tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
30.07.2018
Thanh Giang
Biệt ly huy hoàng

 



8      



 










   H




 


ồi nầy giặc Mỹ thua đau ở miền Nam, mở những trận càn lớn đánh phá thảm khốc! Không lực Hoa Kỳ tăng cường leo thang, phát động chiến tranh phá hoại đánh lấn ra miền Bắc. Bác Hồ ít khi đi đâu. Tường Tri được phái sang phục vụ kỹ thuật ở trung đoàn không quân vận tải 919, việc nhiều lu bù. Công tác ở đây anh vui mừng gặp lại phi công Nguyễn Văn Ba bạn cũ thời chín năm chống Pháp ở miền Tây Nam bộ. Nguyễn Văn Ba quê Bến Tre, người vạm vỡ, gương mặt đầy đặn, điềm đạm. Một hôm nhân ngày nghỉ, rủ nhau ra căng-tin uống cà phê, Tường Tri gợi chuyện:


 


- Nghe đồn anh Ba từng lập chiến công bắn rơi chiếc máy bay C.123 của Mỹ, đâu kể nghe coi?


 


- Chuyện từ hồi năm 1965, nguội ngắt! - Ba vặn lại - Mà tôi nhớ hồi đó ông học kỹ thuật hàng không Trung Quốc, được trưng dụng sang cùng với cán bộ kỹ thuật bên nầy giúp sửa chữa hỏng hóc chiếc T.28 kia mà!


 


- Nhưng sửa xong mình trở về ngay với chiếc chuyên cơ của Bác Hồ. Thường Bác đi đâu, bảo vệ không báo trước thời gian dài, nên phải luôn túc trực. Nay được dịp về công tác chung, mình muốn nghe “người hùng” kể chuyện đọ cánh trên mây vào ban đêm ly kỳ như thế nào?


 


- Người ta đồn thổi đó thôi! - Nguyễn Văn Ba ái náy lời khen tặng - Chiến công của một người, nhưng thành công nhờ nhiều người… Do tình báo nội tuyến của ta trong Sài Gòn báo ra Cục 2 theo hệ thống: tin một máy bay C.123 của Sài Gòn vào đêm X bay ra thả biệt kích khu vực Mai Châu. Bộ Tư lệnh Không quân nhận được lệnh truyền, chỉ đạo các bộ phận liên quan sẵn sàng hành động... Phối hợp tin, đêm ấy từ Vĩnh Linh báo ra: Có một máy bay lạ từ Sài Gòn bay ra hướng Tây bắc. Hoa tiêu Lê Thành được lệnh lên đài Rada theo dõi. Phi công Nguyễn Văn Ba được trang bị chiếc máy bay T.28 lấy được của Mỹ, nhận lệnh sẵn sàng cất cánh. Hoa tiêu theo dõi đài ra đa bắt được mục tiêu, anh chờ cho chiếc C.123 tới không phận Hà Tĩnh mới lên đài ra-đa dẫn phi công Nguyễn Văn Ba cất cánh. Chiếc T.28 bay theo hoa tiêu dẫn, truy đuổi chiếc C.123. Phải nói bay đêm, nhìn mắt thường khó bắt mục tiêu, phải nhờ ở nhà chỉ huy. Khi nhìn thấy mục tiêu, Nguyễn Văn Ba truy đuổi sát sườn. Phát hiện địch thủ đang lao tới phía phải, chiếc C.123 vọt lên mây mất hút. Trong đêm mây mù, phi công T.28 mất mục tiêu lúng túng. Kịp thời hoa tiêu Lê Thành hướng dẫn chiếc T.28 vọt lên mây, chiếm ưu thế trên cao. Nguyễn Văn Ba cất cánh vọt lên trên khối mây, bắt được mục tiêu, điều chỉnh đường ngắm, bắn một loạt đại liên 12 ly 7. Biết bị trúng đạn, tuy còn bay được, nhưng chiếc C123 hoảng loạn toan mở cửa nhảy dù. Không hiểu lính quýnh sao đó nó hạ đít xuống, lộ phần giữa đèn sáng rực, mục tiêu càng rõ. Nguyễn Văn Ba bắn tiếp loạt 12 ly 7 trúng bóc vào bụng chiếc C.123. Chưa kịp thực hiện mưu đồ phá hoại miền Bắc, chiếc C.123 cùng toán biệt kích rơi xuống tan tành nơi vùng rừng núi biên giới Việt Lào.


 


 Nhâm nhi cà phê, đôi bạn rỉ rả chuyện xưa: “Anh Ba học phi công bên Trung Quốc, lái máy bay Liên Xô, Tiệp Khắc, về nước sử dụng chiếc T.28 của Mỹ; lại bay tập ban ngày mà đọ cánh ban đêm. Kể cũng tài!” - Tường Tri khen. “ Tài gì! - Nguyễn Văn Ba phản bác - Ta nói: Chiến công tôn vinh một người, thành công nhờ nhiều người, thông thường đều như vậy. Phải kể đầu tiên là nhờ anh phi công cánh hữu người Lào, lái chiếc T.28 của Mỹ sang Việt Nam tị nạn chính trị, khi nội bộ Vương quốc Lào biến động. Kiểm tra máy móc có một vài bộ phận hỏng hóc, sau khi sửa chữa hoàn chỉnh. Chủ yếu là nhờ anh phi công Lào huấn luyện và hướng dẫn bay tập. Bay với phi công Lào hướng dẫn ba vòng, tôi bay được. Rồi bay tập cùng vài đồng chí có kinh nghiệm nữa, mới bay đơn thuần thục… Nhưng người có công gián tiếp thường vô danh. Bởi vậy, người có công trực tiếp được tôn vinh, phải nên tri ân!...”


 


 Chuyện gì rồi cũng lấp chìm khi nỗi nhớ miền Nam da diết cồn lên!


 


Năm sau, 1969, Bác Hồ đi xa vào đúng ngày kỷ niệm Quốc khánh lần thứ hai mươi bốn!... Những ngày đất nước đại tang, Tường Tri khóc vùi giữa biển thần dân tiếc thương lãnh tụ, sục sùi tuôn nước mắt. Những hôm ấy linh hiển thiên cơ, dầm dề trời tuôn mưa. Giọng Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc lời di chúc của Bác vang vang tầng trời như sấm truyền:


 


 Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài…


 


 …Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà...”


 


  Tường Tri đã hoàn thành trọng trách đối với Bác Hồ, anh lên Phòng Tổ chức đệ đơn xin trở về chiến trường. Lại gặp đồng chí cán bộ tổ chức khéo nói lần trước, Tường Tri đề đạt thẳng nguyện vọng xin về chiến trường Sài Gòn - Gia Định với lý do là quê cha sinh thành. Thông cảm nguyện vọng chính đáng, đồng chí cán bộ hứa thỉnh thị lên cấp trên, sẽ giải quyết. Chỉ mấy hôm sau, Tường Tri được mời lên nhận quyết định đề bạt cấp quân hàm Trung úy và giấy tờ thủ tục từ đây đến đơn vị “Đoàn cán bộ đặc biệt”, chuẩn bị hành quân. Ngoài ra những thủ tục bí mật, lý lịch, hồ sơ… quan trọng khác thì tổ chức sẽ điện về cơ quan Khu ủy T.4. Còn khi lên đường tuyệt đối không được mang theo bất cứ giấy tờ hay sổ sách gì, kể cả hình ảnh...


 


 Đạt nguyện vọng, Tường Tri âm thầm chuẩn bị hành trang và cùng đơn vị đi ghép, ban đêm mang gạch tập luyện sức dẻo dai leo Trường Sơn. Anh kín tiếng không hé răng cho Phước Lợi hay biết gì cả. Thấy bạn “cột chèo” lâu không trả lời chuyện cưới hỏi Thùy Dung, anh tới gặp Tường Tri cật vấn:


 


- Thiệt, tôi hết biết ông đó ông trời ơi!? Cưới Thùy Dung đi, còn đòi ai hơn nữa?


 


- Từ từ cha nội! - Tường Tri cười trừ hì hì.


 


- Bác Hồ mất, bộ ông tính về Nam sao?


 


- Chưa đâu!


 


 - Vậy tại sao không cưới phắt Thùy Dung cho rồi đi? Già ngắt còn dùng dằng?


 


 - Không có gì mới hơn để nói sao?


 


Cào cào mái tóc rễ tre, Phước Lợi đứng dậy phủi đít hầm hầm bước ra, nện gót giày cộp cộp trên hành lang. Tường Tri bước ra nhìn theo, mặt buồn xo, thương bạn quá! Anh trở vô ngồi thừ một lúc, định viết thư cho Thùy Dung. Một việc làm chưa hề quen, lấy giấy ra rồi hai tay ôm mặt ngồi nhìn. Lặng thầm sống cuộc sống nội tâm, Tường Tri luôn mộng mơ Thùy Dung đức hạnh, đoan trang, trí tuệ uyên bác; tha thiết tỏ tình một cách tinh tế khiêm nhường vô cùng đáng yêu! Vợ hiền như thế còn đòi ai hơn? Song, cũng chính mối tình rót ngọt vào trái tim giọng oanh vàng Hà thành thỏ thẻ, đánh thức mối tình mắt xanh với Việt La trên sân băng Thiên Tân êm đềm. Tình cũ dù đã dứt rồi, mà lời nguyền thủy chung lòng son còn vấn vương! Chẳng lẽ người đời cứ tha hồ thề nguyền “lấy lòng” nhau rồi nhẹ như không phản bội lời nguyền! Hơn nữa còn lời nguyền thiêng liêng là đối với Tổ Quốc, quê hương...


 


Đêm thưởng thức hương vị cốm làng Vòng, tưởng ngọt bùi mà cay đắng. Lá thư không viết nổi, đêm lại anh gọi điện mời Thùy Dung ra Hồ Tây giãi bày… Vắng mặt Tương Tri hơi lâu; có lẽ linh cảm điều gì, nàng đến với anh ngay. Hai người ngồi cùng băng đá bên gốc phượng già sùm sòa, nhìn mênh mông Hồ Tây. Mặt hồ in lung linh bàng bạc ánh trăng thu. Trăng non mùng tám vào khuya còn khuyết nửa vầng, mông lung buồn. Gió hơi thu tàn hiu hiu. Gương mặt Thùy Dung xinh đẹp nhuận hồng giờ có vẻ xanh xao nhìn đến nao lòng. Hẳn nhiên nàng hiểu lòng anh lắm. Mặc dù anh chưa mở lời nào. Ngồi bên nhau lặng yên, hai người như lắng nghe trong hồn nhau cùng tiếng lá cành rì rào theo gió hồ hiu hắt. Dường không chịu nổi im lặng, em gượng vui, anh biết. Em ngâm khẽ đoạn thơ mà em gọi là “thẩn”, chất giọng rất trong, dần dần nhão nhè:


 


 “Con đường Thanh Niên xanh tươi lá cành như chàng trai xinh


 


 Sánh vai vầy duyên cùng hai cô gái mỹ miều Hồ Tây            và Trúc Bạch.


 


 Ba phía chung quanh hồ phố đông khuất lấp…”


 


 Chợt lặng im. Một tiếng nấc kềm chế. Nàng nép đầu vào vai anh, giọng đứt quãng thủ thỉ:


 


 - Anh đọc… tiếp đi! Có lẽ là… anh đó. Anh đến từ phía tây thắp hương… cõi lòng em… tình yêu. Em… chưa biết yêu anh à!


 


 Chợt lòng thổn thức, nghe vùng ngực nhói lên, giọt nước mắt trào ra, anh ghì chặt đôi vai em. Mãi một lúc khi em lắc vai có ý giục, anh bùi ngùi đọc tiếp:


 


“Duy phía tây chàng Thanh Niên…


 


                  thắp hương tình yêu nồng nàn


 


     nồng điệu tâm hồn …


 


                             bâng khuâng…


 


         hai nàng… lung linh ánh mắt


 


      như mặt hồ lăn tăn sóng…


 


                                        ru êm…


 


mời chào muôn phương…”


 


Giọng anh cũng nhão ra không đọc nổi nữa. Bấy giờ nàng tỏ ra nghị lực, cười gượng:


 


– Mấy câu sau trần trụi vô duyên, hôm ấy vui, đêm nay…!


 


Lại im lặng, vai nàng khẽ run run. Vuốt nhẹ mái tóc bom-bê buông rèm nửa vầng trán lành lạnh sương đêm, anh xa xót áp má lên sưởi ấm. Xa xăm mặt hồ sương mù quyện ánh trăng non chìm dần. Anh ôm vai Thùy Dung siết mạnh rồi nới lỏng, giọng ngậm ngùi thì thào như gió:


 


 - Anh muốn tỏ bày cùng em một chuyện… Nhưng… ngại em buồn!


 


 – Không buồn đâu! Em hiểu. - Nàng đáp trong trẻo, cứng cỏi.


 


 – Hiểu sao?


 


 Nàng lặng im ngoảnh nhìn ra khơi mặt hồ mù sương. Lòng chàng lại quặn lên giằng xé… Vợ hiền như Thùy Dung còn đòi ai hơn? Song quê hương miền Nam đang đổ máu hy sinh chống Mỹ cứu nước. Đây mới là sứ mạng thiêng liêng hơn bất cứ mọi lời nguyền! Mà lời nguyền cũng chẳng phải mắc với ai; mắc với chính lương tâm mình… Anh rung cảm trước một đức hạnh thấu cả lý tưởng, tâm trạng người tình. Em đã tự phán xét mình nghiêm khắc trong hành xử đáng khâm phục. Anh ỉ ôi như lời tạ ơn:


 


 – Em bảo không buồn! - Anh ghì chặt vai em, dập dồn hơi thở - Vậy là em đã hiểu thấu lòng anh. Ôi! Anh tạc dạ ghi lòng cảm ơn em một tấm chân tình!


 


 Một làn gió mỏng lả lướt cành phượng vĩ la đà mặt hồ khẽ lay rồi lặng im tiếc nuối một mùa hoa đỏ biệt ly. Không gian đìu hiu buồn tàn thu. Ánh trăng non cũng đã tàn, hình lưỡi liềm chìm một cách vấn vương trần gian cho đến lúc còn chút xíu mũi nhọn mới đành biệt tăm. Ánh trăng mặt hồ trung hòa từ từ mờ ảo. Dường như nỗi niềm hóa giải, gương mặt em trở lại tươi hồng. Bấy giờ dù em đã hiểu, anh vẫn xúc động thì thào tỏ bày khúc nôi... Ngôn từ dẫu thừa, song cũng là phương tiện cho nhau cảm thông. Cho anh ghi vào tâm tưởng suốt cuộc đời chiến chinh, những lời Thùy Dung sẻ chia, ngợi ca từ tấm lòng cao thượng đáng giá ngàn vàng:


 


 “Em thực lòng khâm phục anh dám từ chối hạnh phúc tình yêu, để trở về miền Nam xông vào cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chẳng nề gian khổ hy sinh!.. Em bịn rịn anh là có lỗi! Anh giữ vẹn lời nguyền với mối tình Việt La sâu nặng, là phải đạo! Tuy nhiên, em hiểu lòng anh yêu em biết dường nào! Mối tình nầy đối với em là đầu đời. Em chưa ước hẹn lời nguyền với ai, nhưng em thà ở vậy cô phòng còn hơn đớn hèn! Em chỉ thương anh mai đây trở về chiến trường khói lửa; chiến đấu hy sinh biết đâu lường! Song dù sinh tử, em vẫn hẹn lòng dõi theo anh như người tình trong mộng tưởng!... ”


 


 Dứt lời Thùy Dung ôm chầm lấy anh, ngả đầu vào ngực anh run run đôi vai mềm… Thương trào nước mắt, Tường Tri ôm siết cô vào lòng, nghẹn ngào nói không nên lời…


 


 


 


 


 



9



 










  H




 


ay chuyện hôn nhân hai vợ chồng nhiệt tình xây dựng không thành, Phước Lợi đi gặp Tường Tri nhằn anh quá cỡ thợ mộc:


 


- Hứa làm bạn cột chèo mà giờ mầy bỏ tao mình ên! Trung đoàn không quân 919 đang rất cần cán bộ kỹ thuật. Thì vẫn cứ ở yên Hà Nội, làm việc, cưới vợ như tao với Thùy An. Có ai trách cứ gièm pha: lỏng cậy đuôi, sọc dưa gì đâu mà sợ?


 


 - Ông Trương Phi ơi! Xin đừng thịnh nộ. - Tường Tri nhỏ nhẹ trần tình - Ông không nhớ hồi năm 60 - 61, tổ chức các đoàn mang tên Phương Đông một, Phương Đông hai, vượt Trường Sơn trở về chi viện cho miền Nam, tuyển chọn rất gắt gao. Có đảng viên mới được đi. Có vợ con không được đi; thậm chí có người yêu hứa hôn cũng không được đi! Thương thay cho bao cuộc tình duyên kẻ tuôn nước mắt đất Bắc, người khóc thầm dọc đường Trường Sơn!


 


 - Thì có vợ mà vẫn đi được thôi! Mà tao cũng chạy tét mầy luôn. Tội gì tự mình ràng buộc lời nguyền chi cho tâm trạng mang gông thủy chung? Mầy hủ lậu bỏ xừ. Mẫu hình nầy nghe đâu lai rai có người cho vô bảo tàng. Bây giờ người ta sống gấp, sống thử. Thì cứ hứa đại với Thùy Dung đi, chừng thống nhứt nước nhà cưới nhau có sao đâu? Tội nghiệp nó thất tình về khóc với Thùy An sưng chù vù hai con mắt!


 


 - Cũng xót đau lắm chớ ông ơi! Như hồi ở bên Thiên Tân - Trung Quốc đó. Ông cũng như tôi. Chúng ta cắt đứt tình duyên, là sứ mạng công dân đối với Tổ quốc, sứ mạng người con đối với miền Nam quê hương đang chống Mỹ cứu nước. - Tường Tri ngẩng nhìn Phước Lợi độ lượng - Khi tôi cạn tỏ ngọn ngành nỗi lòng, Thùy Dung đồng cảm ngay, sẵn sàng dứt đường tơ, khẩu khí chan chát nam nhi: “Thà em cô phòng ở vậy chứ không đớn hèn. Em mà bịn rịn anh là có lỗi vô cùng!”. Khẩu khí nghe ngon không? Là đứa con miền Nam…


 


 - Thôi, thôi! Ông thợ máy chánh trị viên ơi, thôi đừng giũa nữa! Thốn tới óc rồi! – Phước Lợi chừng thấm ý, đập vai Tường Tri giả lả - Nghĩ ông già mày đặt tên con độc thiệt! Tường Tri, hiểu biết tận tường.


 


***


 


 Giận thì giận mà thương thì thương cực kỳ. Ngày Tường Tri lên đường, vợ chồng Phước Lợi làm bữa cơm chia tay thịnh soạn; tha hồ cho hai chị em Thùy An, Thùy Dung trổ tài nấu nướng. Đặc biệt chị Thùy An đãi cậu em rể “hụt” món miến lươn Hà Nội ăn ấn tượng nhớ đời. Miến, chị bảo phụ bếp Thùy Dung rửa thật sạch, trụng nước sôi rồi được trụng lại vào nồi nước dùng đun sôi với thịt lươn cho miến nở, thấm độ đậm, ngọt của nước dùng rồi cho vào bát của mỗi người. Bấy giờ hai anh em bạn cột chèo “hụt” đã ngồi vào bàn, dùng mắt thưởng thức màu sắc “hội họa”: những miếng thịt lươn xào săn cho vào nước dùng phô màu vàng óng của da lươn. Hành hoa và rau răm thái nhỏ li ti xanh xanh rắc lên thịt lươn rồi chan nước dùng màu nâu, đậm đặc càng nổi bật mùi vị ngọt bùi thơm ngon.


