn Quốc Tử Giám là trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 7 thế kỷ hoạt động, đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước… Ban đầu trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại thần quyền quí (nên gọi là Quốc Tử). Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám, thu nhận con cái thường dân có sức học xuất sắc. Người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam là Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An. Ông mất năm 1370, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử”…
Ấn tượng buổi tham quan Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đêm về chàng trai tơ ngoài bốn chục trăn trở. Cánh tay trần rượi mát cùng đôi mắt tình tứ hốt hồn ru anh vào cõi mộng. Bên tai đâu đây giọng oanh vàng tao nhã cho anh cảm nhận đem vào kho tàng kiến thức: “Trước Công nguyên 77 năm, Đức Khổng Tử đã loan sấm truyền chân lý răn đời cho tới ngày nay. Quả ông cha ta - những bậc hiền tài, lập Văn Miếu - Quốc Tử giám, thờ Khổng Tử bậc tiên sư dạy đạo làm người truyền lưu hậu thế thật sáng suốt!” Ngữ điệu ra chiều âu yếm, rung cảm lòng anh xiết bao! Hơn nữa, đáng cảm phục trí tuệ uyên bác. Em đã làm phong phú trí tuệ cho anh, nên trong niềm tri ân lắng sâu mơ mộng “phải lòng!”. Song anh chỉ biết lặng thầm yêu em thiết tha!... Vậy rồi đêm đêm giằng xé lòng!…
Cùng nỗi niềm thường tình chi phối hạnh phúc tình yêu, chị Thùy An quan tâm duyên phận em gái, thăm dò:
- Mấy lâu đi với Tường Tri, thái độ anh chàng thế nào?
- Chúng em chưa hề thốt nên lời đả động đến tình yêu hôn nhân. Anh chàng kín như bưng. Thật là chán mớ đời! Trước nay em chưa bao giờ phải hạ mình chiều chuộng ai đến thế!
- Kìa em! Đừng tự ái. Em nhìn lại mình đi? - Thùy An thuận miệng xướng câu ca dao xưa: Còn duyên kẻ đón người đưa, hết duyên đi sớm về trưa một mình. Em ơi!
- Hết duyên mặc kệ em! Có hôm đang đi với nhau vui vẻ, bỗng dừng lại nghe loa công cộng trên cây, bảo nghe đài đọc lời kêu gọi của Bác Hồ nhân ngày 27 tháng 7. Đó rồi mặt buồn xo… Nhưng tình yêu phải đến từ hai phía chứ chị! Chỉ được có đôi mắt đưa tình và giọng cười hiền lành...
- Tại con người ít nói mà em. Mà tình yêu đâu nhất thiết phải nói nên lời. Anh ấy có đôi mắt nhìn truyền cảm lạ thường, em không để ý sao! Phải biết “bắt nhãn” em à. Tội nghiệp em gái tôi! Già chát mà chưa biết yêu.
- Cám ơ-ơn! - Thùy Dung sầm gương mặt kiêu sa buông giọng dỗi hờn - Thật là muối mặt khi phải đi xin xỏ một mảnh tình muộn!
Vẫn giữ phong độ đoan trang, lịch thiệp, Thùy Dung lại khéo mời Tường Tri nhân ngày nghỉ, thu xếp ổn nhiệm vụ, đi chơi thuyền Hồ Tây.
Ngày tháng lu bù với máy móc, dầu mỡ, được một lần đi với người đẹp tham quan, tôi bồi kiến thức, lưu lại mộng mơ quyến rũ. Mỹ cảm Tường Tri bừng thức, hồn lãng tử hồi sinh. Thoạt xuống thuyền, anh giành chèo, biểu diễn tài nghệ dân sông nước Cửu Long, chèo điệu Bến Tre một cây. Mái quát đẩy tới mạnh, mái cạy thu về miết nước giữ thăng bằng, thẳng hướng. Con thuyền như chiếc lá phóng băng băng; xé nước, nổi sóng làm Thùy Dung sợ chìm kêu oai oái… Anh phải dừng lại, thả bồng bềnh con thuyền ra giữa hồ ngoạn cảnh. Thùy Dung với kiến thức “thư viện” uyên bác, hồn nhiên dẫn giải ngợi ca Hồ Tây là gương mặt của Hà Nội, là thắng cảnh, là lá phổi của chốn Long Thành, anh thấy có khoan khoái không anh Tường Tri? Hồ là một đoạn sông Hồng lâu đời còn rớt lại sau khi đổi dòng, có diện tích 500 ha, đường vòng quanh hồ 17 km… Xưa tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương). Thế kỷ XV đời Lê Thế Tông, tên húy của vua là Duy Đàm nên đổi là Tây Hồ. Tới thời Trịnh Tạc hiệu Tây Vương, kị chữ Tây nên đổi là Đoái Hồ. Tây Vương băng, dân gian gọi trở lại Tây Hồ tới ngày nay. Xưa kia các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần, nay là chùa Trấn Quốc… Còn nếu dạo quanh hồ thì có nhiều di tích, thắng cảnh, như làng Nghi Tàm: quê hương Bà Huyện Thanh Quan; làng Nhật Tân xứ sở hoa đào; làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng… Hôm nào rảnh việc ta du ngoạn trên bờ quanh Hồ Tây anh Tường Tri nhé!
Chèo thuyền một lúc, Thùy Dung bảo anh vào bờ, trả tiền thuê thuyền, dạo đường Thanh Niên xanh cây bóng mát, nối liền hai hồ như cây cầu “khổng lồ” bắc qua dòng sông. Nàng kể: “Xưa do đắp con đập ngăn đôi hai hồ tên là đường Cố Ngự, tức Cố Ngự Yến, nghĩa: đập giữ vững, sau dân gian gọi trại là Cổ Ngư. Ban đầu nhỏ hẹp; năm 1960 hằng vạn thanh niên đắp rộng ra, nhân đó Bác Hồ đặt tên mới: “Đường Thanh Niên”. Đến cuối đường, Thùy Dung níu anh dừng lại bên cội giáng hương, trỏ tay về bên đông Hồ Tây:
– Anh nhìn kìa!
Anh nhìn theo tay nàng. Đó là con đường nhỏ cẩn đá với hàng cau cùng cây xanh dẫn ra bán đảo toàn bộ khung cảnh ngôi chùa Trấn Quốc uy nghi, cổ kính. Một ngọn tháp màu gạch nung mười tầng cao ngất nghểu đến ngọn cây, lừng lững giữa khuôn viên cụm vườn tháp cùng vườn cây u tịch xanh um. Phối cảnh lẫm liệt còn bởi cội bồ đề xum xuê sát mặt hồ, soi bóng lung linh cực kỳ ngoạn mục!
- Lưu ý anh… - Nàng cầm tay anh - Cội bồ đề cuối bán đảo đó là quà tặng của cố Tổng thống Ấn Độ khi ông sang thăm Hà Nội năm 1959.
– Vì sao Ngài không tặng cho chùa nào khác - Tường Tri tò mò - lại tặng cho chùa nầy?
– Thách đố em há! - Vẻ động não giây lát, thùy Dung tiếp - Đây là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, dựng từ thời Lý Nam Đế (544-548), nguyên là chùa Khai Quốc - có nghĩa mở nước, nằm trên bãi Yên Hoa bên bờ sông Hồng; do bãi sông bị lở nên qua nhiều triều đại dời chỗ và được trùng tu khang trang dần lên; vào đời vua Lê Hy Tông (1680-1705) chùa đổi tên là Trấn Quốc - có nghĩa là giữ nước…
– Nếu vậy trong chùa trang trí nội thất chắc lộng lẫy và trưng bày nhiều báu vật quý lắm? Ta vào tham quan đi?
– Đúng vậy! Chùa có nhiều nếp nhà: nhà Tổ, nhà văn bia... Gian chính điện thờ tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng to lớn, cùng nhiều tượng Phật khác. Đáng xem nữa là vườn tháp lớn và nhiều vườn tháp nhỏ tạo hình công phu, lộng lẫy… - Thùy Dung ngoảnh sang ven hồ Trúc Bạch, nơi nhà hàng bánh tôm Hồ Tây thu mình trong chòm cây xanh xôn xao - Nhưng để hôm khác rộng thời gian, còn bây giờ trưa rồi, chèo thuyền mệt rồi, đói nữa, ta vào nhà hàng thưởng thức bánh tôm Hồ Tây đi.
Thùy Dung khẽ dắt tay anh bước vào nhà hàng, ngồi ngó ra hồ Trúc Bạch. Gió thu hiu hiu thoáng mát. Mới hay bụng đang cồn cào, ăn miếng bánh tôm khoái khẩu, Tường Tri kín đáo liếc nhìn Thùy Dung trào lòng thiện cảm. Qua con mắt anh, Thùy Dung quả tình xinh đẹp. Người trẻ hơn tuổi. Nhan sắc con gái đất Hà Thành nổi tiếng khắp nơi! Da trắng hồng, tóc bom-bê đen mướt buông rèm nửa vầng trán, bo tròn sau gáy ôm khít đôi má hồng. Đôi mắt đen láy, luôn lung linh dò xét, lung linh trữ tình, bất chợt liếc xéo anh một cái bén ngót làm trái tim anh xao động. Một vẻ đẹp vừa thùy mị vừa sắc sảo kiêu sa, kén chọn tới từng tuổi ba mươi lăm cũng phải. Mắt anh đắm đuối chiêm ngưỡng người đẹp, song bị bắt gặp thì miệng nức nở khen bánh tôm Hồ Tây hương vị độc đáo. Bánh từng cái nhỏ vàng ruộm ôm con tôm hồng trong dĩa trắng, trang trí rau cải xanh, màu sắc hài hòa ngon mắt, ăn một miếng gọn lỏn; gợi nhớ bánh xèo miền Tây Nam Bộ quá trời!