 


 – Thùy Dung! - Thùy An nhắc em gái - Này, chan xâm xấp chứ đừng chan võng em nhé! Vì miến đã trương nở đủ bằng nước dùng. Hơn nữa, miến là miến tầu, làm bằng đỗ xanh nên sợi miến nhỏ mà giòn chứ không nát, nghe chưa. Em gái tôi chỉ biết có sách thôi, món ăn thì giỏi đi nhà hàng. Xin mời hai anh em bạn cột chèo. Ôi, thì cứ gọi như vậy đi cho vui mà! Xin mời! Nào, gay chèo! Tường Tri, chèo thật lực em rể nhé! À mà quên, rắc hạt tiêu nữa chứ, tiêu sọ xay nhuyễn, rắc nhiều ít tùy khẩu vị mỗi người nhé!


 


Đã từng thưởng thức, Phước Lợi tán tụng:


 


 – Món miến lươn hấp dẫn mọi mùa, nhưng phải nói càng hấp dẫn là vào những ngày vào đông rét ngọt thế nầy. Bởi dù rét đến mấy mà khi bưng lên bát miến lươn nóng hổi thơm phức là rét mướt chạy trốn mất! Hê! Hê! Bát miến lươn ăn tới miếng cuối cùng vẫn còn nóng. Đạt đến trình độ nghệ thuật ấy là chỉ có vợ tui… à nghen!


 


 - Thôi đừng có nịnh! - Thùy An để bát miến xuống, nguýt chồng - Đúng hơn là nhờ em gái phụ bếp thao tác sành điệu.


 


 – Không! Đúng nhất là… nhờ anh Tường Tri. - Thùy Dung gượng vui, đưa mắt âu yếm nhìn người tình trong mộng tưởng.


 


 Tiêu sọ cay ác, Tường Tri hít hà trả lời:


 


– Tôi chỉ có há mồm ăn chớ có nhờ gì đâu.


 


 – Chính anh là đối tượng được chiêu đãi. Nhà có mấy khi mà chị Thùy An chịu khó như thế nầy đâu? Phải không chị Thùy An?


 


 – Em gái chị nói chí phải! - Thùy An cười ra nước mắt do ăn nóng và tiêu cay - Mà sao cậu em rể không nghe khen gì hết thế?


 


- Lạ miệng đem vào ấn tượng nhớ đời! - Trả lời chị, mắt Tường Tri liếc nhìn cô em, buông tiếp câu đùa – Ngon tuyệt vời chưa biết tìm đâu xứng lời, chị vơ-ợ… ơi!


 


Tiếng cười dậy ran tưởng vang ra tận phố đông ồn ào. Chỉ có Thùy Dung cười mủm mỉm trông duyên thầm như gái mới lớn. Tiệc chia tay mà vui vẻ ấm áp. Hầu như cố vui cho át nỗi buồn. Nhìn Thùy Dung hồn nhiên, khó mà nhận ra nàng khép kín tâm trạng đầu đời một lần duyên lỡ! Sau đêm tâm tình bên Hồ Tây, Thùy Dung đan chiếc áo len màu hoa đào. Trước phút luyến lưu kẻ ở, người đi, Thùy Dung mang gói quà trao tặng Tường Tri. Nàng vẫn tươi vui vẻ mặt, nói lời chân tình:


 


 – Em tặng anh chiếc áo lên đường Trường Sơn mùa đông. Chiếc áo màu hoa đào. - Thùy Dung mấp máy vành môi hồng định nói thêm: Em không ẩn ý nhủ anh: gần mai chớ quên đào, nhưng nín lặng, nghĩ rằng nhớ nhớ quên quên tự ở lòng. Lắm lời hay bị thừa.


 


 Trân trọng ôm gói quà vừa nhận, Tường Tri bước đến ôm hôn Phước Lợi thắm thiết; bắt tay Thùy An rất chặt, nói lời cám ơn bữa miến lươn Hà Nội nhớ đời. Sau cùng đến nắm tay Thùy Dung, muốn nói gì mà nghẹn ngào hồi lâu, lặng lẽ quay ra.


 


Thùy Dung lại tỏ ra cứng cỏi, bước theo tiễn chân Tường Tri. Hai người sánh vai nhau đi trong im lặng. Không gian chiều tàn thu giao mùa đông sang. Gió vi vu tràn khí lạnh. Hơi sương mờ ảo trùm lên phố phường Hà Nội. Hàng sấu bên đường thu tàn không lá vàng. Hình như nổi bật trong hàng cây, chỉ cây sấu xum xuê cành lá, chen trái lúc lỉu đẫm sương xanh bóng. Lẫm liệt vươn mình trong sương giá, cây sấu như chàng trai oai phong cường tráng! Còn cây hoa sữa Thùy Dung đứng bên đây, đang mùa hoa mãn khai. Hoa kết từng chùm trắng trinh nõn nà, rủ xuống tương tự mai chiếu thủy, tỏa hương ngào ngạt. Đối diện “chàng trai cường tráng”, cây hoa sữa trông duyên dáng kiêu sa như cô tiểu thơ! Chính vào cuối thu vừa chớm sang đông, hoa sữa lại thơm nồng nàn hơn, hương loang xa dịu ngọt đậm đà hơn. Tiểu thơ mà anh thư trong rét lạnh. Thùy Dung nhìn bâng quơ nén thổn thức, thả hồn chiêm ngưỡng phong cảnh như thường quen, nhằm khóa kín nỗi niềm mà nếu nói ra thêm buồn lòng cho nhau. Hầu như mọi ngôn từ bấy giờ trở nên sáo rỗng mà chỉ có lời yêu đương từ tâm hồn giao thoa. Cho đến lúc hai người đi khá xa, anh bảo Thùy Dung trở về, cầm tay nàng, nói lời chắt lọc từ cõi lòng: “Dẫu em và anh không một lời hẹn ước, song anh vẫn giữ hình ảnh em là người tình trong mộng tưởng!”. Nhưng Thùy Dung đâu có ngoan ngoãn quay về. Nàng vẫn đứng lặng bên gốc cây hoa sữa. Trên cành những chùm hoa trinh trắng, yểu điệu rung rinh theo gió mùa đông, loang hương nồng len lỏi cõi buồn. Mắt trong veo sâu lắng điệu chung tình, nàng nhìn anh, khẽ thì thầm:


 


 - Thôi, anh đi! - Lời tiếp theo nàng muốn nói “Hẹn ngày gặp lại”, song tới cửa miệng lời không thốt ra. Bởi đã vô duyên phận thì đem lời nói ràng buộc nhau mà làm gì, nàng nói một câu theo khẩu ngữ không quân - Chúc anh vượt Trường Sơn hạ cánh an toàn!


 


 Tường Tri dùng dằng quay đi rồi ngoái lại: “Thôi, em về!”. Nhưng nàng vẫn đứng lặng bên gốc cây hoa sữa đẫm sương nhìn theo. Gió mùa đông bắc vi vu tràn về rét lạnh. Anh bước đi vài bước lại ngoái nhìn. Nàng vẫn đứng thẫn thờ bên gốc cây hoa sữa, thả hồn cùng hương hoa trong gió rét nhìn theo bóng chàng. Trời Hà Nội đi vào đêm, sương buông càng lúc càng mù sương…


 


 


 


 


 



10



 










  B




 


ấy giờ Tổ chức ra lệnh nghiêm không được mang theo giấy tờ, hình ảnh, cho nên bao nhiêu hình ảnh Việt La và mọi người trong gia đình Vương Dũng, đều phải gởi lại tổ chức. Phải đổi cả bí danh, do đó tên Tường Tri trở thành thường dùng. Kiểm lại chỉ còn hình ảnh người yêu mà cũng phải chia ly, kể ra cũng buồn lòng! Bỗng sực nhớ hộp bánh của Việt La, Tường Tri đem ra, chọn nơi có in bông hoa đẹp, cắt một mảnh hình trái tim mang theo trong ba-lô, cũng như mang theo hình bóng Việt La trong cõi lòng. Vốn nhỏ con, Tường Tri lường trước nên càng siêng tập mang gạch hành quân luyện đôi chân, luyện sức. Ngày lên đường, mang ba lô trang bị đủ thứ cần dùng cá nhân, nặng 30 ký, anh gồng mình từng bước đi!


 


Đường Trường Sơn mùa đông, mưa rừng dầm dề ẩm ướt. Khí núi lạnh thấu xương. Cảm động xiết bao khi mặc tấm áo len hồng đào - tấm tình Thùy Dung sưởi ấm lòng anh suốt dặm trường núi rừng. Sau khi xăn quần lội qua con suối cạn đầu nguồn, Tường Tri bị bong gân đầu gối, càng đi càng đau, đầu gối sưng vù. Lên khỏi suối cà nhắc đi một hồi anh ngoái hỏi Ba Sa - bạn cùng tiểu đội đi phía sau:


 


– Nghe phổ biến đêm nay vượt sông Bến Hải mà sao đi hoài chưa thấy tới?


 


– Qua rồi! – Ba Sa đáp.


 


– Uả! Qua hồi nào?


 


 – Qua hồi xăn quần lội ngang đó.


 


 – Uả! Suối mà! Đâu phải sông?


 


 – Sông Bến Hải ở đầu nguồn mùa nầy nó cạn vậy đó, ông ơi!


 


 – Ai dè! Thì ra Bến Hải được nêu danh trong Hiệp định Genève, toàn thế giới biết tiếng, tưởng đâu mênh mông lắm, lo lội qua sông hụt giò!  


 


 Càng đi, mỗi ngày đầu gối sưng to thêm, Tường Tri đi tụt dần phía sau. Núi cao. Dốc đứng. Lắm dốc leo từng bậc, chân người đi trước như đạp trên đầu người đi sau, mồ hôi tuôn đầm đìa. Với Tường Tri còn tuôn cả nước mắt! Đoàn định gởi anh lại trạm. Anh hình dung: giữa rừng sâu, một hạt gạo lẻ loi rơi ra khỏi ruột tượng đang quàng trên vai mà rùng mình!… Anh báo với Chính trị viên đại đội: dù có chết cũng ráng lết theo. Tuy ai nấy đều mang nặng, nhưng cảm thông, sẵn lòng mang giúp Tường Tri mỗi người một món, như hộp lương khô, tấm tăng, cái võng, ruột tượng gạo… Và bao gạo của anh được ưu tiên nấu trước. Thế là anh cố gồng lưng ba lô bớt nặng, chỏi gậy, đi một chân rưỡi bám theo. Ngày ngày cắn răng đi trong cơn đau tuôn mồ hôi, chảy nước mắt. Đêm đêm dùng dầu xăng bóp đầu gối với ngải rừng. Mải săn sóc cái chân đau, anh cũng không ngờ đồng đội trong đoàn làm sao kiếm được xăng giữa chốn nầy; cũng như đã tìm được ngải rừng cho anh! Chịu đau đến tột cùng, vừa cắn răng vừa đi; vừa đi vừa xoa bóp, dần dần hết đau hồi nào không hay! Bấy giờ anh xin lại những món đồng đội đã mang giùm. Nghĩ càng mang ơn tình thương đồng đội biết dường nào!


 


Nhớ hôm leo lên đỉnh Trường Sơn cao nhất, nghe gọi “ngàn linh một”. Rừng thông chỉ cao khỏi đầu người một vài với, thân èo uộc còi cọc mà vẫn sống ngoan cường, ra bông, kết trái. Tường Tri lượm một trái thông rụng bằng ngón chân cái bỏ túi làm kỷ niệm. Bất chợt nhìn xuống thung sâu, mây trắng mịn như bông quấn quýt đỉnh núi ngọn rừng tươi xanh lô nhô, trông đẹp mắt một cách hùng vĩ! Nào biết làm thơ, vụt cao hứng tự nhiên tức cảnh:


 


“Hôm nay tưởng đâu trời lộn ngược


 


Dưới chân ta mây trắng lốp chập chùng


 


Nghe thiên mệnh đứng canh bầu vũ trụ


 


Đời lính trọn nghì gìn giữ non sông!”


 


Đoàn quân trườn xuống đỉnh chật vật như rùa bò, ẩn hiện trong mây mù quấn quýt. Đội hình giãn dần ra, uốn lượn ngoằn ngoèo trên con đường cong yên ngựa. Đầu người nhấp nhô cùng lưng gù ba lô lướt mây bay, xa trông như đoàn lạc đà đi trong bão cát sa mạc. Bất giác Tường Tri hốt vốc mây thoa lên mặt. Mây tan nhanh như khói. Đột cao hứng muốn hát quá! Hát lên! Tiếng lòng gọi hát lên! Tiếng hát tự nhiên cuộn lên từ gan ruột ngân nga… trong thanh đới:


 


“Non xanh choàng mây trắng


 


Hò lên! Bạn đời ơi!


 


Ta mang tình đất nặng


 


Lên ôm ấp mây trời


 


 


 


Trên cao – cao tiếng hát


 


Cuốn mây trời lau mặt


 


Mây trắng mịn như bông


 


Tiếng hát tràn mênh mông…”


 


Bao tháng ngày dài vượt Trường Sơn, hết đau nầy đến khổ khác. Hồi này sau trận Mậu Thân 1968, không quân Mỹ tăng cường đánh phá dữ dội đường Trường Sơn. Thường khi đoàn phải đi đêm. Có đoạn cấm chống gậy vì sợ để lại dấu vết, biệt kích lần theo! Có hôm, B.52 vừa rải thảm xong, đoàn đi qua. Có hôm, đoàn vừa qua, bom B.52 bừa sau lưng… Đường lắm đoạn bùn lầy ngập ống chân. Bấy giờ trang bị ngược lại: thắt lưng mang dép; chân mang bùn. Nghỉ trưa ăn cơm vắt chỉ có đứng, dựa lưng ba lô vào vách núi, gốc cây. Liên miên thác ghềnh, sông suối nước chảy như cắt. Thấy Tường Tri đứng nhìn dòng sông ngán ngẩm, Ba Sa cựu binh miền Đông, giúp anh đùm ni long hành lý làm phao bơi. Đêm đại ngàn thâm u. Nước dòng sông lạnh ngắt. Một cánh tay ôm phao. Một cánh tay bơi thật lực. Tim đập như trống trận. Bụng thót ruột phập phồng, lo sợ lơ tơ mơ nước cuốn dập vô ghềnh đá tiêu mạng!... Đường núi, lắm khúc lởm chởm đá tai mèo, trật dép chân bật máu! Đường rừng, mối càng cắn để càng lại, rứt ra máu chảy! Vắt xanh ẩn lá cây, nghe hơi người thoắt bắn vào quần áo, lẫn êm ru, hút máu êm ru! Hút no tròn rơi ra bằng mút đũa, mưng máu đỏ bóng, nhìn thấy rợn óc! Đến trạm thường chiều tối, mệt rã rời, cấp tốc nấu cơm dưới mưa rừng củi ướt, khói um. Bụng đói sôi ót ót…! Đói gần như thường bữa. Có trạm kho gạo hết, trên lệnh giữ lại gạo mang theo, mỗi ngày ăn nửa lon gạo hành quân. Các đoàn trước qua, để lại biệt danh: “trạm nửa lon”! Tới trạm dù sớm tối cũng phải chia nhau: người quơ củi, người đóng cọc làm bếp, người lần xuống suối hái môn thụt. Một loại môn bẹ bằng ngón tay út, nhổ cả củ, rễ, để cả lá, rửa sạch, nấu độn nửa lon gạo nhão nhè ăn cả tiểu đội. Ngoài ra ăn độn rau rừng: tàu bay, lá bép, cải trời… Ai nấy gầy tóp, mắt thụt lút sâu hóm!... Nhiều chặng địch phong tỏa, phải vượt trạm, nấu cơm vắt ăn hai ngày, vắt cơm to hơn ngày thường phải dùng que xâm cho không bị thiu.


 


Tới địa phận Quảng Nam, được phổ biến: Có rẫy mì Cách mạng; ai khỏe đi đào mì. Đang đói, không khỏe nhưng Tường Tri cũng “xung phong”. Trạm cho người dẫn, đi luồng luồng trong rừng khá xa mới tới rẫy. Được biết rẫy mì nầy do đồng bào dân tộc miền núi trồng từ trước năm 1960. Rẫy mì trạc hà, cây bật gốc rễ nằm làn khang, cây già xen cây con nhú lá non như rừng. Đồng chí dẫn đường hô: “Nhổ cây lấy củ, chặt hom cắm xuống, cho cây con mọc lên! Đoàn khác tới có ăn!”. Ba Sa lính cựu chiến khu Đ, bày đầu nhổ cả bụi lấy củ, dùng cây mì khô nhóm lửa nướng ăn sốt dẻo. Bấy giờ trời vào đêm, không sợ khói, lửa. Bụng đói meo, ăn một miếng mì nướng nuốt tới đâu, biết tới đó! Tường Tri đào mì xong, ham đào nhiều, củ to buộc dây rừng, chặt cây làm đòn gánh; củ nhỏ cởi quần dài, buộc túm hai ống quần, cho mì vào quảy. Một vai quảy, một vai gánh. Khi lội qua con suối cạn, bục ống quần, mì lọt ra lợt đợt, kêu trời! Ba Sa, quay lại chờ, hối: “Thôi bỏ đi! Anh em người ta về hết rồi!”.“Của đâu bỏ, gạo không có ăn, đào mệt chết cha!”. Nói nghe thương, Ba Sa xuống phụ, bứt dây rừng cột túm lại hai ống quần rách, cùng nhau lọ mọ trong đêm tối lượm từng củ mì. Rồi lại quảy, lại gánh, mồ hôi đầm đìa. Hè hụi leo lên suối đến khuya, trời tối, hoang mang giữa rừng! Ba Sa tỏ ra thạo rừng, gióng hướng, bình tĩnh lần đi. Chính trị viên đại đội ở nhà lo hai người lạc rừng, ngồi đứng không yên, thắp đuốc lồ ồ cùng anh em chia nhau đi tìm. Gặp nhau kêu: “Trời ơi!”. Mừng như chết sống lại! Tàn đuốc lồ ồ bay đỏ rừng, lấp lánh hồng những gương mặt vui cười, ánh mắt sáng trưng. Một nghĩa cử tình đồng đội nghe khỏe nhẹ gian lao. Về đến trạm gần sáng. Ngày hôm sau được nghỉ. Anh Nhị Nam thương tình thiếu thốn, lấy kim chỉ hậu cần trang bị cá nhân, ngồi rị mọ vá lại quần cho Tường Tri. Ăn mì no bụng, nhưng rất nóng ruột, lại là sự khổ! Rồi cũng Ba Sa phổ biến lấy lon hộp sữa không, cắt banh ra, dùng lưỡi lê súng Mas đục lỗ, mài mì thành bột, lấy lá chuối rừng gói từng đòn như bánh tét, nấu ninh. Nhờ vậy, ăn đỡ nóng ruột; giản tiện nữa là mang theo hành quân…


 


 Phải nói, vượt Trường Sơn ba tháng ròng là đi với tốc độ tân binh C; đi với tốc độ chiến trường kêu gọi. Ngoài vượt thác băng rừng, qua sông leo dốc… còn sốt rét ác tính hoành hành. Một số tân binh chưa quen thử thách, bị sốt rét quật ngã, nằm lại dọc đường, rồi nằm lại mãi mãi! Có thể nói gian khổ hơn ác liệt; gian khổ kéo dài suốt rừng núi sông suối thác gềnh… đến mức duy ý chí mới vượt nổi Trường Sơn!