Vui miệng, Thùy Dung bình phẩm quang cảnh ven hồ Trúc Bạch với nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh góc tây nam, cùng với Hồ Tây tạo thành một thắng cảnh thiên nhiên hài hòa của Thủ đô Hà Nội! Nhưng mà nhìn bao quát tổng thể mới càng thấy thắng cảnh hoàn mỹ và độc đáo còn là nhờ con đường Thanh Niên xanh tươi xum xuê bóng mát.
Bất chợt Thùy Dung bật cười rúc rích:
– Hình như hồn lãng mạn của con người là trời cho? Em ngẫu hứng mấy câu “thẩn”, đọc anh nghe thử, đừng cười nhé!
Anh ngừng ăn, gật đầu thuận tình, nhìn mông lung theo lời nàng đọc.
“Con đường Thanh Niên xanh tươi lá cành như chàng trai xinh
Sánh vai vầy duyên cùng hai cô gái Hồ Tây và hồ Trúc Bạch.
Ba phía chung quanh hồ phố đông khuất lấp…
Duy phía tây chàng Thanh Niên thắp hương tình yêu
nồng nàn
Tâm hồn hai cô nàng lung linh ánh mắt
như mặt hồ lăn tăn sóng …
ru êm mời chào muôn phương…
Thương cho Hồ Tây già nua như… như-ư… Tường Tri
Còn Trúc Bạch trẻ trung như-ư… Thùy Dung nên chàng trai phải lòng!”
- Ôi! Thơ rồi chớ còn thẩn gì nữa! - Quên mất thực khách đầy chật nhà hàng bánh tôm, anh điềm nhiên cười ồ - Nhưng mà chê Hồ Tây già nua không sợ Tường Tri tự ái sao?
- Thì ngót thế kỷ không già là sao? Mà nếu là thơ thì phải cấu tứ lãng mạn chứ đâu ngữ nghĩa thô thiển. Nói vậy chớ Hồ Tây càng già càng trẻ đẹp ra bỏ xa tuổi tác, hấp dẫn du khách toàn thế giới chớ bộ. Em hình như hơi bị lây giọng Sài Gòn rồi đó nghen…! Nhưng em tin anh không tự ái em mới dám bạo vậy chớ. Đúng không nào!
- Đúng quá! - Tường Tri cười, nhủ thầm: thử thả “dê” ra coi sao? - Nhưng mà nhờ thơ tôn vinh cho nên tác giả thơ càng đáng… đáng yêu qua-á… chừng!
- Ứ- ừ …! - Thùy Dung khiêm nhường ngúng nguẩy điệu con gái, nói lảng - Đáng yêu thì về nhà chị em ăn cơm. Ăn bánh lấy vị chớ ăn lấy bị quá ra cố thực!
ính cách khí khái như Tường Tri, thường giữ kẽ, thậm chí tự dối lòng. Thùy Dung không hiểu thấu lòng anh cũng phải. Từ căn phòng riêng trong doanh trại, mỗi sáng đi ra sân bay tác nghiệp, Tường Tri qua ngang cụm nhà căn-tin, cửa hàng bách hóa và thư viện. Anh thường nhìn trộm vào thư viện. Quả như ca từ của một bài hát: Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Dù làm nũng với chị Thùy An, song khi chạm ánh mắt trữ tình bừng sáng gương mặt khôi ngô hiền như phật của anh, Thùy Dung tươi cười gọi anh vào mời mọc:
- Đã ăn bánh tôm Hồ Tây rồi, mai chủ nhật, anh thu xếp công việc, mình đi thưởng thức chả cá Lã Vọng, nổi tiếng Hà Nội anh nhé!
- Lã Vọng là Khương Tử Nha, bậc đại thần phò nhà Chu diệt nhà Thương - Trụ Vương bên Tàu. - Mới nghe lạ tai, anh hỏi vặn - Duyên cớ gì thành danh chả cá Lã Vọng ở Hà Nội đây?
- Mà có đi ăn cho biết mùi vị đặc sản Hà Nội không?
Gắt yêu giọng “rầy rà” dễ thương quá chừng, anh nhũn nhặn:
- Giờ thì… em bảo sao anh nghe vậy!
- Ôi, ngoan quá! - Thùy Dung chợt cười lớn - Sao không gọi em bằng “đồng chí” nữa? Từ nay cho em xin hai tiếng đồng chí đó nghe!
Sáng hôm sau, Thùy Dung cùng anh lên taxi, vừa yên vị, cô bảo:
- Đến số 14 phố Chả cá, quận Hoàn Kiếm.
- Ồ! Cả phố đều bán chả cá? - Tường Tri chợt hứng ít khi thấy hát lên khúc ca từ trong bài “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi: Xanh tươi bát ngát Tây Hồ, Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai… - phịa thêm - Hàng Chả cá! Há há!…
- Buồn cười cái anh nầy! Để em kể cho nghe …
Nàng thao thao bất tuyệt về cái món chả cá nổi tiếng đến mức xóa tên phố xưa chính là ngõ Hàng Sơn. Kể ra sức hấp dẫn của món ăn cũng kỳ diệu, “giết chết” một tên phố của người ta! Bây giờ không còn ai bán sơn, mà cả phố cũng chỉ độc có mỗi nhà hàng chả cá Lã Vọng; còn lại bán bán tạp hóa linh tinh. Mặc dù về sau có nhiều phố khác lập nhà hàng chả cá Lã Vọng, nhưng thực khách vẫn thích đến nhà hàng nầy để còn thả hồn hoài niệm thời cổ xưa. Từ lâu lắm cửa hàng đã bày thêm tượng ông Lã Vọng - Khương Tử Nha, ẩn dật bó gối ngồi câu cá, do đó thành danh “Chả cá Lã Vọng”. Còn bây giờ tới rồi, bác tài, tiền xe. Ta vào ăn đi anh. Giữa trưa chủ nhật thực khách vào ăn rất đông, khá nhiều khách nước ngoài. Nàng khẽ rỉ tai anh đủ nghe:
- Chính người Âu họ ăn khen ngon nên “thổi” phồng lên đưa vào sách cái câu là: một trong 10 nơi nên biết trước khi chết! Mê hồn chưa? Chả làm bằng cá lăng tươi. Đặc biệt hiếm, cực ngon là chả làm bằng cá anh vũ. Cá nầy ở theo suối trên Việt Trì. Nhưng phổ biến ở đây là cá nheo, cá quả. Chuẩn bị ăn, người ta mới mang những kẹp chả cá đã được nướng “điệu nghệ” cho vào chảo mỡ - mà phải là mỡ chó, đó là tuyệt chiêu khiến chả cá Lã Vọng nổi tiếng.
– Họ “lòe” đó! - Anh xì - Làm gì có đủ mỡ chó mà dùng cho hằng ngàn thực khách ăn đặc nhà hàng tối ngày thế kia từ năm nầy tháng nọ?
– Nghe vậy biết vậy đi. Chú ý theo dõi kìa!
Sau khi kẹp chả cá được nướng cho vào chảo mỡ, người đầu bếp cho thêm hành và rau thì là vào. Rau chín gắp cá ra bát cùng với bún, rau thơm, đậu phộng rang và đĩa mắm tôm pha chế công phu. Tập trung khẩu vị Tường Tri nhấm nháp một cách ngon lành miếng cá ngọt bùi vừa béo vừa thơm, lại hòa hợp và đầy màu sắc: cá hồng, hành xanh, thì là xanh, ớt đỏ, thật là thích mắt. Chủ nhà hàng còn cung cấp thông tin cho thực khách: cửa hàng là căn nhà cổ xây dựng vào năm… xưa lắm; được sửa sang lại vài lần, như là một số nội thất: chiếc cầu thang gỗ, chiếc ghế cũ kỹ và một số đồ vật khác với hằng trăm năm tuổi vẫn được gia đình lưu giữ…
Đi với người đẹp, mình là đấng mày râu, ăn xong, Tường Tri toan móc hầu bao, nhưng kịp bắt gặp nửa con mắt nàng liếc xéo bén ngót, vội thụt, ngồi im re. Theo dõi cuộc trả tiền, anh thầm thót ruột. Về đến doanh trại, cô đưa anh vào căng-tin kêu hai ly cocktail, hỏi cảm tưởng. Anh đáp:
- Đúng là ngon do lạ miệng, cũng nhờ khéo chế biến. Thì ra là cá lóc, chẳng phải cá lăng gì đâu. Cá anh vũ là quảng cáo! Mà đã đi ăn cho biết thì cái sự biết nào cũng phải trả giá; cái giá không thể so đo mắc rẻ. Có điều người ta lạm dụng cái danh truyền mà cắt cổ thiên hạ. - Khẽ nhấp ngụm cocktail, anh chép miệng tiếp - Ăn chả cá Lã Vọng gợi anh liên tưởng hồi tiền khởi nghĩa ở Sài Gòn, bế tắc tìm Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng, anh lang thang tìm đọc tiểu thuyết tình lãng mạn, đọc tạp chí Nam Phong tình cờ bắt gặp hai bài thơ “Câu cá” viết về Khương Tử Nha, nên giờ đây cảm thấy “tội nghiệp” cho bật hiền thần đại tài đi phục vụ thương nhân kinh doanh!