 


 


 


 


 



11



 










V




 


ề đến chiến trường Sài Gòn, mang mật danh Y Tư (còn gọi T Bốn), Tường Tri được biên chế vào một đơn vị biệt động thuộc FK.6 (một phân khu đặc trách Sài Gòn-Gia Định), đóng địa bàn Củ Chi. Người chỉ huy trực tiếp các đội biệt động là Nguyễn Đức Hùng - biệt danh Tư Chu, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng FK.6. Biết Tường Tri giỏi kỹ thuật quân giới, giỏi kỹ thuật động cơ máy bay, Tư Chu rất quý mến anh, phân công anh chuyên lo về các loại vũ khí, cấu trúc mìn tự tạo cùng trái nổ hằng ba bốn trăm ký. Chiến trường Củ Chi quân địch thiết lập vành đai phòng thủ Sài Gòn, tăng quân tinh nhuệ như sư đoàn số 1 - mệnh danh “Anh cả đỏ” thiện chiến, đóng chốt căn cứ đường 13, ngoài ra còn sư đoàn Mỹ 25 tia chớp nhiệt đới chốt căn cứ Đồng Dù và lữ đoàn kỵ binh bay 196 cơ động nhanh. Bom đạn tàn phá khốc liệt; lớp xe tăng, xe ủi chà đi xát lại Bến Cát, Củ Chi thành đất trắng. Nhiều căn cứ bị ủi tan hoang, phải dạt sang bên kia sông Sài Gòn bám vùng Bến Súc, Thanh An. Nhưng do yêu cầu chiến trường trọng điểm Sài Gòn, phải trở về Củ Chi bám hầm ngầm, địa đạo tổ chức đánh vào nội đô. Đế quốc Mỹ từng huênh hoang láo xược: “Đánh cho Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”! Củ Chi thành danh đất thép đúng nghĩa đen. Bốc lên nắm đất bất kỳ nào cũng đều trộn đầy gang thép trong lòng bàn tay. Tường Tri cảm nghĩ: Con người bám trụ tại đây tồn tại để đánh lại kẻ thù thật là kỳ diệu! Những cụm từ hiện đại chưa vô từ điển, anh lần hồi tìm hiểu: “địa đạo xương sống”, “giếng thí”, “ngách trầm”, “nóc thượng”, “hầm kèo”, “ổ chiến đấu liên hoàn”… Cuộc sống ác liệt từng giây phút, trở nên bình thường. Những tháng ngày dưới tầm bom đạn bao lần suýt mất mạng, hình ảnh Việt La thu nhỏ trong mảnh hộp bánh trái tim từ trong đáy ba lô, Tường Tri thi thoảng lấy ra nhìn tơ tưởng thư giãn thần kinh... Chiếc áo len hồng đào Thùy Dung dù không lạnh, mỗi khi ngủ hầm anh vẫn lấy ra ấp lên vùng trái tim đa tình. Sinh mạng mình hầu như muốn quên. Song Tường Tri xốn xang nhất là cái bồng hành trang bị bom tan tành! Quần áo mất còn sắm cái khác, miếng hộp bánh hình trái tim Việt La thì tan vào cát bụi! Cái áo len màu hoa hồng đào, vật kỷ niệm mối tình Thùy Dung cũng bị đạn bom Hoa Kỳ xé nát! Đau quá! Việt La! Thùy Dung! Hình ảnh tình yêu chỉ còn trong trái tim anh.


 


 Là dân Sài Gòn tiền khởi nghĩa, Tường Tri thông thạo hẻm sâu đường ngang phố dọc, Tư Chu đang tạo thế hợp pháp cài anh vào nội thành. Một hôm Tư Chu đến đưa cho Tường Tri bức điện khẩn của Bộ Tư lệnh Miền gọi anh về gấp.


 


 – Chuyện gì trên Miền gọi tôi về đột ngột? - Nhận lệnh ngắn gọn, Tường Tri băn khoăn - Mà sao gọi đích danh một mình tôi, không ai khác?


 


 Tư Chu lắc đầu, đáp:


 


– Chuyện chiến trường khẩn với hỏa tốc là bình thường mà anh Hai!


 


 Nhỏ hơn Tường Tri vài tuổi, Tư Chu luôn gọi nể anh bằng thứ. Sáng hôm sau Tường Tri tạm biệt anh em trong đơn vị, quảy bồng hành lý, thắt thắt lưng đã sẵn các thứ trang bị thời chiến: súng ngắn, bình toong nước, võng, tăng và đèn ngoéo, đến trạm giao liên Ấp 1- Nhuận Đức, nhập đoàn khách lên Miền. Đi bộ đường rừng về căn cứ, lòng anh thầm nhủ: Con người luôn gặp cảnh ngộ khó khăn; mong sao có đủ bản lĩnh vượt lên mọi thử thách! Bấy giờ hiệp định Paris đã ký kết, đi bộ đến trạm cuối thì đã có xe hơi. Đường Lộc Ninh giải phóng từ 1972. Trời chuyển mùa đông vẫn còn nắng gắt. Ngồi trên xe bụi đỏ bay mù, anh nghe lòng ngổn ngang trăm mối. Nhớ biệt ly Việt La thắm thoắt đã mười bốn năm trường! Em đòi theo về cùng anh công tác ở Hà Nội, hồi đó muốn xiêu lòng; phải nghe bướng bây giờ khổ nhau không! Lại nhớ Thùy Dung mối tình lãng mạn bên Hồ Tây. Không tự thắng mình chút xíu nữa cưới rồi! Thời chiến tranh, chia ly nhung nhớ đã đành; hơn nữa để phiền lụy cho nhau căng thần kinh âu lo sống chết mà hao mòn tâm thể. Phóng tầm mắt bên đồi xa xa, rừng cao su xanh mịt in nền trời khói lam gợi nhớ phía ấy có dòng sông Sài Gòn, ven bờ là vùng Thanh An, Bến Súc. Nhớ con đường mòn cắt chéo ngã ba ngã tư vô căn cứ. Nhớ những đêm ra mua nhu yếu phẩm, bà con Thanh An ân tình gởi cho chuối mít. Nhưng rồi, trước khi bàn giao cho quân đội Sài Gòn với sách lược “thay màu da xác chết”, quân Mỹ mở trận càn quy mô với cái tên láo xược: Xê-đa-phôn (Cédarfalls - ngữ nghĩa tàn bạo: “bóc vỏ trái đất”(!). Bom đạn khốc liệt hủy diệt vùng “tam giác sắt”, nặng nề nhất là Thanh An, Bến Súc… Xóm làng đang xanh tươi trù phú, bị tàn phá tan hoang bình địa!


 


 Theo giao liên, Tường Tri về đến trạm trực gần sân bay Lộc Ninh. Sau khi xem giấy giới thiệu, trưởng trạm bảo anh ở đây chờ, sáng mai có người ra làm việc. Sáng, vừa điểm tâm xong, nghe có tiếng người bên ngoài, Tường Tri vội bước ra bỗng sững lại kêu lên:


 


– Trời đất quỉ thần ơi! Anh Ba! Đi đâu đây?


 


– Đi ra gặp anh đây chớ đi đâu. – Nguyễn Văn Ba vẫn phong độ trầm tĩnh, hổn hển đáp, - Tôi đang eng eng muốn sốt. Nghe anh về tới, anh Hai Nhã trong Bộ Tư lệnh Miền bảo tôi ra làm việc với anh ngay.


 


Gặp đồng nghiệp có thời gian công tác chung ở trung đoàn không quân vận tải 919, Tường Tri mừng quá thể. Bẵng lâu không gặp nhau, Tường Tri hỏi:


 


– Vậy anh về Nam hồi nào?


 


– Cũng mới đây thôi. Có lẽ do yêu cầu nhiệm vụ về không quân sao đó, Bộ Tư lệnh Miền bắt quyết tôi về đây, đâu được xuống chiến trường như anh.


 


– Rồi bây giờ chính anh “tâu rỗi” cho mấy ổng bắt tôi về đây?!


 


 – Nhiệm vụ quan trọng mới cần mà, đừng giận! Tôi xuống Y. Tư tìm anh gần hụt hơi! Vô cứ mật của mấy ông biệt động thành khó khăn quá trời, tôi trở về xin lệnh Bộ gọi.


 


 – Mà gọi chi?


 


– Bởi tôi là phi công, đánh nhau trên trời, Bộ giao nhiệm vụ mặt đất. Tôi mới nghĩ ra anh, vì anh có trình độ cơ khí ở Ban quân giới Khu 9, hơn nữa có ba năm học kỹ thuật hàng không bên Trung Quốc. May sao tôi được biết anh về Biệt động Sài Gòn. Ờ! Vậy chớ… - Ba vừa cười, gặng hỏi - Chưa nghe chuyện gì sao? - Tường Tri lắc đầu, Ba nói luôn một hơi - Tụi phi công trực thăng của Sài Gòn đậu chiếc UH-1 tại sân bay Liên Khương cạnh bờ Hồ Xuân Hương - Đà Lạt, chúng nó bỏ đi nhà hàng nhậu. Một phi công trực thăng của ngụy lại là chiến sĩ quân báo của ta, do lực lượng Thành Đoàn cài vô, đã táo bạo lái chiếc trực thăng ấy từ Đà Lạt, bay về chiến khu ngày X -1973. Hiện máy bay đang ngụy trang tại khu rừng căn cứ của Cục Chính trị Miền. Lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, anh cùng chú thanh niên lái chiếc trực thăng về ấy, kiểm tra lại máy móc, bảo quản tốt, chờ lệnh.


 


 Hôm sau, Tường Tri và anh phi công trẻ bí danh là Chinh gặp nhau. Chinh người đậm đà trẻ trung, khôi ngô, kém Tường Tri hơn mười tuổi, xưng hô bằng chú cháu mà như bạn vong niên. Cùng cánh không quân thân nhau nhanh, chú cháu bắt tay thi hành mệnh lệnh. Khi đi kiểm tra chiếc trực thăng, phát hiện bị thủng nhiều lỗ đạn. Chinh bảo là hôm bay về căn cứ bị du kích bắn lên dữ quá, phải bay sát ngọn rừng và nhờ có tấm phòng đạn không thôi rụng nụ rồi. Phát hiện tiếp ở khoang đuôi máy bay, lấy được túi xách có phiếu lý lịch máy bay, số máy bay, số phi vụ và tên của phi hành đoàn hôm ấy, cùng nhiều trang bị cho người bay dùng khi gặp tai nạn phải nhảy dù như: dao, đèn bấm tín hiệu màu, súng ngắn bắn pháo hiệu và một tập ảnh đồi trụy.


 


 Tình hình khẩn trương, đồng chí Hai Nhã - Cục Tham mưu Bộ Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ thị: “Đồng chí Tường Tri từng học kỹ thuật về máy bay bên Trung Quốc, đồng chí Chinh là phi công, lệnh trên giao nhiệm vụ ngoài hai đồng chí không còn ai khác, cố gắng tìm mọi cách đưa chiếc trực thăng nầy ra Hà Nội bằng đường bộ.” Nghe mệnh lệnh quá sức tưởng tượng, Tường Tri và Chinh tháo mồ hôi hột, hai chú cháu nhìn nhau, thở ra! Từng học kỹ thuật hàng không, Tường Tri chưa hề được dạy tháo rời máy bay trực thăng. Còn Chinh thì chỉ biết lái máy bay! Hai chú cháu ra quyết tâm: Chỉ có tìm cách chớ không chịu hết cách! Trước hết nghĩ đến tháo rời máy bay và cũng chỉ có tháo bằng dụng cụ của xe hơi mà thôi.


 


 Với sự trợ giúp đắc lực của anh em đơn vị Cục Hậu cần Miền, chiếc trực thăng được tháo rời từng mảnh và chất cao ngất nghểu trên ba chiếc xe tải lớn. Tình hình khẩn trương, trời vừa hửng sáng, các đồng chí trong Bộ chỉ huy Miền và Cục Tham mưu đã có mặt tại đoàn xe sắp khởi hành, hạ đạt mệnh lệnh lần cuối: “Bằng bất cứ giá nào cũng phải đưa được chiếc máy bay trực thăng nầy ra tới Hà Nội nguyên vẹn, lắp ráp nhanh, bay thử tốt, huấn luyện đội bay cấp tốc, bàn giao xong, trở về chiến trường ngay!”


 


Một thử thách lớn đây! Tháo rã đã khó, lắp ráp càng khó mà lại phải bay tốt! Còn huấn luyện bay chuyển hệ cấp tốc nữa! Tường Tri tự động viên mình, nói với Chinh: “Đường đời bằng phẳng ai cần ta. Đường gập ghềnh thử ta cho biết sức!” Bấy giờ là ngày… tháng 3 - 1974, đoàn xe ba chiếc lăn bánh ngược đường Trường Sơn. Xe chở đạn chở người đường đèo núi đã gian nan. Đằng nầy xe chở thân máy bay cồng kềnh, nghễu nghện cao hơn mặt đường năm, sáu mét, lại đường hẹp, với liên miên đèo dốc, ngầm sâu, vực thẳm. Xe đi lắc la, lắc lư, người ngồi trên muốn rụng tim; vừa đi vừa chặt những cành cây sà xuống vướng mắc, cực kỳ nguy hiểm. Nguy hiểm hơn nữa là không quân Mỹ thường xuyên tăng cường đánh phá ngày đêm.


 


 Một hôm… Đến một đoạn đường do bom nổ làm đổ một cây gỗ thiệt lớn đè lên sườn núi, giáng tảng đá sạt xuống đường, bít lối! Ai nấy ngẩn ngơ, lơ láo! Bấy giờ trời chiều, Tường Tri cho anh em tản vào rừng căng tăng giăng võng nghỉ, tìm suối lấy nước nấu cơm ăn. Anh bàn với anh em trong đoàn:


 


 – Chỉ có cách đi tìm đơn vị công binh trợ giúp.


 


 Ai nấy bảo nên chờ đến sáng mai.


 


 Anh đáp:


 


 – Lệnh giao mọi khâu đều kèm theo cặp từ: nguyên vẹn, an toàn, cấp tốc, trở về ngay!… Như vậy chứng tỏ yêu cầu của thời cơ chiến lược, chiến dịch cực kỳ khẩn trương!


 


 – Giờ ban đêm biết công binh ở đâu mà đi tìm! Chú Hai ơi!


 


Nghe Chinh nói vậy, Tường Tri lặng im, giăng võng nằm thở ra. Đêm rừng đưa võng toòng teeng trằn trọc! Nghe rừng thở mùi lá rữa lưu cữu chan hòa từ trên cao hương hoa phong lan tỏa mùi thơm ngọt ngào. Tổng hòa nguyên khí âm dương cho anh cảm nhận hương tình yêu, tơ tưởng hình ảnh người tình lãng đãng giữa ngàn cây. Băn khoăn tình cảnh bí lối ngặt nghèo, anh thầm thử thách: “Đường bí lối đi không được; ai đi được mới anh hùng” Cũng lạ, cái câu nội tâm thách đố giản dị, bỗng gợi anh nhớ phương ngôn: “Gian nan thử gan anh hùng”. Nóng lòng mở đường đi, anh không chờ trời sáng, trỗi dậy nhìn sao trời, gióng phương hướng, bẻ cò cây con làm dấu trở về. Anh đi lang thang giữa rừng đêm Trường Sơn. Một lúc lâu, nhìn xa xa le lói ánh lửa. Anh men gần, thụp xuống quan sát. Từ bếp lửa bắc cái nồi trên ba hòn đá ánh lên chập chờn một gương mặt chàng trai trẻ. Từng vượt Trường Sơn hồi về, nhận ra đây là bãi khách giao liên, anh bước lại gần, lên tiếng kẻo cậu ta giật mình. Hỏi ra đúng vậy. Anh tìm đến ban chỉ huy trạm, nhờ chỉ giúp một đơn vị bộ đội nào đóng gần. Trưởng trạm ngẫm nghĩ một lúc trả lời phóng chừng: “Hôm qua có đơn vị bộ đội qua đây, thấy họ xem bản đồ, hình như tìm vị trí đóng quân?”. Anh hỏi thăm phương hướng, ghi nhận địa hình; lại đi mênh mông trong hương rừng, mùi hoa cỏ dại, mùi lá rữa lưu cữu, cho cảm nhận một vùng gần suối. Quả nhiên anh tìm được đơn vị công binh Trường Sơn! Mừng quýnh! Sau khi nghe anh kể ngọn ngành chuyến đi gặp sự cố và tính chất nhiệm vụ cấp bách... Đồng chí cán bộ tỏ ra phấn chấn, cử hai tiểu đội lính thợ, khiêng máy phát điện, cưa máy, thuốc nổ TNT cùng búa thầu, con đội, đi theo liền. Về tới nơi tạm nghỉ trời hừng sáng, nghe anh em hú gọi um sùm: tưởng đâu cọp tha chú Hai! Rồi thì: nhiệt tình tuổi trẻ, trí tuệ nghiệp vụ, cộng với cưa máy, thuốc nổ, hì hục lao lực suốt cả ngày; phá banh cây gỗ to, hòn đá tảng. Con đường thông, lối mở. Đoàn xe tiếp tục lên đường, chạy rống rú ầm ĩ mà như rùa bò. Có ngày xe chạy chỉ được mười cây số! Lại một hôm đoàn xe đang bò lên đỉnh dốc, tới khúc quanh của triền núi, thình lình một chiếc xe tăng từ trên dốc lao xuống. Ai nấy hồn vía lên mây xanh, la hét inh ỏi. Chiến sĩ lái xe tăng may thắng kịp, cằn nhằn trạm dưới chân đèo không thông báo. Coi lại đầu xe tăng chỉ còn cách đầu xe chở máy bay chỉ có vài mét. Nhìn qua bên đường là vực sâu thăm thẳm, tất cả xanh máu mặt! Cuộc hành trình đến ngày… tháng 4-1974, thiếu bốn ngày nữa là một tháng tròn, đoàn xe đến trạm Thạch Bàn, trạm cuối cùng của đường Trường Sơn. Nghĩ lại bao nhiêu cam go gập ghềnh hiểm trở, Tường Tri thầm cám ơn các đồng chí công binh của Binh đoàn Trường Sơn đã tận tình giúp đỡ. Chưa kịp nghỉ ngơi đoàn xe được lệnh chuyển hướng về Sơn Tây bằng con đường tắt, không đưa về Hà Nội vì trên đường đi Tọa độ M, đối phương đã phát hiện từ máy bay trinh sát.


 


Đến sân bay Hòa Lạc - Sơn Tây, sau khi Tường Tri và Chinh được nghỉ vài ngày bồi dưỡng lại sức, bắt tay vào lắp ráp ngay chiếc trực thăng UH.1. Được sự hỗ trợ của đơn vị không quân vận tải 919 từ Hà Nội điều lên một xe công trình, có đủ phương tiện và một số thợ cơ khí cho nên sửa chữa được mau lẹ. Nói chung các bộ phận đều nguyên vẹn, chỉ có sửa nhẹ những chỗ vẹo móp trong quá trình vận chuyển và những chỗ bị đạn trong khi bay về căn cứ Lộc Ninh. Chiếc trực thăng lắp ráp hoàn chỉnh chỉ trong mười ngày. Các thông số kỹ thuật của hệ thống điều khiển cơ học và điện tử, các hệ vô tuyến của máy chỉ không lưu, độ rung của cánh quay chính trong quy định cho phép khi thử máy, đều hoạt động bình thường. Kiểm tra đâu đó chắc ăn, để kịp thời gian trở về chiến trường, Tường Tri báo cáo về Bộ Tư lệnh không quân: “Máy bay phát động máy tốt, đề nghị cho bay thử và xin bàn giao”. Ban chỉ huy Không đoàn MI-6 Lê Đình Ký báo cáo ý kiến đề nghị về Bộ Tư lệnh không quân, được phê chuẩn và hẹn 08 giờ ngày… 1974, Thiếu tướng Chính ủy Hoàng Phương cùng cán bộ Ban chỉ huy đoàn MI-6 sẽ đến chứng kiến cuộc bay thử tại sân bay Hòa Lạc.


 


Tường Tri và Chinh chuẩn bị máy bay xong thì đúng giờ hẹn. Chiếc trực thăng MI-2 - Liên Xô khá đẹp của Thiếu tướng Hoàng Phương cũng vừa hạ cánh. Thiếu tướng vui mừng bắt tay Tường Tri và Chinh cùng anh em có mặt, hỏi han sức khoẻ và ngợi khen cuộc vận chuyển kỳ công và thành tích lắp ráp sửa chữa thần tốc. Tường Tri xin phép được cất cánh. Có quá trình tháo và lắp ráp máy bay khác hệ, dù tự tin ở kỹ thuật mình, nhưng khi ngồi lên chiếc trực thăng UH-1 cất cánh bay, Tường Tri và Chinh cũng không sao tránh khỏi phút giây hồi hộp. Chấp hành yêu cầu, Chinh biểu diễn bay vài động tác xạ kích mục tiêu và hạ cánh xuống địa hình khó như ruộng nước lấp xấp, bay vượt chướng ngại và một số động tác theo yêu cầu khác… Cuộc bay thử thành công tốt đẹp. Chính ủy và mọi người hết lời ngợi khen. Thiếu tướng lệnh cho Ban chỉ huy không đoàn MI-6 cùng Tường Tri và Chinh lập phương án huấn luyện cấp tốc cho một tổ phi hành đoàn, chuẩn bị cho tình hình phát triển nhanh chóng ở chiến trường miền Nam. Chấp hành lệnh, hai chú cháu Tường Tri thực hiện ngay chương trình huấn luyện bay chuyển loại cho một tổ 3 phi công: đồng chí Xuân Trường, Ngư và Nhậm; và một tổ kỹ thuật từng bay trực thăng MI-4 Liên Xô, chuyển qua bay UH-1 Mỹ. Sau mười tiếng đồng hồ bay tập chuyển loại, tổ phi công đã bay đơn thuần thục. Phi hành đoàn do Nguyễn Xuân Trường phụ trách, anh từng lái trực thăng vận tải MI-6 cẩu ra-đa, cẩu pháo lên các trận địa trên núi cao và “tha” cả máy bay MIC dưới bụng đi cất giấu, rồi lại tha ra đường băng để bất ngờ cất cánh đánh máy bay Thần Sấm, Con Ma và cả B.52 của Mỹ. Hiểu nhau, từ ấy Xuân Trường và Tường Tri trở thành đôi bạn thân.


 


Hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện, bàn giao lại máy bay cho đoàn trực thăng MI-6, Tường Tri và Chinh được lệnh tập trung về trạm 66 - Hà Nội để trở về chiến trường ngay.


 


 


 



12



 










  Đ




 



 

















 




 

 



ường Trường Sơn hồi nầy mở rộng, xe chở đạn, chở xăng dầu, chở quân vào tấp nập, nên chú cháu Tường Tri được đi xe, về nhanh. Mới tới trạm đầu cầu, Tường Tri và Chinh chưa kịp đặt bồng xuống, Phó Tư lệnh Tư Chu bỗng đâu chạy tới, hai chú cháu mừng quýnh, ôm nhau mừng quá thể. Sau khi nghe Chinh kể tỉ mỉ nhiệm vụ đưa chiếc trực thăng ngược Trường Sơn ra Bắc đã hoàn thành tốt đẹp và nóng lòng đòi về chiến trường. Nghe xong, Phó Tư lệnh FK6 hồ hởi báo tin: Phước Long được giải phóng rồi, ngày 6 -1- 1975. Chắc hai chú cháu còn trên đường Trường Sơn chưa hay. Sau khi giành thắng lợi chiến dịch giải phóng Lộc Ninh, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một vị thế được coi là bức tường thành vững chắc bảo vệ vành đai Sài Gòn. Lần đầu tiên nguỵ quyền bị mất trọn vẹn một tỉnh, Thiệu ra lệnh Sài Gòn cùng thị xã các tỉnh treo cờ tang và dành ba ngày truy điệu cho Phước Long. Sau Mậu Thân, Mỹ thực thi chiến lược “thay màu da xác chết” có nghĩa “dùng người Việt đánh người Việt”, mất tỉnh Phước Long đành cay đắng đón nhận thất bại toàn cục… Đến đây, Tư Chu lôi hai chú cháu ra ngoài nói nhỏ: “Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu rồi! Hai chú cháu do Miền quyết định, chắc còn có nhiệm vụ đặc biệt! Mình về dưới đó trước, nếu còn sống sẽ đón hai cậu ở Sài Gòn!”. Nghe vậy, Tường Tri và Chinh nhảy lên reo mừng như trẻ nít, rồi lại xúc động tiễn Tư Chu ra cửa rừng về nội thành.


 


Hôm sau Tường Tri và Chinh được gọi về Bộ chỉ huy Miền nhận nhiệm vụ mới. Còn nghỉ ở trạm trực, Tường Tri đang tắm dưới suối bỗng Chinh tất tả chạy xuống, chưa thấy mặt đã réo lạc giọng:


 


– Chú Tri ơi! Quyết định đến rồi! Ngày mai hai chú cháu mình về Lữ đoàn 77 nhận nhiệm vụ mới.


 


– Vậy mầy nghe anh trạm trưởng nói nhiệm vụ gì không?


 


– Hổng biết nữa. Nhưng nghe phong thanh phục vụ tác chiến, chiến dịch gì đó.


 


 – Sao mà lẩm cẩm quá trời vậy cưng! - Tường Tri mặc quần áo xong đi lên vừa gắt yêu - Đã nói hổng biết mà còn nghe phong thanh.


 


 Hôm sau, hai chú cháu được chỉ đường mang bồng đi bộ cả ngày trong rừng cao su mới tìm được trạm trực của Lữ đoàn bộ. Sau khi xem giấy, trưởng trạm cho người dẫn hai chú cháu đến gặp Chính uỷ Lữ đoàn. Tối hôm đó làm việc luôn với đồng chí Bạch cán bộ tham mưu, giao nhiệm vụ nói rõ: “Hai đồng chí gấp rút chuẩn bị một sân bay để tiếp thu một máy bay phản lực của Sài Gòn về với ta”. Sáng ngày, đồng chí Bạch đưa Tường Tri và Chinh cùng với cán bộ tham mưu đi trên chiếc xe hơi hiệu Scout ra nghiên cứu sân bay Phước Bình do Cục tham mưu Miền chọn. (Đúng hơn là do “cơ sở nội tuyến” đề nghị với Bộ sân bay nầy). Sau khi quan sát, chú cháu Tường Tri dùng dây đo chính xác chiều dài đường băng, kết hợp đối chiếu bản đồ vùng, do cơ quan tình báo tỉnh Phước Long cung cấp. Nhờ bản đồ làm cơ sở quan sát, tìm hiểu địa hình xung quanh sân bay. Nằm ven tiểu lộ 310, trên đồi dốc thoai thoải cạnh một cứ điểm lớn của nguỵ quân ấp Bình Lan, sân bay có đường hạ và cất cánh theo hướng Đông Bắc và Tây Nam. Chiều dài 1.200 m; có lót ghi nhôm cứng 1.000 m và 200 m đường đất bảo hiểm không lót ghi. Chiều rộng 22 m; độ cao so với mặt biển 242 m. Phía Đông Bắc cách núi Bà Rá khoảng 8 km; cách Sài Gòn 107 km đường chim bay…


 


Được bố trí bám lại trận địa E.128 pháo phòng không, Tường Tri và Chinh tiếp tục công việc: vẽ lại các ký hiệu trên mặt đường băng, kiểm tra lại mặt đường, xác định độ an toàn, báo cáo về trên và xin lực lượng dọn vệ sinh để tránh tai nạn khi hạ cánh… Ngày 28-3-1975, đồng chí Hai Nhã, Cục tham mưu cùng một số cán bộ khác, có cả cán bộ trong Thành phố đến kiểm tra rất hài lòng. Đồng chí Hai Nhã tỏ ý còn ngại là đường băng quá ngắn. Tường Tri giải thích cho các anh yên tâm: “Về tính năng kỹ thuật của phản lực cơ F.5E có tốc độ hạ cánh giảm còn 320 đến 300 km/giờ. Khi hạ cánh, máy bay vừa chạm đất, phi công sẽ cho bung dù giảm tốc, đồng thời cánh tà (Volet d’atterrissage) tự động mở ra theo tốc độ máy bay hết cỡ và phi công thắng chân thì máy bay sẽ dừng lại không quá 1.200 m… Những động tác kết hợp kể trên thường được sử dụng tích cực cho các loại F (Fighter) khu trục tiêm kích khi hạ cánh bắt buộc ở những sân bay có đường băng ngắn…”


 


Bấy giờ ai nấy yên tâm. Đồng chí Hai Nhã vui ra mặt, kề tai nói nhỏ với Tường Tri: “Phi công là người của ta, con của đồng chí mình đó! Quê Bến Tre- Đồng khởi…”. Anh ấy tên thật là Đinh Khắc Chung, sinh năm 1947. Nguyễn Thành Trung là tên do tổ chức mình đặt khi đưa vào Không quân Sài Gòn rồi được đi học lái máy bay phản lực ở Mỹ từ 1969 đến 1972. Nguyễn Thành Trung đã qua các căn cứ của Mỹ ở các bang Texas, Lousiana và Mississipi. Khi về nước túc trực căn cứ không quân Biên Hòa, giữ vững liên lạc với tổ chức…


 


 Trong khi trực chiến tại trận địa pháo phòng không, Tường Tri và Chinh sốt ruột mong đón máy bay về hạ cánh. Lại nhiệm vụ cấp bách nữa. Cục Tham mưu Miền điện chỉ thị: “Đi ngay đến Bảo Lộc, lái một số máy bay trực thăng UH.1 của quân ngụy vừa bỏ chạy”. Từ Phước Bình, chú cháu Tường Tri ngồi xe tải Molotova chạy đường rừng ngoằn ngoèo, tới giáp Quốc lộ 20 ra ngã ba Tà Lài thì dọc hai bên đường cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng và cờ đỏ sao vàng bay rợp trời! Loa phóng thanh oang oang truyền tin chiến thắng: quân ta đã giải phóng nhiều nơi, chiến sự diễn ra ác liệt từ An Lộc, Chơn Thành, Bàu Bàng… Theo quốc lộ 13, quân ta đang tiến về Sài Gòn. Lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng buộc nguỵ quyền đầu hàng. Chinh vỗ tay reo hò, còn Tường Tri cảm xúc mãnh liệt bảo rằng: “Cảnh nầy làm chú nhớ trong phim Hồng quân Liên Xô tiến vào Berlin. Cờ Liên Xô phất phới bay trên nóc toà nhà Quốc hội Đức quốc xã ngày 2-5-1945. Sào huyệt cuối cùng của chủ nghĩa Phát xít bị tiêu diệt…” Không khí chiến thắng cho anh hình dung những ngày sắp tới sẽ kết thúc cái số phận bi thảm của tập đoàn bán nước Nguyễn Văn Thiệu!... Quân ta, những đứa con của Thành phố bao nhiêu năm chinh chiến sẽ tiến về Sài Gòn. Xe chạy xa, nhưng tai Tường Tri vẫn còn nghe tiếng loa vọng theo.


 


 Đến Bảo Lộc vào lúc xế chiều, chú cháu Tường Tri được các đồng chí trong Ban quân quản ở thị trấn đưa đi xem máy bay. Sau khi kiểm tra thì một số thiết bị quan trọng đã bị chúng gỡ mất, không bay được. Vậy là vội vàng quay về. Còn đi trên đường đã nghe tin: “Ngày 8 tháng 4, lúc 8 giờ 15 phút dinh Độc Lập của ngụy quyền Sài Gòn bị ném bom…”. Tường Tri và Chinh mừng quýnh, hối lái xe chạy nhanh. Về tới Lộc Ninh thì trời vừa tối, hai chú cháu đi thẳng vào Ban tham mưu Lữ đoàn, gặp đồng chí Bạch, được cho biết: “Máy bay F.5E đã hạ cánh an toàn! Đồng chí phi công được Tỉnh ủy Phước Long đón về tỉnh. Hai đồng chí cơm nước rồi đi nghỉ, ngày mai chúng ta sẽ làm việc”. Tường Tri và Chinh đêm đó bồn chồn, trông trời mau sáng để được gặp đồng chí phi công anh hùng! Trời còn mờ mờ đất, hai chú cháu đã dậy ra khoảng trống dưới vòm rừng cao su tập thể dục đợi sáng. Sau khi vệ sinh cá nhân, một cô gái đến mời vô ăn sáng trước. Cơm vừa xong thì đồng chí Đình Bính - Ban chỉ huy Lữ đoàn đến, theo sau là một thanh niên trang phục Quân giải phóng mới tinh, thân hình đề đạm, trẻ đẹp, với gương mặt khôi ngô hiền lành, ấn tượng có bộ ria mép ngay ngắn. Đồng chí Đình Bính vui vẻ giới thiệu: “Đây là Nguyễn Thành Trung, người ném bom dinh Độc lập đó! Anh em mình làm quen với nhau đi rồi chúng ta sẽ tiến hành công tác đặc biệt sắp tới ngoạn mục hơn!”


 


 Chiến trường hiếm bạn không quân, tay bắt mặt mừng, thân tình nhau rất nhanh, chuyện trò rôm rả. Nguyễn Thành Trung lớn hơn Chinh vài tuổi, nhưng gọi Tường Tri bằng anh, xưng em ngọt ngào. Sau đó quây quần cùng nhau lên Bộ Tư lệnh Lữ đoàn, để cùng đi sân bay Phước Bình kiểm tra chiếc máy bay F.5E, để lấy một số trang bị về. Vừa đi vừa kể chuyện hai chú cháu Tường Tri hoàn thành trọng trách với sự hiệp lực của lãnh đạo chu đáo, việc chuẩn bị sân bay cho hạ cánh như thế nào, mấy chú trên Miền quan tâm ra sao. Đặc biệt đồng chí Hai Nhã - Cục tham mưu đích thân kiểm tra sân bay bảo đảm thật an toàn. Nghe qua việc chuẩn bị cho mình hạ cánh an toàn, Nguyễn Thành Trung xúc động, rồi ôn tồn kể về phần mình toan liệu thực hiện nhiệm vụ lịch sử phó thác cũng vô cùng hồi hộp:


 


 “Sau khi ném trái đầu tiên, bom nổ rồi nhưng không trúng mục tiêu, Trung vòng lại ném trái thứ hai trúng nóc trên của dinh. Trung nhìn sang định bắn vào Toà đại sứ Mỹ, nhưng thấy dân chúng ở dưới chạy tán loạn, sợ đạn lạc trúng dân, nên không bắn, bay thẳng qua Nhà Bè, bắn một loạt khẩu hai mươi li vô mấy bể xăng rồi hạ thấp độ cao còn 50 feet (độ bay cao còn hơn 15m), bay luôn về hạ cánh ở sân bay Phước Bình đã chuẩn bị. Trung xem đồng hồ đúng 8 giờ 30 phút. Vừa mở cửa máy bay bước ra, mấy chú mấy anh đã chực sẵn hồi nào, chạy ùa ra mừng rỡ đón Trung về chỗ an toàn rồi các chú Tỉnh ủy rước luôn về trên tỉnh. Tối lại Cục Chính trị Miền đón Trung về luôn trên nầy!”


 


Cảm phục một kỳ tích lịch sử đầu tư trí não và tâm huyết cao độ, Tường Tri hỏi về quá trình chuẩn bị. Nguyễn Thành Trung vui vẻ kể tiếp:


 


 “Ba tháng trôi qua, Trung đã nhập tâm ý kiến truyền đạt của “Trung tâm”. Từ ngoại thành, xa xa đã nghe súng nổ dồn dập làm Trung cảm thấy lòng mình rộn lên! Lo lắng và suy nghĩ nhiều lắm! Trung nghĩ đến ba má ở quê nhà sẽ ra sao, vợ cùng hai con sẽ như thế nào! Trung đều có dự kiến nếu xảy ra chuyện chẳng lành!… Nhưng bao nhiêu âu lo rồi cũng qua đi, Trung chỉ nghĩ đến lúc lên chiếc F.5E chuẩn bị xuất phát. Giờ quyết định đã đến. Giây phút thật là căng thẳng! Biên đội ba chiếc F.5E chuẩn bị xuất phát, Thiếu tá biên đội trưởng giơ tay vỗ vỗ trán ra mật lệnh cất cánh. Trung giơ ngón tay giữa làm mật hiệu trục trặc về điện, trả lời. Máy bay của Trung ở vị trí số 2, tụt lại rời mặt đất chậm vài mươi giây sau chiếc số 3 của đại uý Hoàng, rồi vòng trái bay theo ven đô về hướng Chợ Lớn, vòng qua quận 8, lấy chợ Bến Thành làm chuẩn, hướng mục tiêu dinh Độc lập. Trung thực hiện tốt nhiệm vụ như vừa kể. Trong khi biên đội còn lại hai chiếc vẫn tiếp tục bay theo hướng Bắc, đánh mục tiêu quân giải phóng ở bắc Phan Rang. Để thực hiện nhiệm vụ kể trên, Trung phải trải qua thời gian chuẩn bị đặc biệt khó khăn nguy hiểm ở chỗ thoát ra được hệ thống chỉ huy khá chặt của địch gần như đều điện tử hóa. Tại sân bay có ba cấp quản lý theo dõi trên không phận các phi vụ trong cùng một lúc, như:


 


 Tower: Đài chỉ huy tại sân bay: - r 20 km;


 


 Approach: Đài chỉ huy khu vực: - r 100 km;


 


 Controler: Đài chỉ huy đường dài - r trên 100 km.