– Anh có thể nói rõ hơn đi! Còn nhớ bài thơ, thử đọc em nghe đi?
– Thơ Đường luật, hai bài 16 câu, đọc nghe dài. Anh lược đôi câu thôi nghen?
– Miễn thoát ý cũng được. - Vẻ hiếu kỳ, Thùy Dung giục - Anh đọc đi!
– Lỗi phải thây ai chẳng lụy cầu - Anh đọc - Sao bằng thong thả một cần câu… Bỏ cặp trạng, cặp luận câu 4 như vầy: Neo gành, Lã Vọng nhấp công hầu. Ý thơ nói: Lã Vọng câu công hầu là cầu minh quân; cốt tử muốn đem tài thao lược phò vua giúp nước. Cặp kết thoát tứ trên: Giang san thế để mình là thợ/ Sanh sát quyền ta có biết đâu? Lã Vọng phản biện hùng hồn: Ta đâu phải “thợ”! Thật sự ta câu lưỡi câu thẳng đây mà! Và khẳng định: non nước thế gian có biết đâu: Sanh sát quyền ta?... - Anh quậy ly cocktail leng keng ngầm chờ Thùy Dung chiêm nghiệm, lại tiếp – Đây là bài 2, từ cặp luận đến hết, bổ sung bài 1, tỏ rõ ý chí, nguyện vọng hiền tài: Thao lược đã đành ngàn dặm bủa/ Giang san tóm rốc một tay phăng/ Lâu nay trên bến dòng sông Vị/ Mơ tưởng xe Châu biến nói năng. Tác giả bài thơ anh không nhớ tên, nhưng chắc người Nam Kỳ nên gọi chệch Chu là Châu. Câu thơ cũng rõ ý là khát vọng phò Minh quân tức Chu Văn Vương. Còn có truyền thuyết minh họa cho bài thơ và gần với chính sử, ta cũng nên biết: “Trước khi lên đường đi săn, Chu Văn Vương hỏi người cận thần sành nghề bói toán: Hôm nay ta săn được gì? Người bói toán gieo quẻ rồi trả lời: không phải gấu, không phải trăn, không phải rắn, mà được bậc sư phụ của tiên vương. Sự diễn ra đúng như lời. Văn Vương đi đến bờ sông Vị, gặp Khương Tử Nha ngồi câu cá mà lưỡi câu thẳng, thấy lạ bèn hỏi, Tử Nha thưa: “Lưỡi câu bình thường chỉ câu được cá. Lưỡi câu nầy mới câu được minh chủ”. Sau khi đàm đạo tâm đắc, Chu Văn Vương nhận ra ông là nhân tài xuất chúng, liền đón về phong làm Thái sư, chức quan cao nhứt cả về chánh trị và quân sự đầu đời nhà Chu. Nói chung có nhiều truyền thuyết và cả tranh vẽ về Lã Vọng. Nghe sơ vậy thôi nhé!
– Nhưng em vẫn khó hiểu về cái tên Lã Vọng? Ông họ Khương mà!
– Thì ra là vầy. Ông họ tên là Khương Vọng, còn gọi là Tử Nha, sau thiên cư qua đất Lã nên đổi sang họ Lã. Khi làm Thái sư nhà Chu được tôn xưng là Sư Thượng phu. Sử Trung Quốc còn gọi ông nhiều tên theo chức tước và tục danh trong đó có tên Lã Vọng, Lã Nha…. Hồi nãy anh trót lỡ lời nói “tội nghiệp” bậc hiền tài đại thần, e lỗi đạo phạm thượng. Biết rằng “hậu sanh khả úy”, nhưng chớ nên xúc phạm tiền nhân, hơn nữa là một bậc đại thần; vị tướng vĩ đại, đã phò tá nhà Chu lập nên sự nghiệp kéo dài hơn 800 năm; một triều đại dài nhứt trong lịch sử Trung Quốc.