 


Phải mất thời gian dài tìm sơ hở và Trung quyết định lập trình hành động chỉ trong khoảnh khắc để tách ra khỏi biên đội lúc khởi hành lăn bánh cất cánh, vậy mới che mắt được Tower; chỉ có cách ấy Tower mới khó phát hiện. Trung tin tưởng khả năng nầy nên quyết định báo cáo về Trung tâm bằng mật khẩu cho đồng chí Bảy Lương - cán bộ đặc nhiệm của nội thành, trong một quán giải khát của quân đội. Sau khi báo cáo về Trung tâm, Trung tiến hành kế hoạch ba bước: 1 - Xem lại tài liệu một số sân bay, chọn một sân bay vùng giải phóng gần nhất theo đường chim bay, khi quân ta đã chiếm được sân bay đó (Phước Bình) mà Trung đã quan sát được trong lần bay trước. 2 - Sau các phi vụ về hạ cánh xuống sân bay Biên Hòa, với cự ly 800m (để quen xuống đường băng ngắn). Đây là đường băng bê tông có độ ma sát lớn nên có vài lần nổ bánh đều giữ được đúng hướng, không trượt ra ngoài đường băng. Tower nó hỏi: tại sao biểu diễn hoài vậy? Trung trả lời: vì máy bay tốt nên muốn thử. Bước 3 - Nếu giai đoạn quyết định đã đến mà ta chưa giải phóng được Phước Long, khi ném bom xong Trung bay ra Lộc Ninh nhảy dù bỏ máy bay; nếu Phước Long đã giải phóng, Trung sẽ hạ cánh xuống sân bay Phước Bình… ”


 


Từ ấy, cơ duyên hạnh ngộ, bộ ba đồng đội không quân quan hệ với nhau như bạn vong niên hết sức mật thiết. Trên chiếc Commanca ba anh em cùng đồng chí Đình Bính gấp rút đến Buôn Ma Thuột để máy bay ta đến đón đi Đà Nẵng thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt. Sáng ngày 22-4-1975, đoàn đã có mặt tại sân bay Lạc Giao - Buôn Ma Thuột. Nhưng đội tiền trạm của không quân tại đây thông báo máy bay ta chưa hạ cánh được, vì công binh chưa gỡ hết mìn, nên máy bay hạ cánh tại Pleyku. Bấy giờ chỉ có một chếc xe mà đi hai hướng, hai nhiệm vụ. Tường Tri và Chinh được giao nhiệm vụ đến sân bay Đà Nẵng; Nguyễn Thành Trung và và đồng chí Bính đến sân bay Pleyku để được rước đi tiếp. Cùng nhau hội ý cấp tốc tìm phương tiện, hỏi binh trạm để đến Bộ Tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột. Trưởng trạm trả lời: “Bộ Tư lệnh Mặt trận Buôn Ma Thuột ở cách đây khá xa. Các đồng chí có thể đến Bộ chỉ huy tiền phương đóng cách đây 2 km, do Đại tá Nguyễn Văn Tiên - Tổng cục kỹ thuật Bộ Quốc phòng làm Tư lệnh”. Nghe vậy Tường Tri mừng khôn xiết. Tưởng ai chớ Đại tá Nguyễn Văn Tiên là người chỉ huy cũ của anh; nguyên là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Không quân. Gặp lại Đại tá Tư lệnh, Tường Tri sau khi mừng rỡ, trân trọng giới thiệu Nguyễn Thành Trung, phi công đã ném bom dinh Độc lập. Tư lệnh mắt sáng bừng, nồng nhiệt ôm hôn chàng phi công trẻ. Cuộc gặp nhau tại chiến trường trong không khí khẩn trương bước vào giai đoạn quyết định giành thắng lợi cuối cùng, ai nấy hớn hở vui mừng. Sau khi nghe trình bày nhiệm vụ của mọi người, đại tá Nguyễn Văn Tiên cho ngay Tường Tri và Chinh chiếc xe Jeep và lái xe, đi Phan Rang, Đà Nẵng. Còn Nguyễn Thành Trung và đồng chí Bính với chiếc Commanca của mình đi Pleyku để được rước đi chuẩn bị cho trận hiệp đồng chiến dịch lớn...


 


Theo quốc lộ 21, xe Jeep Tường Tri chạy ra khỏi thị trấn 20 km, do chạy tốc độ nhanh cho kịp thời gian, phần tránh nhiều đoàn xe ngược xuôi nên bị lật xuống lề. Chinh bị chấn thương cột sống, Tường Tri bị thương nhẹ ở đầu và mí mắt. Các đơn vị bạn trên đường giúp kéo chiếc xe lên, đưa hai người bị thương trở lại Buôn Ma Thuột nằm điều trị ở trạm cứu thương dã chiến tại trận địa. Hai ngày sau, Tường Tri và Chinh bất chấp vết thương còn đau, được chiếc trực thăng MI-6 đến sân bay Lạc Giao đón đi Đà Nẵng nhận nhiệm vụ cấp bách. Phi công Lê Đình Ký - Không đoàn trưởng MI-6, bạn quen cũ với Tường Tri hồi ở Hà Nội, gặp lại nhau vô cùng mừng rỡ. Khi chiếc trực thăng MI-6 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng, Tường Tri rất vui nữa là được gặp lại ba người bạn quen thuộc là các phi công: Xuân Trường, Lê Ngư và Văn Nhậm, từng được Tường Tri và Chinh huấn luyện bay chuyển hệ trước đây ở sân bay Hòa Lạc - Sơn Tây.


 


Chấn thương cột sống, Chinh phải đi điều trị không được tham gia tác chiến buồn hiu! Tường Tri thương quá đến an ủi Chinh. Sáng ngày 28-4-1975, một máy bay IL-14 rước Tường Tri cùng đoàn phi công UH-1, chở đến sân bay Phù Cát - Qui Nhơn. Cùng đi trên chuyến bay nầy có Tư lệnh Không quân Đào Đình Luyện và Trần Mạnh, Phó Tư lệnh - bạn cũ Tường Tri thời ông ấy làm Chính trị viên tiểu đoàn 308 chiến đấu ở miền Tây Nam Bộ. Tại sân bay Phù Cát, Tường Tri cùng Xuân Trường, Lê Ngư, Văn Nhậm, Văn Tích và một số nhân viên kỹ thuật không quân của địch còn ở lại giác ngộ theo cách mạng, tiếp thu 3 trực thăng vũ trang UH-1 của quân Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy; để lại nhiều vũ khí và trang thiết bị. Không khí bước vào trận giành thắng lợi quyết định vô cùng náo nức. Phi hành đoàn khẩn trương lắp ngay cho mỗi chiếc trực thăng 2 khẩu đại liên 6 nòng, 10 ngàn đạn 7,6 mm và 2 ống phóng rocket 14 quả; tổ chức thành biên đội 3 chiếc, do Xuân Trường làm biên đội trưởng. Đồng thời đào tạo cấp tốc 2 trung sĩ kỹ thuật theo máy bay và 6 xạ thủ đại liên…


 


 Trong thời gian sẵn sàng chờ lệnh xuất kích, Tường Tri cùng phi hành đoàn nhận được tin thông báo hấp dẫn: “Ngày 21/4 các tuyến phòng thủ cuối cùng của chính phủ Thiệu tại Xuân Lộc đã sụp đổ. Cánh cửa thép Xuân Lộc, vai trò phòng thủ Sài Gòn đã vỡ toang!” Cũng thời gian chờ lệnh tại đây, Tường Tri còn được Trần Mạnh, Phó Tư lệnh có phương tiện theo dõi tình hình, cho biết tin sốt dẻo: “Cầm chắc chính phủ Sài Gòn sụp đổ, tổng thống Mỹ Gerald Ford quyết định tăng tốc di tản người Mỹ khỏi Việt Nam và ngày 23/4/1975, đọc diễn văn tại Nhà trắng, Gerald Ford tuyên bố: Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ”. Nhưng Mỹ còn vớt vát màn chót, hòng tìm giải pháp cứu vãn Việt Nam Cộng hòa bằng thương lượng, Đại sứ Graham Martin buộc Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, Thiệu hằn học chửi rủa Mỹ thậm tệ. Tân tổng thống Trần Văn Hương lên thay. Vài hôm sau Nguyễn Văn Thiệu lại bị sức ép của Mỹ, được CIA hộ tống rời khỏi Sài Gòn vào đêm ngày 25 - 4. Trước chiến sự thúc bách, Trần Văn Hương ngồi chưa nóng… ghế Tổng thống cũng bị Mỹ buộc phải từ chức ngày 28 - 4, đưa Dương Văn Minh lên thay. Có lẽ còn hy vọng mong manh, Mỹ chưng ách chủ bài thương lượng? ”


 


Biên đội trực thăng vũ trang UH-1 của Xuân Trường nhận được lệnh sẵn sàng thực hành hiệp đồng chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ ấy ai cũng luôn bồn chồn chờ lệnh xuất kích. Đang náo nức, bỗng biên đội nhận được tin Bộ Tư lệnh Không quân tiền phương thông báo: “Ngày 28-4-1975, phi đội Quyết Thắng gồm 5 chiếc phản lực A-37 do phi công Nguyễn Thành Trung dẫn đầu xuất kích từ sân bay Thành Sơn - Phan Rang đã oanh kích dữ dội xuống phi trường Tân Sơn Nhất và toàn đội đã trở về căn cứ an toàn”. Tường Tri cùng phi hành đoàn vỗ tay reo hò, nghĩ rằng biên đội mình sẽ xuất kích tới nơi. Nhưng rồi, vẫn sẵn sàng nằm chờ!... Ngày hôm ấy lại nhận thông báo: “Chiều tối ngày 28-4-1975, hơn 3.000 người Mỹ còn lại ở Sài Gòn vội vã di tản bằng trực thăng ra các tàu hải quân đợi ở ngoài khơi. Vào lúc rạng sáng hôm sau, khi chiếc máy bay trực thăng di tản cuối cùng rời nóc Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn bay ra biển, cũng là lúc năm cánh quân bộ binh cùng xe tăng Quân Giải phóng thẳng tiến về Sài Gòn… Biên đội trực thăng Xuân Trường lại càng nóng lòng, điện lên Bộ Tư lệnh xin được xuất kích hiệp đồng chiến dịch. Nhưng cũng chỉ được lệnh “Hãy chờ đấy!”…


 


Đến trưa ngày 30 - 04 - 1975, biên đội nhận bức điện vắn tắt của Bộ Tư lệnh Không quân tiền phương: “Hồi 11 giờ 30 phút hôm nay, Dương Văn Minh đã tuyên bố trên Đài phát thanh đầu hàng vô điều kiện; các cánh quân ta đang tiến vào Sài Gòn, lực lượng vũ trang cách mạng nội thành và đồng bào đã chiếm giữ các vị trí xung yếu của địch trong toàn thành phố!”. Công nhân, phi công… cả phi trường Phù Cát nhảy lên reo hò tưng bừng!


 


- Biên đội mình mất bao công sức chuẩn bị, bây giờ ngồi chơi xơi nước!


 


Tường Tri mặt tươi vui, hấp háy đôi mắt đen mun đáp lời biên đội trưởng:


 


- Như vậy mình không phải bắn viên đạn nào sát hại ai. Dương Văn Minh lên đài tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, là lập tức binh lính Sài Gòn buông súng rã ngũ về nhà với cha mẹ vợ con.


 


- Đúng thế! Nếu một tổng thống nào khác hiếu chiến, hô các chiến hữu tử thủ thì Sài Gòn đổ nát!


 


- Nghĩ cảm thông Dương Văn Minh làm Tổng thống mới ba ngày!


 


- Nhưng ông ta thiện chí đó chứ! Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện là dũng cảm bất chấp ý muốn của Mỹ mong tìm giải pháp thương lượng hầu cứu vãn Việt Nam Cộng hòa.


 


- Suy ra… Ông Minh phải được tưởng lệ công lao. - Tường Tri dè dặt.


 


- Có lẽ cấp trên của mình… - Xuân Trường phán đoán - Còn do cấp tối cao tiên liệu thế nào, nên nắm chắc tình hình mới chưa cho biên đội mình xuất kích.


 


- Chắc vậy! Nước cờ chiến lược mà! Nhưng mà Sài Gòn giải phóng rồi, tại sao biên đội mình vẫn còn nằm đây?


 


Xuân Trường cũng chỉ biết lắc đầu. Rồi cả biên đội cùng nhấp nhổm chờ cho đến sáng sớm ngày 03-05-1975, một máy bay trực thăng MI-6 trên đường từ Bắc bay vào hạ cánh xuống sân bay Phù Cát, chở hết phi hành đoàn trực thăng UH-1 để cùng đi tiếp quản số máy bay còn lại của địch. Mười giờ bốn mươi phút, chiếc MI-6 hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất…


 


Sau ba mươi năm, Tường Tri mới thực sự đặt chân trở về mảnh đất Sài Gòn - Gia Định. Anh thầm gọi: Cha ơi!... Bao năm tha hương trên đất Pháp, cha những mong ngày về “cố hương”! Rồi nghẹn ngào cay mắt, anh bàng hoàng nhớ những ngày đầu cách mạng tháng Tám, tuổi trẻ Sài Gòn sôi sục, giữa bùng binh chợ Bến Thành cầm tầm vông vạt nhọn nhảy lên gọi cha, lớn giọng reo hò: Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc! Cha ơi!…


 


Tư lệnh phó Không quân Trần Mạnh con nhà võ mà trông nho nhã thư sinh, thấy Tường Tri đứng trầm ngâm, cảm thông hỏi:


 


– Anh Hai! Anh suy nghĩ gì coi thẫn thờ vậy! Anh em mình đi thôi. Các đồng chí đang chờ!


 


 Tường Tri không ngại ngùng bộc bạch cùng bạn cũ:


 


 – Tôi nhớ ba má tôi! Đây là lần tiên tôi thổ lộ đời tư với anh. Ông già tôi sinh đẻ tại Sài Gòn; bà quê Long Xuyên. Ba má tôi bị buộc sang Pháp hồi Thế chiến thứ nhứt; rồi không có điều kiện hồi hương ở luôn thành Việt kiều yêu nước. Hôm nay Việt Nam hoàn toàn độc lập, lý tưởng mà cha tôi hằng ước mơ. Tôi mong cha mẹ tôi còn sống để chia sẻ nỗi vui mừng lớn lao nầy cùng dân tộc!


 


 Trần Mạnh có vẻ ngạc nhiên, toan góp lời vừa lúc đã đến cơ quan thường trực của Bộ Tư lệnh Không quân tiền phương; mọi người náo nhiệt tay bắt mặt mừng rôm rả…


 


 Bộ ba đồng đội không quân chiến khu: Nguyễn Tường Tri, Nguyễn Thành Trung và Chinh gặp lại, ôm nhau mừng trào nước mắt. Chinh sau khi điều trị khỏi chấn thương cột sống đã được rước về Tân Sơn Nhất. Nguyễn Thành Trung hồ hởi kể: “Hôm chia tay nhau ở mặt trận Buôn Ma Thuột, Trung lên Pleyku để được chiếc MI-6 rước ra Phan Rang, tiếp quản sân bay Thành Sơn. Chỉ trong năm ngày, vừa thu gom máy bay, vừa tự huấn luyện chuyển loại, tổ chức thành phi đội năm chiếc phản lực A-37, mang tên Phi đội Quyết Thắng. Chiều ngày 28-04, sau khi Trung ném 4 trái bom của mình xuống bãi máy bay của địch, ngọn lửa phi trường Tân Sơn Nhất bùng lên đỏ rực. Qua khỏi vùng trời Sài Gòn quay về sân bay xuất phát, Trung bay phía trước dẫn đầu, nhìn đồng hồ chỉ số nhiên liệu đã cạn dầu, bụng lo lắm; biết phi đội bay cũng trong tình trạng khẩn cấp! Trung giảm tốc cho phi đội lên trước, lệnh cho cho Đễ số 2 tắt bớt một động cơ và vào hạ cánh trước, rồi lần lượt Quảng số 3, Lục số 4, Vượng số 5; Trung hạ cánh sau cùng…”


 


 Ba ngày sau, Trung cùng Tường Tri và Chinh trở lại hiện trường Tân Sơn Nhất, nhìn tận mắt chiến công của mình trong không khí tưng bừng Sài Gòn cùng cả miền Nam giải phóng. Nỗi xúc động cũng không kém ngày 8 tháng 4 sau khi Trung ném bom dinh Độc Lập bay về chiến khu. Giờ đây, Nguyễn Thành Trung rất nóng lòng lo vợ con đã bị địch bắt sau khi anh ném bom dinh Độc Lập, không biết có được giải thoát chưa nên lật đật về nhà. Chinh cũng nôn nao xa nhà quá lâu, từ khi đoạt chiếc trực thăng UH-1 trên Đà Lạt năm 1973 cho đến nay, cũng rất nóng ruột về báo tin vui với gia đình.


 


Bộ ba không quân còn lại mình Tường Tri, bồi hồi lưu luyến chia tay hai người bạn vong niên đã cùng trải qua những ngày gian nan hoàn thành nhiệm vụ phối hợp chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Nhìn đi, ngoảnh lại chỉ còn mỗi mình Tường Tri độc thân còn biết về đâu ngoài đại gia đình Không quân. Ngay sau đó, anh cùng với phi hành đoàn Xuân Trường nhanh chóng bắt tay tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Trên bãi đỗ phi đạo phía tây sân bay Tân Sơn Nhất, nơi biên đội A.37 của Nguyễn Thành Trung ném bom chiều ngày 28 - 04, trông thấy cả khối lượng máy bay 24 chiếc đủ các loại F-5, AD-6, DC-3… phơi xác ngổn ngang; có một chiếc F-5 nằm bẹp, dưới cánh còn đeo 2 quả bom CBU-55[1] chưa lắp bộ gây nổ. Đến bãi trực thăng, thu gom tất cả được 42 chiếc trực thăng UH-1, chọn những chiếc tốt nhất thành lập Phân đội 17 (tiền thân của Trung đoàn 917 không quân Tân Sơn Nhất), thay phiên nhau bay cảnh giới liên tục bảo vệ bầu trời thành phố. Từ trên máy bay trực thăng với Xuân Trường lái chính, Tường Tri nhìn rõ từng tốp đông đảo binh lính Sài Gòn rã ngũ kéo dây trên xa lộ Đại Hàn. Thấy các chiến sĩ Quân giải phóng tay cắp tiểu liên, tay vẫy lên chào máy bay, anh nghe sướng bụng nói với Xuân Trường: “Mới hôm nào, loại máy bay nầy bắn anh em mình; hôm nay anh em mình chào nó. Một đổi thay kỳ diệu, đã thiệt!...”