– Thế mà… - Thùy Dung chắc lưỡi - Người ta truyền miệng “dị bản”: Lã Vọng về hưu ẩn dật ngồi bó gối câu cá. Nhà hàng đặt bức tượng ông già ngồi câu cá giữa cửa mang tên Chả cá Lã Vọng, bắt vị đại thần xuất chúng câu khách kinh doanh làm giàu! Theo em nghĩ, dù bất cứ nước nào cũng là lỗi đạo xúc phạm! Hơn nữa là bậc đại thần của một nước lớn gần gũi nước ta!
– Nhà hàng “chém” đẹp quá! Thấy em đếm tiền trả mà anh xó-ót…
Thoắt đưa ngón tay mũi viết xinh đẹp chận đôi môi anh, Thùy Dung nói lời thâm thúy với giọng điệu ngọt như mía lùi:
- Anh ơi! Cụm từ tiền bạc đi cặp kè với nhau. Tiền khắc đến, bạc khắc đi! “Bạc bẽo” mà! Anh đừng sợ em hao tốn. Rồi tiền lại đến nữa. Lẽ thường tình mà anh, nên quên. Để dành nhớ cái đáng nhớ là kỷ niệm giữa hai chúng mình sánh đôi đi cùng nhau… Có đúng thế không… anh… nhỉ?
Câu nói đầy ẩn ý… đáng yêu quá! Thế mà anh chỉ gật đầu đáp gióng một “Ờ, đúng!” khô khan. Nàng bỏ qua bởi đang ngẫu hứng triết lý ngon miệng lại thao thao:
- Nếu mai đây anh trở về Sài Gòn, cũng nên biết một chút về văn hóa ẩm thực ở Hà Nội! Ăn cũng là văn hóa. Vậy hôm nào mình đi thưởng thức nhiều món ăn đặc trưng Hà Nội: nào các món bún, món phở, nào bánh cuốn Thanh Trì gia truyền từ ngót 60 năm, nào các món điểm tâm hấp dẫn như cốm làng Vòng. Độc đáo cốm xanh mát thơm mùi lúa non và thoang thoảng hương lá sen…
- Thôi! Thôi! Em kể nghe đã ngon rồi, coi như đã ăn no rồi! Biết mùi vị rồi! Ăn cho “biết” thì cũng đã ăn bánh tôm Hồ Tây, chả cá cá Lã Vọng rồi. Ăn nhiều nữa biết nhiều nữa, hao tiền em nhiều nữa. Vây nên dừng lại kỷ niệm nào đáng nhớ lâu là đủ.
Bị khước từ, Thùy Dung thoáng buồn. Dường như cô định nói gì đâm cụt hứng, im lặng. Anh cũng muốn bày tỏ nỗi lòng lại vô duyên lên giọng “thầy đời”; còn lời tình yêu từ cõi lòng muốn thổ lộ thì lưỡi thụt đâu mất…
rong một dịp tiếp xúc với cán bộ miền Nam ra Bắc họp, Tường Tri được nghe kể tình hình miền Nam. Điển hình là Sư đoàn 25 Mỹ -“Tia chớp nhiệt đới”; đóng chốt ở Đồng Dù, đã chà xát Củ Chi bình địa, thành “đất trắng”! Ỷ cường quốc, Mỹ tuyên bố đầy tham vọng hỗn láo: “Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá!”. Trong khi nầy ở miền Bắc, không quân Mỹ leo thang đánh phá dần ra Hà Nội. Ngày ngày, đài đưa tin những trận bom tàn sát đẫm máu đồng bào cả hai miền nghe càng xốn xang! Cái nỗi niềm thương đau thường trực giằng xé tâm hồn anh! Tình yêu lứa đôi và tình cảm chiến trường tranh chấp ngày đêm giằng xé tâm trạng anh - người con của Sài Gòn!
Tập trung phục vụ chuyên cơ cho Bác Hồ thật an toàn, nhưng lòng anh thì bức xúc trở về miền Nam - Sài Gòn “cố hương”, chia lửa cùng đồng chí đồng bào đang đổ máu hy sinh chiến đấu. Lời kêu gọi của Bác Hồ nhân ngày 27-7: Đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta, tăng cường đánh phá bằng máy bay B.52 và chất độc hóa học… khiến lòng anh thêm bức xúc. Một hôm anh viết đơn lên phòng tổ chức, đề đạt nguyện vọng xin cử người thay thế anh, đặc trách chuyên cơ cho Bác Hồ để anh được về Nam tham gia chống Mỹ. Xem đơn xong, đồng chí cán bộ tổ chức trầm ngâm một lúc rồi ưu ái nhìn thẳng Tường Tri, ôn tồn:
- Nguyện vọng thật là chính đáng; cảm động! Nhưng có lẽ sẽ giải quyết sau. Còn hiện giờ, ngoài Tường Tri thì tổ chức chưa tìm thấy ai thay đồng chí. Nói để đồng chí rõ, là Trung đoàn không quân vận tải 919 đang cần cán bộ kỹ thuật hàng không dữ lắm. Đã có công văn của trung đoàn đề nghị tăng cường đích danh Tường Tri biệt phái sang giúp một thời gian. Cũng bởi trước mắt chưa tìm thấy ai thay, nên phải giữ đồng chí lại!
Bần thần một lúc, Tường Tri nài nỉ:
- Có một người bạn cùng học kỹ thuật hàng không bên Trung Quốc với tôi, có thể thay thế tôi lo chuyên cơ cho Bác được?
- Là ai vậy?
- Trung úy Phước Lợi. Vợ đồng chí ấy là Thùy An, nhân viên Phòng Chánh trị.
Đồng chí cán bộ Tổ chức chợt cười lớn:
- Tưởng ai, chứ Phước Lợi thì chúng tôi còn lạ gì. Không được đâu! Kỹ thuật máy bay vận tải như thế nào đồng chí Tường Tri dư biết. Rất cần kỹ thuật thật giỏi! Vả lại Phước Lợi phụ trách đầu ngành, chỉ huy bao nhiêu là thợ máy. Không phải đánh giá đồng chí yếu hơn đâu, không phải, hoàn toàn không phải! Nhưng việc ai, người nấy quen. Mà không chừng chúng tôi chen kẽ hở nhiệm vụ của đồng chí, xin Bác biệt phái Tường Tri sang tiếp sức một thời gian ngắn; khi Bác cần thì điều đồng chí trở về. Còn bây giờ thì… Thôi đồng chí vui lòng trở về yên tâm lo chuyên cơ cho Bác Hồ an toàn như lâu nay đi! Nghe nói Tường Tri được Bác ưu ái lắm mà! Đây còn là vấn đề tình cảm nữa.
Dập gót chào theo tư thế quân nhân, Tường Tri quay ra thầm lẩm bẩm: Đúng là miệng lưỡi cán bộ tổ chức, người nào cũng môi mép dẻo nhẹo, nói khéo như hát ru!
***
Một tối thứ bảy, nhận lời Phước Lợi, anh tới thăm nhà. Không khí diễn ra đầm ấm. Hai chị em Thùy An lăng xăng dọn cốm làng Vòng. Khi bưng dĩa cốm đặc sản thơm mềm khứu giác, Thùy Dung tươi cười cảnh báo Tường Tri với anh chị:
- Hôm nọ em gợi ý mời anh Tường Tri đi thưởng thức các món ăn dân tộc đặc trưng Hà Nội như bánh cuốn Thanh Trì gia truyền, cốm làng Vòng và nhiều món khác. Chẳng những anh khước từ mà còn “chỉnh” em: Ăn cho “biết” thì cũng đã ăn bánh tôm Hồ Tây, chả cá cá Lã Vọng rồi. Ăn nhiều nữa biết nhiều nữa, lại hao tiền em nhiều nữa. Trời, sợ hao! Dân Nam Kỳ gì kỳ cục! Nghe đồn là hào phóng lắm mà!
- Kìa em! - Thùy An vẻ phật ý - Vuốt mặt phải nể mũi chứ! Còn anh Phước Lợi ngồi đây mà lậy!
- Anh cũng thấy Tường Tri kỳ cục thiệt - Phước Lợi đập mạnh vai Tường Tri - Ông kỹ tánh, giữ kẽ quá hèn gì ế vợ phải! Ông bà ta thường nói: “Làm cách sạch ruột, làm chuột mau no”.[1]
- Câu ví von đó em không đồng ý anh An đâu nhé! - Thùy Dung gọi anh rể bằng tên của chị, phản ứng tức thì - Anh là bạn tâm giao anh Tri, nhưng hiểu anh Tri hình như chưa tới. Em cũng không phải đã hiểu gì hơn anh. Nhưng anh Tri không phải hạng người chịu làm chuột đâu. Kỹ tính hay giữ kẽ xuất phát từ lòng tự trọng. Làm chuột tham ăn là đớn hèn. Thà cô đơn hơn đớn hèn!
Phước Lợi cũng thấy mình muốn “binh” em vợ hóa ra lỡ lời, phản cảm, giả lả:
- Thôi huề cả làng. Em Thùy Dung chí lý. Tranh luận nhân cách tình đời thường phức tạp. Bây giờ mình ăn cốm làng Vòng là hóa giải liền phiền-phức-tạp!
Tường Tri ngồi trơ mắt ếch ra cười hì hì. Khi đón nhận phần quà, anh liếc nhìn người đẹp lả lơi một chút rồi chú mục vào cái dĩa trắng với cốm xanh màu mạ non tỏa mùi thơm ngon đầy hương vị thiên nhiên.