 


Gió trên cao cuốn vèo chuỗi cười sảng khoái hiếm hoi của Tường Tri. Khoái cảm hơn nữa, được bay cảnh giới đúng hôm cử hành lễ mừng chiến thắng tại dinh Độc Lập. Một biển người tràn ngập từ sân lễ, dài theo các đại lộ Thống Nhất, Công Lý, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, bùng binh chợ Bến Thành, bùng binh Nhà thờ Đức Bà... Ngồi bên ghế phụ, Tường Tri bảo Xuân Trường hạ độ cao để nhìn ngắm ngày vui cho thỏa thích. Anh bày tỏ xúc cảm: “Một biển người có phần hơn ngày mừng lễ Độc Lập 2 tháng 9 năm 1945. Ngày ấy mình ở mặt đất, chen trong biển người nghẹt thở, nhảy lên reo hò khản giọng. Song trước mắt giặc Pháp đang lăm le gây hấn, còn phải lo sẵn sàng đánh giặc. Đến hôm nay quê ta giặc chạy rồi! Sau ba mươi năm chinh chiến trở về, ngồi trên chiếc UH-I chiến lợi phẩm của Mỹ, bay trên không phận sào huyệt giặc thù vừa tháo chạy tán loạn, nhìn xuống biển người giữa không gian thanh bình, tưởng như đất nước chưa hề trải qua cuộc chiến tranh hủy diệt tàn phá thảm khốc!…”


 


 


 


 


 



13



 










   C




 


hung sức tiếp quản sân bay xong, Tường Tri được biên chế vào phân đội 17 vừa thành lập, có nhiệm vụ bay cảnh giới thành phố. Tiếp theo Tường Tri cùng góp tay thành lập trung đoàn Không quân 917 Tân Sơn Nhất và được biên chế cán bộ chuyên trách thợ máy. Đơn vị vừa hình thành, Tường Tri bận rộn lu bù. Một hôm nhân chủ nhật, công việc thư thả, anh tranh thủ trở về thăm chốn cũ. Không biết đi xe Honda, anh đạp chiếc xe tòng tọc mất hết thắng cùng chắn sên, chắn vè đi Sài Gòn. Trở lại số nhà 74 Rue d’Ayot, anh mới biết tên đường đã đổi là Nguyễn Văn Sâm. Vẫn căn nhà xưa nhưng biển hiệu kim khí Sinh Thành không còn. Anh dựng xe đứng trước cửa nhìn vào bên trong hồi lâu, hình dung trên căn gác xép mình từng dung thân ngót hai năm đầy âu lo và nỗi nhớ! Ông chủ nhà người Hoa thấy anh mặc quân phục mới coi chững chạc, niềm nở mời vào uống nước. Anh kể gốc tích ngọn ngành, thăm hỏi về bác Hai ông chủ trước của căn phố nầy hồi chưa có chiến tranh. Ông chủ người Hoa trả lời: “Ngộ không piết á! Căn phố lầy của một ông pạn cũng người Hoa, về Tàu nhượng lại lâu dồi!”. Tường Tri ngậm ngùi thương nhớ bác Hai, nói chuyện thời sự xã giao rồi chào chủ nhà, dắt xe đi dài theo phố, tìm hiểu xung quanh; nơi nào cũng bặt vô âm tín bác Hai! Dẫu là nơi tá túc buổi đầu vài năm ngắn ngủi, tâm hồn anh vẫn luôn vương vấn Sài Gòn, quê cha, chốn cũ. Lững thững với chiếc xe đạp, anh đi theo con đường xưa từng tập đội ngũ Thanh niên Tiền phong với Hoàng Thọ. Tưởng như hàng cây nóc phố hãy còn dư âm tiếng hô nhịp đi “một-hai” hùng hồn cùng tiếng hát vang: Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng…


 


 Con đường Rue d’Ayot, là đường nhánh nhỏ; từ ngã sáu thời Pháp là Boulevard de la Somme hiện giờ là Hàm Nghi, chạy vào đụng Yersin. Trải ba mươi năm dài trôi qua mà như mới ngày nào… Lẽ tự nhiên vật đổi sao dời, nhà cửa phố xá lạ lẫm; song hai bên vẫn hai hàng cây cao lớn, sầm uất. Đôi cây già cỗi ngày xưa trống vắng. Những cây sao, cây dầu, tầm tầm nay đã theo kịp đàn anh cổ thụ. Lứa cây nhỏ trưởng thành. Chen tầng thấp là thế hệ trung niên, thiếu niên xum xuê xanh tươi lá mới. Đường cũ, ôi, cảnh xưa, người xưa nay tìm đâu?! Anh bồi hồi lắng nghe trên tầng cao gió rì rào lẫn trong ồn ào phố. Bất chợt một bông dầu lẻ loi rơi xuống, xoay tròn như bông vụ xoáy vào nỗi nhớ mông lung. Vậy là Sài Gòn mãn hè, sang thu? Cành lá vừa tắm cơn mưa đầu mùa tươi xanh. Sài Gòn giải phóng còn nguyên vẹn. Không khí thanh bình hiện trên từng gương mặt hân hoan hớn hở của mọi người. Người tấp nập đông vui rộn rã mà anh không quen lấy một người! Tuy nhiên cũng có người chào anh bộ đội; có người nói vui ghẹo anh: “Trời đất! Bộ đội ai người ta về cũng đi xe Honda, sao anh nầy còn đi xe đạp?” Có người quan tâm nghe cũng ấm áp; anh chỉ biết đáp lại bằng chuỗi cười giòn với vẻ mặt rạng rỡ, xao động những nếp nhăn mềm mại dễ thương. Còn biết trả lời thế nào? Chính anh cũng buồn cười mình. Đám trẻ con chơi bên hè phố thấy anh bộ đội mặt hiền khô vui tính, chạy xôm lại hỏi lăng líu:


 


- Sao chú không kiếm Honda mà đi như người ta vậy chú? Kiếm dễ ợt chú ơi!


 


- Tụi lính bỏ chạy theo Mỹ quăng xe đầy đường! Dân người ta lượm rồi bán lại cho bộ đội Bắc vô rẻ rề, nhiều người còn cho không bộ đội nữa.


 


- Trời ui…! Nhà tụi sĩ quan bỏ chạy đồ đạc của cải còn đủ thứ sang trọng không hà…! Bọn lính rã ngũ trở thành “cướp cạn”, nhào vô hôi của, oánh lộn nhau ấu đả, chú ơi!


 


- Còn ở chỗ tòa Đại sứ Mỹ hả! Người ta đông ỳ ỳ, chen lấn nhau leo rào vô để được lên trực thăng di tản. Lính Mỹ phải đốn cây me để cho trực thăng đáp xuống.


 


 - Bị nghe ông Đại sứ Mỹ lên truyền hình tuyên bố là: Chánh phủ Mỹ sẵn sàng giúp đỡ bất cứ viên chức người Việt nào muốn sang Mỹ. Nhưng trực thăng chỉ dành rước những người Mỹ trên nóc tòa Đại sứ. Trong khi người Việt ùn ùn tràn vô càng lúc càng đông nghẹt, quân cảnh Mỹ phải quăng trái cay lùa ra coi thảm sầu hết biết.


 


 - Còn số người đã lên trực thăng rồi, do chở quá nặng, dù là quan chức, cũng bị tuôn của cải xuống quá trời nhiều.


 


 - Cái lúc tràn ngập của cải vật dùng như rác, mà bây giờ thấy chú đi chiếc xe đạp cóc gậm, thương chú quá!


 


Chú bé vừa nói có gương mặt sáng sủa, cặp giò cao kều, mái tóc húi cua ra dáng chững chạc; nãy giờ im hơi lặng tiếng. Thu hút cảm tình, anh xoa đầu em, đáp vui:


 


 - Chú biết đi máy bay chớ không biết đi xe Honda!


 


 – A! Chú bộ đội nầy là phi công tụi bây ơi! - Mấy nhỏ nhao nhao cười rộ lên.


 


 - Không hẳn vậy đâu! – Anh cải chính - Chú là thợ máy sửa chữa máy bay, tức nhiên là biết đi máy bay trực thăng. Hồi mới giải phóng chú bay trực thăng cảnh giới bầu trời Sài Gòn, mấy cháu có nhìn thấy không?


 


 - Có có! Hôm lễ mừng chiến thắng tại dinh Độc Lập, trực thăng quần thát thát ngọn cây, nóc phố, coi đã hết sức!


 


 - Vậy hôm đó là chú bay trên trực thăng đó à! Ôi, hoan hô chú thợ máy phi công!


 


 - Mà chú ơi! Chú có ảnh Bác Hồ tặng mấy cháu đi! - Một em khác chen ngang.


 


 – Tiếc quá! Phải chi chú có đeo huy hiệu Bác Hồ cũng gỡ ra tặng mấy cháu. Trong ba lô chú có nhiều huy hiệu Bác Hồ và ảnh Bác Hồ lắm. Nhưng chú là bộ đội thợ máy mà, quần áo tay chân tèm lem dầu mỡ, không quen đeo gì trong người coi nó se sua mà thêm vướng víu.


 


 – Vậy hôm nào có trở lại đây, chú nhớ mang theo huy hiệu, ảnh Bác Hồ tặng mấy cháu nghen?


 


 – Chú nhớ - Anh tình thật bảo - Nhưng không hứa nghen. Hứa lỡ có chuyện gì không y lời thành thất hứa sao. Thất hứa bằng thất tín, xấu lắm! Thôi mấy cháu chơi, chú tạm biệt.


 


 – Vậy bây giờ chú về đâu?


 


 – Chú chưa về. Chú ra tiệm mua cái radio cassette …


 


 – Chú ơi! - Chú bé có cặp giò cao kều, níu tay anh vẻ thân tình - Chú đừng vô tiệm. Tiệm bán mắc lắm. Mấy ngày rày người ta tuôn đủ thứ hàng ra bán vỉa hè, đồ còn mới tinh, bán rẻ rề, chú ơi!


 


– Bán chạy mà! - Một đứa khác.


 


 – Bán chạy là bán mau hết lắm hả?


 


 Nghe anh hỏi vậy mấy nhỏ cười ré. Chú có cặp giò cao kều hạ giọng nói thì thầm:


 


 – Bán đổ bán tháo rồi chạy! Chú hổng biết. Di tản chạy theo Mỹ! Chú ra đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ mà coi, hàng hóa ê hề đủ thứ. Máy truyền hình, tủ lạnh, radio casette, xe Honda có luôn. Chú đến đầu đường Yersin kia quẹo phải ra Trần Hưng Đạo rồi quẹo phải nữa ra bùng binh chợ Bến Thành…


 


 Chú bé tưởng anh ở rừng về lớ ngớ, nên chỉ đường nhiệt tình. Anh trìu mến xoa mái đầu húi cua của chú; tiện tay vuốt má, cám ơn mấy nhỏ rồi lên xe đạp đi. Cuối con đường d’Ayot là Yersin. Bên kia đường ngày xưa là bót cảnh sát Signore; anh cùng đội tự vệ Hoàng Thọ diệt gọn vào đêm 23 tháng 9 năm 1945. Ra đến bùng binh chợ Bến Thành, đập vào mắt anh là rừng cờ rợp trời; cờ đỏ sao vàng cùng cờ nửa đỏ nửa xanh cặp kè từng đôi quấn quýt. Nhưng hầu như người ta ngó lơ cảnh trí mà chú mục vào hàng hóa bày bừa bộn; người mua bán chộn rộn. Bước vào đại lộ ngày trước là Bonard, hiện giờ là đường Lê Lợi. Đúng là quang cảnh mua bán tưng bừng. Như mấy nhỏ nói, hàng hóa nhìn ngợp mắt, vô kể. Anh dẫn xe đạp chen chân làm vướng víu, người ta la om sòm, ngượng quá. Cứ đi coi đã, chưa vội gì mua sắm. Mà tiền lương trung uý 75 đồng có bao nhiêu đâu! Đến hồ phun nước cảnh cũ nhưng nước không thấy phun. Có lẽ Ban Quân quản còn lo nhiều việc cấp bách. Nhìn sang trái, toà Đô chính Sài Gòn nhìn thấy cờ và ảnh Bác trên cao. Theo luồng người, anh bị cuốn quẹo vào đại lộ Charner cũ, giờ là Nguyễn Huệ. Ở đây hàng hóa búa sua ngập vỉa hè còn hơn đằng Lê Lợi. Anh quan tâm tìm mua radio cassette. Thấy rồi, nhiều loại, lớn nhỏ đủ kiểu. Cái mình cần mới chọn, sa đà làm gì mất thì giờ. Nghĩ mình ở doanh trại, ăn cơm tập thể, ngủ giường cá nhân, anh chọn cái radio cassett lớn hơn bàn tay chút xíu, hiệu Toshiba chánh gốc Japan. Hỏi giá, người bán vẻ mặt giảo hoạt, không ra người “bán chạy”, nói giá trên trời. Anh còn lưỡng lự, chợt sau lưng anh một giọng nữ gắt gỏng mà nghe trong vắt: “Đừng có xạo! Mấy người thấy người ta thiệt thà bán giá cắt cổ vậy? Tiền Bắc vô có giá lắm chớ bộ?!”. Anh ngoái nhìn người vừa nói. Đó là một cô gái trạc hai bốn, hai lăm tuổi, tóc đen mướt buông lơi phủ gáy, tẻ hai rẻo thả xuống hai bên màng tang óng ả, uốn cong ôm hờ khuôn mặt thon, đôi má hồng. Khác thường, rèm trán không thưa mà trọn mái tóc được tỉa bằng trang, phủ chí chân mày rậm vừa mảnh sắc nét làm tôn cả gương mặt trong sáng cùng đôi mắt mí lót đen huyền, đang nhìn anh đầy thiện chí:


 


- Đằng cuối đường kia kìa có bán đủ thứ! - Cô níu ghi đông xe anh - Anh đi theo em. Mua gì để em mua cho nghe hôn. Ôi! Cái bọn thừa nước đục béo cò. Nó mua rẻ mạt của những người “bán chạy”, bán lại giá cắt cổ cho những ai ở ngoải mới vô, hay ở rừng về, lớ ngớ láo ngáo như anh.


 


 Nghe giọng Sài Gòn, anh mừng, không cải chính làm gì mình ở đâu, bắt chuyện:


 


– Xin lỗi! Tôi hỏi nếu không phải… cô miễn thứ.


 


 Lúng liếng cặp đồng tử đen mun, cô gái nhìn có vẻ chăm chú anh bộ đội nhỏ nhắn, mặt hiền, thầm ổn định xưng hô chưa đến gọi chú. Lẽ nữa trông anh hơi “cù lần”, khiến cô nhìn lại chiếc xe đạp trần trụi phụ tùng, thoáng uốn vành môi cười nụ rất duyên:


 


 – Được thôi, anh bộ đội cứ hỏi. Nhưng bây giờ… nên đem chiếc xe “cóc gậm” này ra dựng ở gốc cây sao cô đơn trong lề kia, chừng về đến lấy. Không ai thèm ngó tới nó đâu mà sợ mất - Tiếp chuỗi cười nhẹ ngầm ý nếu có quá lời xin miễn thứ.


 


Tường Tri nghe phải, dẫn xe vô lề. Cô gái nhiệt tình cùng bước theo, nhắc:


 


 – Anh bộ đội muốn hỏi gì thì hỏi đại đi?


 


 – Có lẽ… hình như cô cũng… định bán chạy?


 


 Thôi giữ kẽ, cô gái hồn nhiên đáp bằng chuỗi cười giòn, hé lộ trong vành môi hồng hàm răng trắng đều. Gương mặt, ánh mắt đầy thiện cảm, gợi Tường Tri tò mò quan sát. Cô mặc áo sơ-mi màu thiên thanh vai phồng, cổ lá sen dây rút màu hồng lợt có hai tụi tròn như nụ hoa lăn lăn trên ngực. Cách trang phục đời thường giản dị mà ra người sang, có phần kiêu kỳ cậy vào thông thái; song không ra vẻ đài các; ngược lại còn vương hơi hướng nông dân ở ngữ điệu ngôn từ mộc mạc nôm na. Lại tiếp chuỗi cười gằn giữ âm điệu, cô ghé tai anh líu lo vừa đủ nghe:


 


 – Bộ anh tưởng dân Sài Gòn đều chạy theo Mỹ hết sao? - Rồi cô rỉ rả kể một hơi, Sài Gòn thời chiến có những ủy ban đòi quyền sống, đòi hòa bình… những hội nhân sĩ trí thức yêu nước, hội nhà báo đòi tự do báo chí, hội học sinh sinh viên chống quân sự hóa học đường… Tóm lại rất nhiều phong trào, nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ… Cuối cùng cô hỏi lại:


 


 – Anh có vẻ không phải bộ đội Bắc vô. Chắc anh người ở rừng về, vậy xin cho biết coi… là đơn vị nào?


 


 – Nhìn đồng chí… - Tự nhiên anh xưng hô đầy lòng tin - Đồng chí chưng dọn bề ngoài thành thị dễ làm người ta ngộ nhận, tôi xin lỗi về câu hỏi bất nhã vừa rồi. Nghe đồng chí ăn nói thông thái đúng là một cán bộ cách mạng. Vậy đồng chí ở đơn vị nào?


 


 – Trời ơi! Sao anh chưa trả lời em mà đi hỏi lại? Anh trả lời em trước đi?


 


 – Dứt chiến tranh rồi chẳng việc gì phải bí mật rào đón. Nhưng với tôi nói ra nó dài dòng. Nói ở Bắc vô cũng đúng, nói ở rừng về cũng đúng mà nói dân biệt động Sài Gòn cũng không trật.


 


 - Úi trời! Biệt động Sài Gòn thiệt vậy sao? - Dương rèm mi cong vảnh, mở tròn đôi mắt mí lót đẹp như vẽ, cô cất cao giọng, hỏi lại - Chớ anh ở đội nào? Thủ trưởng anh là ai?


 


 – Lấy khẩu cung đến mức vậy sao? Là ông tổ Biệt động Tư Chu, có tin không? Thôi đi mua dùm cái radio casette đi. Om sòm ở đây thiên hạ nghĩ mình ra sao?


 


 – Trời ơi! Sao hạnh ngộ kỳ cục vậy cà! Em cũng dân biệt động Sài Gòn đây! Lính Tư Chu đây! - Cô gái phởn vẻ mặt trắng trẻo tươi xinh, dặt dặt cánh tay anh, thì thầm - Mà sao em không biết anh, kỳ ha? Anh quí danh gì?


 


– Hồi đó nguyên tắc ngăn cắt, cô biết rồi. Tôi tên Tường Tri, làm việc ở cứ. Tư Chu định bố trí vô nội thành thì có lệnh rút lên “R”. Có thể nói gọn, tôi với đồng chí là đồng đội còn là đồng hương Sài Gòn nữa đó. Vậy đồng hương quý danh gì?


 


 – Em là Thu Thảo, ở đội 5 của Tư Tăng. Được cài vô hoạt động nội thành gầy dựng cơ sở, làm trinh sát. Hồi Mậu Thân, em bảo vệ lộ trình cho đơn vị đánh đài phát thanh Sài Gòn đó!...


 


 Vừa chuyện trò, Thu Thảo đã mua cho anh cái radio cassette hiệu Aiwa mới tinh, nhỏ đẹp để trong lòng bàn tay, có micro bé tẹo bằng ngóm tay út dắt túi áo. Anh rất ưng ý, hỏi giá định trả lại tiền. Thu Thảo ngúng ngẩy:


 


– Hư…! Em kỷ niệm anh lần đầu tương ngộ đồng hương không được sao! Vật tặng ai mà nói giá. Anh còn muốn mua gì nữa không?- Thu Thảo ân cần - Phải mua băng nhạc nữa chớ, anh thích cải lương, hay ca nhạc nè?


 


– Đồng chí tìm mua giùm mấy băng nhạc cổ điển. Chú ý có tên các danh tài như Rachmaninov, Beethoven, Mozart, Tchaikowsky, Chopin… Ờ mà mua cái écosteur, và pin nữa chớ!


 


 – Đồng chí, đồng chí! Anh quen tật ở đâu vậy? Kêu là em gái không được sao? Phụ tùng máy có đủ bộ rồi. Giờ đi mua băng nhạc, thứ nầy vỉa hè khó kiếm, đi trở lại Lê Lợi vô nhà sách Khai Trí. Mà nhà anh hiện thời ở đâu, để em đến thăm đồng hương?


 


– Tôi là kẻ không gia đình. Có nghĩa là chưa vợ con, tứ cố vô thân. Chỉ có đơn vị là nhà. Nhà tôi: Trung đoàn không quân 917 Tân Sơn Nhất.


 


– Trời! Sao nói biệt động Sài Gòn mà giờ là Không quân?


 


– Cuộc đời tôi vô gia cư như một lữ hành “trường đồ tri mã lực”. Chuyện dài, hôm nào có dịp nói. Còn Thu Thảo? Nhà? Ông xã?


 


 – Em cũng vô gia cư, ở đậu… Nhưng còn khuya mới được như anh có nhà là đơn vị Không quân 917. Sau giải phóng, các đơn vị biệt động tan đàn xẻ nghé ráo trọi. Phần đông tù Côn Đảo về, một số chuyển ngành có danh phận, đa số ra quân làm phó thường dân. Ông tổ Biệt động Tư Chu còn bị điều động về Cục cao su nữa là. Kìa, nhà sách Khai Trí, ta vô đi anh… Sách cũng ngợp mắt héng! Anh mua sách không?