Giây phút thưởng thức món ngon vật lạ chỉ còn nghe tiếng lách cách của muỗng dĩa và tiếng nhai chóp chép trần tục. Bà chị lắm lời nhỏ nhẹ tán tụng:
- Cốm nầy làm bằng lúa non vừa ngậm sữa hai phần hạt, nên ngày xưa chỉ làm cho vua ăn. Kỹ thuật gia truyền bí ẩn khó ở đâu làm được, trừ ở làng Vòng.
- Chưa chắc! - Phước Lợi phản ứng vợ - Bây giờ ba sáu phố phường Hà Nội, phố nào cũng bày bán cốm làng Vòng. Mượn danh đặc sản câu thiên hạ, làm đại trà, gói bằng ni-long chớ phải lá sen đâu, chất lượng dở òm! Chỉ có mua tại lò làng Vòng - Ô Cầu Giấy như Thùy Dung chịu khó đi xa mới thực sự ngon. Hả Thùy Dung? - Hỏi em vợ mà mắt nháy nhó Tường Tri…
Bữa thưởng thức đặc sản xong, Phước Lợi tươi rói gương mặt sạm nắng, gảy gảy mái đầu lổm xổm tóc rễ tre, cười hệch hạc, giọng miền biển ồm ồm:
- Hôm nay, ta hợp nhau đây, coi như hai gia đình. Thùy Dung em ruột Thùy An; Tường Tri, đồng đội ruột Phược Lợi. Vậy tiện dịp bốn mặt, một lời, nên đính ước hôn nhân giữa Thùy Dung và Tường Tri cho rồi. Thùy Dung vừa sửa lưng anh thì chắc cũng đã tìm hiểu Tường Tri rồi. Vậy nghĩ sao, em?
Không gian chợt lặng im, chỉ vọng vào âm thanh phố phường vào đêm rì rào.
Dự đoán ý đồ cuộc gặp đột xuất, Tường Tri gương mặt hiền thừ ra trang nghiêm, xoay xoay tách trà trên dĩa sứ Bát Tràng hoa văn tinh xảo. Tâm trạng dồn lên rối nuồi những câu hỏi nao nao hồn cố hương!... Còn Thùy Dung nhạy cảm nữ tính, thoát ngay không khí nặng nề, từ tốn cân nhắc chặt chẽ, vặn vẹo anh rể:
- Anh nên nói thay mặt cho hai gia đình thì đúng hơn “coi như”. Còn nói em tìm hiểu anh Tường Tri tới chữ thì chưa ắt. Giữa anh Tri và em, một anh luống tuổi “phòng không”; một chị quá lứa thời xuân “cô phòng”. Hai người không ai còn trẻ nữa, thiết nghĩ không nên hỏi thế.
- Tại sao không nên? - Thùy An lườm em, bỗng tương thành ngữ - Cá cắn câu để lâu hết mồi! Già chát còn điệu hạnh!
- Em ơi! Thùy An ơi! - Phước Lợi dân trải đời khá nhạy bén - Em gái mình có lý lắm! Dịu ngọt với em nó một chút đi!
- Thế Thùy Dung trả lời chị đi em? - Bà chị trở lại ngọt xớt - Đó là anh chị biết tôn trọng tự do hôn nhân mà lỵ. Tại sao không nên hỏi, hả em?
- Em nói không nên hỏi thế; có nghĩa là cách hỏi buộc đương sự phải đáp một lời trước bốn mặt. Hỏi vậy, cho em xin lỗi: hơi bị xưa!
- Chà chà! - Thùy An lại nóng mũi, ỷ giọng chị mắng em - Đừng có hỗn! Em tự phụ rồi đấy. Cô Cử ạ! Trả lời đi! Xưa là thế nào?
- Là khác bây giờ.
- Bây giờ sao?
- Bây giờ phải có thời gian cho đương sự người ta trao đổi kỹ càng chuyện hệ trọng cả cuộc đời của hai người. Khi đồng thuận tay đôi hứa chắc một lời, chừng ấy mới trình thưa xin phép gia đình hai bên.
- Chấp nhận! - Anh rể bặt thiệp ưu ái nhìn em vợ - Thùy Dung chí lý! Dục tốc bất đạt! Vậy anh và chị Thùy An “thay mặt hai gia đình” chấp nhận và vui mừng mong chờ sớm nhận được lời hai anh chị xin phép cưới nhau!
(còn tiếp)
Nguồn: Biệt ly huy hoàng. Tiểu thuyết của Thanh Giang. NXB Văn học, 2011.
www.trieuxuan.info
[1] Phương ngữ Nam Bộ: làm cách: chỉ tính cách, làm kiểu làm cách, cầu cao.
|