 


 – Để coi đã. - Rảo qua các kệ sách một lúc, anh chợt reo - A! Có cuốn “Gã khờ”của Dostoievski! - Cuốn nầy…để coi. Sài Gòn dịch, nhà xuất bản THỦY, in năm 1973, giấy nội dầy cộp. Trước năm 1945 Sài Gòn chưa thấy dịch cuốn nầy. Hay quá! Mua cuốn này.


 


 Tường Tri sang tay cầm cái Radio casette cùng cuốn sách, lóng cóng, toan lấy tiền trả. Thu thảo lên tiếng:


 


 – Để mua xong trả tiền một thể. Chị gái bán hàng ơi, cho em xin cái bao nilon. Anh bỏ các thứ nầy vô bọc đi. Có băng nhạc giao hưởng nè… Chị bán hàng, cho em mua năm cái băng nhạc nầy, lấy cho ba cái băng trắng Sony, vỉ pin tiểu Maxell. Đây, anh cho hết vô bọc đi. Có băng trắng để anh thu qua đài phát bài nào mình thích, hoặc thu cái gì đó, tùy ý. Để tiền em trả. Tính tiền cả cuốn sách luôn, chị Hai! Phải mua cho anh cái túi xách mới được. Bọc nilon máng xe đạp chạy lóc xóc rách lọt mất hết.


 


 Thu Thảo đẩy vai anh bước ra nhà sách. Dọc theo vách các cửa hiệu, hàng tạp hóa treo lỉnh kỉnh. Cô mua cho anh cái túi xi-mi-li đen, có quai đeo lịch sự. Anh cho các món đã mua vào túi xách, đeo lên vai, chúm chím cười. Ưu ái nhìn cô em đồng đội biệt động anh toan mở lời cám ơn. Biết ý, Thu Thảo khoát tay rồi hồn nhiên cầm tay anh trở lại nơi dựng xe đạp. Xa nhìn, cô cười khúc khích:


 


– Anh coi em nói có linh không! Chiếc xe cóc gậm còn bên cây sao cô đơn kia kìa! Anh ở Trung đoàn Không quân, nói nghe ngon vậy mà đi lượm chiếc xe đạp phế thải đi Sài Gòn, thiệt… lập dị hết biết!


 


– Hổng phải vậy đâu! Chưa hiểu cảnh tình, chỉnh oan người ta không nên. Ờ, mà địa chỉ nhà em ở đâu?


 


– Nhà em ở Củ Chi. Em vô nội thành hoạt động hồi năm ngàn chín trăm lâu lắm, hiện giờ em ở nhà dì Út - má nuôi, là cơ sở cũ. Số nhà à? Số… X xẹc Y, xẹc Z, xẹc tùm lum. Đường Cô Giang góc Nguyễn Thái Học gần chợ Cầu Muối. Hôm nào anh tới nghen.


 


– Còn ông xã?


 


 – Ổng leo lên bàn thờ ngồi rồi, là liệt sĩ anh ơi!


 


- Ôi! Trẻ coi chừng hai mươi ngoài mà là… đàn bà… là… góa phụ!


 


 - Thương hại chỉ làm người ta giận thôi! Nín đi! Nếu thương tưởng thì hôm nào anh tới em đi. Nhớ nghen! Không tới em buồn đồng hương đo-ó!…


 


      - Ờ nhớ, số nhà ngoắt ngoéo xẹc tùm lum… Mà hễ muốn tới là đâu cũng tới thôi!


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 



14



 










 Đ




 



 

















 




 

 



ạp chiếc xe cóc gậm trên đường về, trục giữa khô dầu kêu cót két… anh nghe như tiếng hát. Hay đúng hơn tiếng lòng anh thầm hát: “Người đâu gặp gỡ làm chi - răng long đầu bạc duyên gì hay không”. Sao mà mái tóc buông lơi nghịch ngợm quanh gương mặt, bờ vai gợi nhớ Jaenne quá chừng? Cho dù óng ả đen tuyền đối tỷ màu kim sáng ánh. Cám ơn Thu Thảo đã mua cho Radio casette và băng nhạc. Âm nhạc ngân nga lòng anh nỗi thầm nhớ người yêu năm xưa. Cả hai, băng nhạc và cuốn “Gã khờ”, anh đều nóng lòng muốn nghe, muốn đọc. Rồi anh tự nhủ: trước mắt phải lo công tác, còn thưởng nghệ thuật, nên chọn nơi yên tịnh, khi lòng thanh tĩnh. Vậy là, anh trung úy thợ máy bay, ngày ngày luôn tay kềm búa, cờ-lê, mỏ-lết, quần áo dầu mỡ tèm lem, “Đâu cần thợ máy có, đâu khó có Tường Tri”. Đời cô lữ nỗi niềm sao khỏi lắm lúc cũng bùng lên. Chín năm kháng chiến chống Pháp làm anh lính thợ quân giới. Tập kết ra Bắc cũng là lính thợ dọn dẹp và xây dựng sân bay Gia Lâm. Năm 1957 được chọn sang Trung Quốc học kỹ thuật động lực hàng không. Sau 3 năm trở về đơn vị cũ, mới hay được phong quân hàm vắng mặt cấp chuẩn úy (từ năm 1958, chánh phủ ban hành sắc lệnh phong cấp quân hàm đồng loạt cho Quân đội). Đây là cấp bực đầu tiên của Tường Tri trong đời lính thợ ngót 13 năm! Ít lâu, tổ chức phân công chuyên trách máy bay riêng cho Bác Hồ; phong thiếu úy. Về chiến trường miền Nam năm 1970, phong trung úy, thuộc đơn vị biệt động Sài Gòn. Đời trở lại là anh lính thợ binh khí; dầm dưới tầm bom đạn Củ Chi khốc liệt ba năm. Miền Nam chiến tranh du kích, không phong cấp quân hàm mà đề bạt chức vụ. Cuối 1973 cùng Chinh tháo rời chiếc trực thăng, chở xe tải vượt Trường Sơn trở ra Hà Nội, lắp ráp nhanh, bay thử tốt, huấn luyện cấp tốc đội bay chuyển hệ, trở về chiến trường ngay. Chức vụ gì đâu có! Rồi lại gấp rút chuẩn bị sân bay Phước Bình cho phi công nội tuyến Nguyễn Thành Trung bay về đáp xuống. Đó là nhiệm vụ! Rồi cộng lực chung tay tiếp quản trực thăng chiến lợi phẩm, huấn luyện, thành lập đội bay phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh. Mừng vui lớn giải phóng Sài Gòn, vui lên mây xanh hòa nhập đội bay 17 cảnh giới. Giờ đây, “đi mênh mông trời đất”, trở về cũng vẫn là anh lính thợ máy không quân…


 


 Từ Thanh niên Tiền phong tham gia khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Sài Gòn, ngoảnh lại thấm thoát mà đã 30 năm trường. Qua bao phen thăng trầm, vượt núi băng rừng đi mây về gió, nhiệm vụ chu toàn. Vậy là vui rồi! Buồn tình chi Tường Tri!... Ta tri tận tường lắm nỗi niềm muộn phiền, như thói thường tình thoáng chốc. Ta tri tận tường: Le moi est haissable. Ta than thân, là ta đáng ghét! Ta quên ta, ta tu tâm thanh tĩnh. Ta thả hồn ta vào âm nhạc, tâm trạng ta nhẹ nhàng…


 


 Đêm đêm trăn trở trên giường cá nhân, anh mở radio cassette, nghe nhạc… Thưởng thức âm nhạc trong tâm trạng cô đơn, thì lại càng nhớ Jaenne, Tường Tri tắt máy, thao thức mộng mơ. Hình tượng ùa dậy những lần đi tắm biển chiêm ngưỡng một “tòa thiên nhiên” mỹ miều như mầm hoa mới nhú non tơ; ấn tượng sâu đậm hơn là những đêm cùng em nghe hòa nhạc. Bây giờ nghe nhạc một mình, nỗi nhớ Jeanne càng da diết. Khờ khạo đường tình yêu đầu đời, trẻ trai vụng dại bị Jeanne mắng “ngốc nghếch”, càng gợi tò mò đọc Dostoievski xem coi “Gã khờ” có gần gũi với “ngốc nghếch” Tường Tri?


 


Cuốn “Gã khờ” thoạt nhìn “bắt mắt”; nhưng khi vùi vô đọc, anh mới ngộ ra Dostoievski thể hiện “Gã khờ” là Hoàng thân Myshkin. Một con người nhu mì, khiêm nhường, khoan dung, chánh thiện, bị sa vào vùng xoáy quay cuồng của nhân tình thế thái, tham quan ô lại nhiễu nhương, bất công, nghèo khó, như “trừu non giữa bầy sói!”. Myshkin nào được vinh hiển ở địa vị Hoàng thân! Một con người trung thực; một chân dung của cái đẹp tuyệt vời tỏa sáng. Đọc “Gã khờ” cho đời anh nhìn thấy ánh bình minh chói lọi sau đêm đông tuyết lạnh, càng ngưỡng mộ cái đẹp. Đúng như chân lý của Đại văn hào Dostoievski: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới!”. Nghĩ buồn cười cho mình ngộ nhận. Gã khờ - Hoàng thân Myshkin khác hẳn thằng ngốc nghếch Tường Tri. Hình tượng tiểu thuyết “Gã khờ” cho anh nhận ra như bức tranh cảnh tỉnh nhân sinh, cảnh tỉnh những ai đã đánh mất bản ngã, bán linh hồn cho quỷ dữ, mộng mơ một thiên đường ảo ảnh, mà ngoảnh mặt quay lưng với Tổ quốc mình. Đọc “Gã khờ”, anh nhận ra con người của mình, thuở ban đầu đam mê lạc thú tình yêu; sắp trượt chân vào vùng xoáy vong bản, mất gốc! May thay, anh sớm vâng lời cha đã đoạn tuyệt tình yêu, trở về phụng sự Tổ quốc chống giặc ngoại xâm. Còn tìm hiểu về tác giả thật đáng khâm phục vô cùng. Dostoievski đã lèo lái số phận mình anh dũng phi thường. Ai có thể ngờ một đại văn hào tên tuổi lừng danh thế giới mà có quãng đời lận đận, suýt bị tử hình vì tham gia một nhóm trẻ theo xã hội chủ nghĩa. Thời may vào giờ chót vì một lý do nào đó chuyển thành án chung thân khổ sai tại Tây-bá-lợi-á. Sau 4 năm được tha, ông làm một binh nhì tại đồn binh ở đó. Một binh nhì trở thành nhà văn vĩ đại như huyền thoại. Đó chính là ý tưởng thánh thiện nhất của Dostoievski, tiêu biểu là binh vực giai cấp nghèo khổ, cảnh báo những kẻ chối bỏ nguồn gốc, chối bỏ Tổ quốc mình.


 


 Văn chương lay động tâm hồn, giải tỏa ưu phiền đơn côi; thức dậy tình yêu của Thằng ngốc - Serin - Chim bạch yến … Đêm đêm anh thao thức gởi gắm nỗi lòng vào âm nhạc. Nghe băng nhạc không lời dẫn, không gợi mỹ cảm như thính phòng. Tuy nhiên anh vẫn nhận ra những giai điệu quen thuộc, nhất là bản Sonata số 14 còn gọi là Sonata Ánh trăng của Beethoven, gợi ấn tượng sâu lắng ở khúc đệm gióng giả nhoi nhói tim mà hồi ấy đi nghe hòa nhạc với Jeanne ở Paris, em “thuyết minh” theo thẩm mỹ riêng: như tiếng chuông nguyện hồn ai… Rồi Jeanne kể câu chuyện tình vĩnh biệt giữa Jordan và Maria, gieo ấn tượng nao lòng! Băng nhạc chuyển sang bản For Elise của Beethoven, âm thanh piano rải giai điệu, tiết tấu dồn dập, lúc khoan lúc nhặt, khi mạnh khi nhẹ. Hồi ấy, nghe đến bản nầy Jeanne bảo: “Thiên tài Beethoven bị điếc mà vẫn sáng tác với ý chí mãnh liệt: “Tôi sẽ tóm lấy cổ định mệnh và không cho nó đánh gục tôi!”. Câu nầy anh hằng nhập tâm trở thành ý chí dấn thân…


 


 Đêm sân bay, thỉnh thoảng máy bay cất cánh hạ cánh gầm rú trong nét nhạc. Song âm nhạc vẫn được chắt lọc vào tâm hồn; hết băng nầy anh sang băng khác, nghe bản tiếp theo. Nét nhạc êm ả, rất quen thuộc, đây là giai điệu của bản Adagio giọng si bémon của Mozart. Nhớ Jeanne bình phẩm: “Đó là nét nhạc thần thánh, diễn tả nỗi buồn cô đơn…” Băng nhạc phát lên bản khác, anh nghe nét nhạc đoạn mở đầu tiếng piano đứt đoạn từng hợp âm như tức tưởi, bế tắc… Dần dần cường độ mạnh lên như trút niềm tâm sự, khiến thức dậy trong anh thuở chưa tìm được Nguyễn Ái Quốc, ăn không ngồi rồi ở nhà bác Hai cửa hiệu Kim khí Sinh Thành - Sài Gòn; những tháng ngày buồn chán, bế tắc, chỉ biết tìm đọc tiểu tuyết tình lãng mạn… Nghe một lúc quen tai, anh nhớ ra đây là bản Piano concerto số 2 của Rachmaninov, đó là tâm trạng của tác giả. Đoạn sau dàn nhạc hòa tấu âm thanh dịu dàng, êm đềm, hầu xoa dịu, hàn gắn nỗi thương đau... Gợi cảm tha thiết như chạm nỗi riêng anh bao mối tình biệt ly! Bản nhạc dần dần về cuối trở nên trong trẻo nhẹ nhàng; kết hợp giữa piano và dàn nhạc trỗi lên cao trào sôi nổi, mạnh mẽ, giục giã, như vực dậy tâm hồn anh tự tin vào tương lai huy hoàng. Chính khi nghe lại một mình giữa đêm khuya mới càng thấm thía chất trữ tình, thẩm mỹ của bản nhạc.


 


 Ôi! Cám ơn âm nhạc - Bạn tri âm! Âm nhạc từng sẻ chia, hóa giải, cho ta nương vịn, cho ta cảm thụ niềm tin, bước tiếp chặng cuối trên “trường đồ tri mã lực!”. Cho thằng “ngốc nghếch” Tường Tri giữ vững lòng lạc quan, trong sáng, toàn nhân, toàn thiện như Gã khờ - Hoàng thân Hoàng thân Myshkin…  


 


 


 


 


 



15



 










  Ô




 


i! Cái nỗi nhớ gặp nguồn cơn bùng phát, khiến anh thầm biết ơn cô em đồng đội - đồng hương Thu Thảo. Lắm lúc anh muốn đến số nhà lắm cái “xẹc” đường Nguyễn Thái Học – Cô Giang thăm em, chia sẻ đơn côi. Nhưng tính cách nhút nhát, anh sợ e “ngoại cảm” quyến rũ kẻ ngốc nghếch đa tình mà “lỗi đạo” với tâm nguyền thủy chung cùng bao người tình trong mộng tưởng. Anh lại ôm cái Radio casette nghe nhạc mà tâm tưởng luôn có bóng hình Jeanne bên mình… Âm nhạc ru hồn anh nỗi ngậm ngùi, hoài niệm thời hoàng kim...


 


 Ba má anh sang Pháp hồi thế chiến thứ nhất 1914-1918; không như một số người Việt khác vô dân Tây, ông bà vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, có chân trong Hội Việt kiều yêu nước. Anh sinh đẻ trên đất Pháp nên da trắng như dân Pháp, lớn lên học hành, giao du với trẻ con Pháp, về nhà cũng nói tiếng Pháp. Má dọa: “Về nhà không nói tiếng mẹ đẻ tao không cho ăn cơm!”. Lớn cồ mà còn học nói, mắc cỡ hết sức. Má phải phiên dịch dạy từ vựng: Manger là ăn cơm; Manger et boire: ăn uống; Remporter le prix: ăn chơi; Manger un morceau: ăn vụng; Manger les restes: ăn tết; Célébrer des noces: ăn giỗ; Célébrer le jour de naissance: ăn tôi tôi… “Ăn tôi tôi là ăn gì, không hiểu maman ơi!” “Khổ cho con tôi! - Má anh rên lên - Chuyện phổ biến ở Việt Nam gọi quen miệng, đúng hơn là ăn “thôi nôi”; nghĩa là đứa trẻ sinh ra tròn một tuổi thôi nằm nôi, người ta làm lễ cúng mụ rồi để các món như: cục xôi, cái kéo, cái lược, hoặc cái ống nghe bác sĩ, cây viết v.v… cho trẻ chọn bắt món nào để luận đàm khi lớn lên nó sẽ hướng nghề nghiệp gì…”. Ôi! Tiếng Việt Nam sao mà khó thế! Nội có tiếng “ăn” mà nhiều ngữ nghĩa, nhiều kiểu nói quá trời! Về ba anh - Nguyễn Văn Tường tuổi khoảng bảy mươi, người nhỏ gọn hao gầy, cũng đôi mày rậm và dài như của anh. Anh chỉ biết láng máng ông làm công chức ngành giao thông công chánh của Pháp ở Sài Gòn rồi sang Pháp làm ở thành phố Lyon, một trong năm thành phố lớn của nước Pháp. (Paris, Lyon, Marseille, Lille. Toulouse). Má làm nghề may vá thủ công cũng đắt khách, cộng với đồng lương hưu của ba cũng đủ sống. Anh và em gái được ăn học đàng hoàng và rong chơi thoải mái. Học hết chương trình tiểu học 12 năm (ở Pháp tiểu học 12 năm, tương đương ba cấp phổ thông của Việt Nam), anh lên Paris học trường Bách khoa (École Polytechnique Supeùrieure). Đang giữa năm thứ ba thì cha bảo thôi học, về nước theo Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng. Anh bần thần, giằng co trong lòng ghê gớm, bạo miệng phản ứng:


 


 -Về nước để rồi con sẽ là tên nô lệ da vàng! Bác Martin bạn của ba, thủy thủ tàu viễn dương của công ty hàng hải Hoàng Gia Pháp, chuyên chở hàng từ thuộc địa Việt Nam về chính quốc, từng nói chuyện tình hình bên nước nhà với ba…


 


Vốn chăm lo đường học hành thành đạt của con cái, ba anh chẳng hề nói gì đến tình hình thế giới biến động cũng như vận hạn nước nhà lâm nguy. Nay buộc lòng phải phó thác trọng trách, ông buồn lòng dự cảm chia ly tình phụ tử, ôn tồn giãi bày:


 


 – Lâu nay ba để con yên tâm phấn đấu học hành. Nhưng làm người ai dễ quên nguồn cội. Cứ nghĩ đến quê hương xứ sở mình bị thực dân Pháp xâm lược, cai trị, dân tình nô lệ, khổ nhục, tài nguyên của cải bị vơ vét… mà ba xốn xang, trằn trọc không yên...


 


 Giọng ba tỉ tê nhỏ dần thì thầm như mưa dầm. Từ người bạn thủy thủ của ba, bác Martin - đảng viên Cộng sản, ba được tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc tại nhà lúc anh học ở Paris. Đó là người bồi bếp trên chiếc Đô đốc Latouche Tréville, lấy mật danh là Ba. Sang Pháp, Người đã cho ra tờ báo Le Paria, Việt Nam hồn và cuốn Đường kách mệnh; ba đã bí mật đọc xong. Lẽ đương nhiên ba chịu sự cảm hóa lòng yêu nước tha thiết, sâu sắc của Người. Rồi ba kể hồi ba má mới sang Pháp, Thế chiến thứ nhất diễn ra giữa quân Pháp và Đức. Riêng trong số 20 vạn người Việt Nam bị bắt làm lính thợ cho Pháp thì có tới tám vạn xương máu ông cha mình vùi thây ở các bãi chiến trường xa xôi như vùng Bancang, bên bờ sông Macne, hoặc bãi lầy miền Champagne… Một thảm trạng đồng bào Việt Nam chiến đấu chết cho nước Pháp; trong khi đó thực dân Pháp trên đất Việt Nam bóc lột, đày ải, dân mình cực kỳ tàn bạo! Lớp bụi thời gian chôn vùi quá khứ, thế hệ sau ai còn biết đến tám vạn xương máu con dân Việt Nam đó! Và còn ai cảm thông cái nỗi khổ nhục mất nước tám mươi năm nô lệ làm thân trâu ngựa?! Còn hiện tình hẳn con đã biết Thế chiến thứ hai giữa phe trục phát xít: Đức, Ý, Nhật và đồng minh đang diễn ra một thảm họa khốc liệt, đau xót nhất trong lịch sử nhân loại! Ảnh hưởng biến động thế giới, tác động phong trào cách mạng Việt Nam lên cao. Từ những năm 1930 đến nay đã có nhiều trí thức, sinh viên Việt Nam được cảm hóa của Nguyễn Ái Quốc, trở về nước tham gia cách mạng, hiện đang rất cần người hiệp lực... Vẻ mặt u trầm khổ đau ba nhấn mạnh: “Tiếc rằng ba đã già rồi! Lực bất tòng tâm! Chỉ còn biết trông cậy vào con thay ba về nước theo Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng. Vậy con có vâng lời ba không con?…”


 


 Lời cha rỉ rả thấm sâu vào hồn con trai. Nhưng rồi dù cảm thông nỗi đau, nỗi nhục, lòng tự ái dân tộc thức dậy, song anh vẫn không khỏi lùng bùng lỗ tai khi hình dung về nước như lữ khách về viễn xứ. Một tên nô lệ da vàng tứ cố vô thân, vĩnh biệt tiền đồ rộng mở; nao lòng hơn là sinh ly người yêu đầu đời! Anh xin cha thời gian cho anh suy nghĩ.


 


 Trở lên trường Bách khoa Paris, tâm tư anh hoang mang bối rối. Anh vẫn đến trường nghe giảng, nhưng đêm về nằm trăn trở thở dài. Thông lệ, tối thứ bảy Jeanne đến đón anh đi nghe hòa nhạc. Anh miễn cưỡng đi bên người yêu mà lòng phân tâm hai chữ hiếu - trung…


 


 Jeanne, cô gái kém anh một tuổi, bạn học cùng trường tiểu học ở thành phố Lyon. Nhà đôi bạn anh ở cùng dãy phố, chơi thân nhau mật thiết. Đặc tính Jeanne rất mê tắm biển. Dù từ Lyon muốn tới bờ biển Marseille, hoặc biển Nice phải qua thành phố Grenoble cũng hơi xa. Nhưng hè nào Jeanne cũng rủ bằng được anh đi tắm biển. Quả là biển Marseille có bến cảng đẹp nổi tiếng thế giới. Bãi cát trắng rất mịn. Nước màu xanh nhạt hài hòa da trời buổi sáng nắng vừa lên. Xa xa, mặt biển lặng, rải rác những con tàu neo như những hòn đảo nhỏ trông vui mắt. Nước lại ấm, thu hút du khách xa gần. Đây còn có bãi tắm khỏa thân dài hàng cây số. Thiên hạ đông vầy mặc nhiên vui đùa thoải mái, mọi người hồn nhiên phô bày hình thể. Jeanne kéo anh hòa nhập, líu lo: “Con người là công trình của tạo hóa đẹp nhất trần gian. Không thế mà các danh họa như Renoir, Modigliani, Boucher… vẽ tranh khỏa thân tuyệt tác, thấy trưng bày bắt mắt ở các thư viện, các quán cà phê… cả được đóng khung mạ vàng treo trong bảo tàng sang trọng…” Hồi nầy đôi bạn còn tuổi thiếu niên, cô bé Jeanne hồn nhiên trút bỏ hết áo váy, chạy nhào xuống biển ngụp lặn bơi lội vừa hối réo anh mau lên! Một lúc thấm mệt, cô bé chạy nhong nhong lên nằm xoài xuống bãi cát phơi nắng, phơi làn da hồng, bộ ngực non mới nhu nhú ăn nắng đỏ ao. Hai đứa nằm kề, vọc cát. Bỗng cô bé gọi anh, ngây thơ khoe: “Xem làn da hồng bắt nắng đẹp tuyệt chưa? Cặp đùi thon mịn như thiếu nữ rồi đấy!…” Chàng trai tơ đắm đuối vì đôi mắt xanh đa tình, mái tóc bạch kim sáng ánh buông lơi diễm lệ, cùng tấm thân mỹ miều tinh khôi khêu gợi. Cái gì rạo rực đầu đời rân rân huyết quản, anh nghịch ngợm thò tay thoa lên đầu nhũ hoa hồng hồng tròn tròn như trái mồng tơi. Bất thần Jeanne hất văng tay anh. Cậy lâu năm thân thiết, chớm nở tình yêu, anh cười ruồi chống chế: “Ai bảo khoe!”. “Khoe là khoe cái màu da ăn nắng, ai cho sờ. Thành vợ chồng rồi người ta mới được thế! Hiểu chưa?” Thế rồi hai đứa nắm tay chạy nhong nhong xuống làn nước trong xanh ấm áp… Cũng từ lần ấy, ấn tượng lãng mạn khiến anh luôn theo dõi sự phát triển cơ thể dậy thì và thầm mong mau trưởng thành để thành vợ thành chồng với Jeanne.


 


Tình yêu xóa nhòa biên giới dân tộc giữa trai Việt gái Pháp. Dần dà họ lớn theo năm tháng, tình yêu chín mùi. Có hôm Jeanne đến nhà, cứ đứng ngoài cửa sổ nhìn anh thì thầm gọi: “Mon Chérie! Mon Chérie!”. Anh chạy ra. Không kềm lòng, Jeanne chủ động gắn lên môi anh nụ hôn đầu đời say đắm. Mon Chérie! Chồng em! Ôi! Anh ngây ngất trân trọng chôn lịm nụ hôn vào cõi mộng.


 


Khi anh lên Paris học trường Bách khoa thì Jeanne cùng lên Paris học trường Y khoa. Jeanne thường giao du với nhóm sinh viên Nhạc viện Paris, ảnh hưởng mê nhạc nên cuốn hút anh tối thứ bảy nào cũng đi nghe hòa nhạc, hoặc xem vũ ba-lê. Tối ấy, đang sánh vai nhau thong dong, chợt Jeanne nhìn vào mắt anh nhận ra vẻ trầm tư u uẩn khác thường, vội hỏi: “Tường Tri có chuyện gì buồn?”. Anh nói lảng là vừa đọc xong cuốn “Không gia đình” của Hector Malot, lòng cứ ngậm ngùi thương chú bé Rémi tuổi thơ lưu lạc. Trên đường theo gánh xiếc của ông Vitali, đêm trú mưa trong nhà chứa lá phượng vĩ, rét run. Tội nghiệp con chó Capi đem bộ lông dày đến ủ cho Rémi “bạn diễn”. Con chó mà cũng biết thể hiện tình bạn!... Nhưng Jeanne vẫn hoài nghi, cật vấn: “Không! Em chưa tin. Hình như anh có điều gì còn giấu em.”. Từ tình bạn gọi tên nhau, bỗng dưng Jeanne xưng hô trang nghiêm mà ngọt ngào, anh sướng rơn giây phút! Chợt cảm nhớ lời cha, dấy lên lòng thù hận oán trách vô lý, bùng nổ giọng hờn mát: “Vậy Jeanne không cảm thấy xấu hổ gì sao khi có người yêu là một tên nô lệ da vàng?”. Đột nhiên Jeanne xoay người giật anh dừng phắt, trừng đôi mắt xanh nhìn xoáy vào mắt anh một cách hung tợn, đay nghiến: “Tại sao hôm nay anh nói ra với em câu nói… buisson như vậy?” Đúng là một câu “gai góc” như giận cá chém thớt, làm tổn thương tình yêu chân thành của Jeanne. Cảm nhận đôi mắt xanh rực sáng như sét đánh hốt hồn, anh nắm tay Jeanne bằng cả hai tay như người có lỗi. Jeanne giẫy nhưng anh níu lại thì cô để yên và bật khóc. Anh vuốt ve tha thiết hồi lâu Jeanne mới lấy lại thăng bằng.


 


Đôi tình nhân tiếp tục đến thính phòng. Bạn bè sinh viên nhạc viện của Jeanne ùa đến bắt tay ngưỡng mộ người đẹp làm anh phát ghen. Khi âm nhạc trỗi lên giai điệu, chế ngự mọi muộn phiền, Jeanne say sưa thưởng thức một trích đoạn trong vở opéra của nhạc sĩ Pháp Léo Delibes. Còn anh tủi phận mình một tên nô lệ da vàng lọt thỏm giữa những thầy cô quan chức thượng lưu và luôn bị ám ảnh “tám vạn lính Việt Nam chết trận cho nước Pháp” mà căm hờn lây đến họ. Âm nhạc chơi nhiều bản của Rachmaninov, Beethoven, Mozart…


 


Buổi hòa nhạc giải lao, Jeanne cùng anh ra căn-tin ngồi nhâm nhi cà phê. Âm nhạc truyền cảm, vương vẻ mặt Jeanne thanh tú nét ngậm ngùi. Đôi mắt xanh màu biển nhìn mông lung, khẽ chạm vai tay anh, thủ thỉ: “Lần nào nghe bản Moonlight Sonata, giai điệu piano mở đầu âm lượng mạnh dần nghe như tiếng chuông gióng giả vút lên tan loãng trong ánh trăng, gợi em liên tưởng tiếng chuông nguyện hồn ai. Chẳng là em đã đọc tiểu thuyết: Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls) của Ernest Hemingway, có nhân vật Robert Jordan, một chiến sĩ người Mỹ tham gia cuộc chiến tranh của nhân dân Tây Ban Nha chống sự bành trướng toàn cầu của chủ nghĩa Phát xít. Quá trình chiến đấu diễn ra cuộc tình thơ mộng giữa chàng và cô Maria du kích Tây Ban Nha xinh đẹp. Mối tình đằm thắm hòa điệu lý tưởng sâu nặng, đã tiếp sức cho hai người vượt lên bao hiểm nguy thử thách. Nhưng rồi kết cục như một khúc anh hùng ca bi tráng! Sau khi cho nổ mìn phá cây cầu theo kế hoạch đã định, Robert Jordan dẫn đội du kích rút lui, trên đường bị máy bay quân thù truy kích bắn anh gãy chân, vết thương quá nặng, anh quyết định trụ lại ngọn đồi bên cạnh cây cầu bị phá, chiến đấu cầm chân địch cho đội du kích và người yêu rút lui an toàn. Robert Jordan đã chiến thắng số mệnh bằng niềm lạc quan cao thượng. Chuyện giản dị mà vô cùng cảm động, hầu như chỉ có văn chương và âm nhạc mới lột tả hết!… Đấy, nó rung động hồn người… Âm nhạc là tâm hồn nhân sinh, như bạn tri âm, song mỗi người có cảm nhận riêng. Em là thế, có lẽ liên tưởng tiếng chuông nguyện hồn ai… giới sành nhạc họ… cười chăng?”. Anh cảm nhận sâu sắc câu chuyện tình Jaenne kể, cùng những giai điệu phù hợp tâm trạng làm anh hứng thú. Tuy nhiên hôm nay tâm trạng nặng trĩu, giằng co lời phó thác của cha già; nặng vương yêu đương, bên hiếu bên tình phân tâm lao đao!


 


 Cho đến khi ra về, biết phép, Jeanne bỏ quên nỗi mặc cảm của anh, đưa vào nhà hàng điểm tâm, nhân thể bình phẩm về buổi nghe nhạc cho anh khuây khoả. Cô sinh viên Y khoa mà sành âm nhạc, hào hứng phân tích từ nền âm nhạc Pháp, âm nhạc Nga tiêu biểu có Rachmaninov, âm nhạc Áo, tiêu biểu có Mozart. Vừa khi nãy dàn nhạc chơi khúc Adagio giọng si bémon của Mozart, đó là nét nhạc thần thánh, diễn tả nỗi buồn thanh tĩnh, nhút nhát mà dễ thương của con người dễ kích động mà đa tình…. Anh cảm thụ điều đó và nhận ra Jeanne chỉ trích khéo mình. Đúng là anh đang buồn, nhưng ngược lại nỗi buồn thanh tĩnh mà là nỗi buồn bão táp! Buồn sinh ly tình yêu; không được làm chồng Jeanne như từng mộng mơ! Nỗi buồn héo ruột sẽ cô đơn không gia đình như chú bé Rémi!... Cảm hứng ngon trớn, Jeanne nhắc khi nãy dàn nhạc chơi bản Piano concerto số 2 của Rachmaninov, được giới đam mê âm nhạc cổ điển bình phẩm là bản concerto viết cho piano hay nhất trong mọi thời đại. Mở đầu tiếng piano mang tâm trạng buồn chán, thất vọng, bế tắt… Nhưng tiếp theo dàn nhạc hòa tấu giai điệu êm đềm, xoa dịu, dẫn dắt đoạn kết âm thanh piano trở lại trong trẻo nhẹ nhàng, giao duyên qua chương hai giai điệu sâu lắng mộng mơ, khúc tự sự của tác giả … Về cuối dàn nhạc hòa tấu piano rộn ràng, giục giã như ánh hào quang lấp lánh... Giàu tâm hồn âm nhạc, thảo nào Jeanne liên hệ cuộc đời tác giả, liên hệ dự cảm chia ly, mặc dù anh chẳng biểu lộ điều gì. Nàng bình phẩm âm nhạc nhằm an ủi, giúp anh lấy lại dũng khí, phấn đấu tự tin tương lai sẽ xán lạn huy hoàng. Nàng khéo gợi anh đồng cảm, chia sẻ đến nỗi bất hạnh của thiên tài Beethoven. Nàng kể nhạc sĩ bị điếc mà vẫn sáng tác với ý chí mãnh liệt: “Tôi sẽ tóm lấy cổ định mệnh và không cho nó đánh gục tôi!”. Dự cảm số phận, anh “tóm” lấy câu ấy làm châm ngôn, trang bị cho mình nghị lực vượt lên thử thách. Nhớ lại cái câu gai góc của anh lúc đi trên đường ban nãy, Jeanne bỗng bật cười giễu cợt: “Anh hãy nhìn lại mình xem? Anh sinh ra tại Lyon, da anh trắng như da em chứ có vàng đâu? Thôi đừng mặc cảm anh yêu ạ! Tình bạn chúng ta từ lúc còn trẻ con cho đến tình yêu mà vẫn không được tin nhau! Khi không cảm thông được hoàn cảnh, nỗi niềm hầu sẻ chia, con người trở nên vô tình với nhau thật đáng buồn!” Jeanne nói nghe thương quá, anh muốn bộc bạch lời cha phó thác về nước theo Nguyễn Ái Quốc… Nhưng ý thức cảnh giác, anh nói lảng quanh co. Đến lúc chia tay về ký túc xá, Jeanne giải tỏa nỗi buồn cho người yêu, ôm ghì lấy anh trách yêu: “… Anh vẫn là con chim bạch yến như hồi nào” và hôn anh một nụ hôn cuồng nhiệt kéo dài. Phút giây đắm đuối, anh hầu như quên bẵng lời cha ký thác. Tưởng chừng nụ hôn của Jeanne đã vực anh lên khỏi hố buồn vong quốc và mặc cảm nô lệ. Lạc thú tình yêu làm người ta đam mê. Nụ hôn của nàng quyến rũ, khiến anh bắt đầu ương ngạnh, cho mình là hạt cát giữa sa mạc; rên thầm: “Feminamora mors animae” (tiếng La-tinh: Phụ nữ là cái chết của linh hồn). Rồi thì tâm hồn ùa dậy mộng mơ viễn cảnh: vài năm nữa ra trường sẽ là kỹ sư, sẽ là chồng của Jeanne... Tuần trăng mật sẽ diễn ra, lặp lại hình ảnh chiêm ngưỡng thể hình em yêu trưởng thành sung mãn, bên bờ biển Marseille tắm nắng, rồi du ngoạn thắng cảnh Paris tráng lệ... Vậy là anh chàng si tình lần khân dụ dự hầu đến tối thứ bảy sau sẽ đi nghe hòa nhạc nữa cùng Jeanne - người vợ mộng mơ...


 


Chờ con trai thời gian lâu không thấy về trả lời, ba anh cho con gái lên Paris gọi anh Hai. Trở về, nhìn vẻ mặt gầy u sầu của ba anh gân guốc đến khắc khổ chưa hề thấy. Xúc động, anh sụp quỳ xuống tạ tội.


 


 Hiểu thấu nỗi lòng cùng mối tình đầu đời của con trai hai mươi tuổi tráng kiện, ông dịu lại vẻ đôn hậu. Nỗi hoài vọng và ai oán tích tụ từ bao lâu nay, chỉ biết thổ lộ và gởi gấm vào đứa con trai độc nhất,buộc phải chia xa là não lòng lắm. Giọng ba anh thâm trầm chắc lọc từng ngôn từ: “Đến lúc còn chưa muộn phải kíp gánh lấy cái khổ nhục chung của dân tộc; tranh đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc thoát ách nô lệ! Thật đớn hèn thay mang dòng máu Lạc Hồng mà đi chối bỏ nguồn cội mình, ngoảnh mặt với Tổ quốc non sông mình; cầu vinh hưởng lạc…”.


 


(Bấy giờ là năm 1943. Nhưng từ năm 1940, phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương, nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp, để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Việt Nam lâm vào khổ nạn hai tầng áp bức: Nhật và Pháp. Đến năm 1930Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, nhưng cũng trở thành mục tiêu đàn áp của thực dân Pháp. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, ở tại hang Cốc Bó - bản Pác Bó - Cao Bằng. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội Phụ nữ cứu quốc, hội Phụ lão cứu quốc, hội Nông dân cứu quốc... Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội - gọi tắt là Việt Minh. Ngày 13 tháng 8 năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh. Ông bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quốc bắt ngày 29 tháng 8 khi đang đi cùng một người Trung Quốc dẫn đường và bắt giam ông hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết Nhật ký trong tù” trong thời gian này (từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm1943). "Nhật ký trong tù" là một tác phẩm được những tác giả người Việt Nam, người phương Tây và cả người Trung Quốc, như Quách Mạt Nhược, Viên Ưng hay Hoàng Tranh đề cao… Cuối tháng 9 năm 1944, ông trở về Việt Nam. Khi này các đồng chí của ông ở Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... đã quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh. Thay vào đó, ông trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính quy là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch… - Hành tung từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, dần dần về sau Tường Tri mới lần ra…)


 


 


 


(còn tiếp)


 


Nguồn: Biệt ly huy hoàng. Tiểu thuyết của Thanh Giang. NXB Văn học, 2011.


 


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 


 


 







[1] - Bom CBU đã ném ở mặt trận Xuân Lộc, nổ chấn động cực mạnh, đốt cháy không khí diện rộng, người và vật bị chết ngạt.




Mục lục:
1.
2.
3.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »