tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
25.06.2019
Phùng Phương Quý
Ma rừng


Chương 1


Sướng nhất là ngồi bè ngược. Chẳng phải vất vả gì, ngoài việc ngồi ngắm trời, ngắm đất, hoặc thi thoảng kiểm tra dây nín bè có còn chắc không. Chỉ tiếc quãng sông này ngắn quá, ca nô kéo một ngày là tới cảng Đại.


 Khổ nhất là thả bè mùa nước cạn. Phải bốn năm ngày mới từ bến Quân về tới ngã ba sông Hạc. Một mình suốt ngày phơi mặt, phơi lưng trên chiếc mảng nhỏ để lái bè. Muốn lái bè sang trái thì bỏ neo bên phải. Muốn lái bè bên phải thì bỏ neo bên trái. Neo cắm xuống lòng sông rồi, dây cáp kêu tưng tưng, chiếc bè đột ngột bị  kéo lại, vặn mình răng rắc. Mũi bè chuyển hướng rồi phải đứng cho vững, cong đít nhổ neo lên. Lúc thả neo cũng phải chọn tư thế đứng cho chuẩn, kẻo dây óc cuốn vào chân, kéo hút người xuống đáy sông, chỉ còn cách làm bạn với Hà Bá.


Ca nô chạy gần, thở phịt… phịt như lão già cày ruộng trưa. Sợi cáp “mười hai” daì hai chục mét nối từ ca nô đến bè rung lên bần bật. Chân vịt cuống cuồng tung từng cuộn bột nước trắng, trôi về tận mép bè. Chiếc bè dài sáu mươi đạy gỗ, lượt thượt như con thuồng luồng cố ngóc đầu lên khỏi mặt nước, phía trước dập dềnh rều rác. Bè chậm chạp bò ngược, nhìn sang hai bên bờ sông thì tưởng bè đứng tại chỗ. Thằng ranh kia đúng là đi sông nước lần đầu, cứ rách mắt mà ngắm. Bờ bên phải dựng đứng, lở loét đất ven đê. Bờ trái có bãi bồi trông như con rùa xanh cõng trên lưng ngàn ngạt ngô trổ cờ cố bò ra mép nước.


- Bố sư mày con ạ! Mới thế mà đã nôn mửa lả ra. Cái xác chết trôi tấp vào đầu bè có gì lạ đâu. Hơn ba mươi năm sông nước, tao gặp hàng trăm xác chết trôi. Đàn ông có, đàn bà có. Kẻ thì nguyên thây, kẻ cụt đầu, kẻ cụt chân. Đàn ông chết trôi thì nằm sấp. Đàn bà chết trôi thì nằm ngửa, vẫn giơ chân giơ tay dạng háng như tiếp đàn ông. Chả có gì buồn cười. Trời sinh ra thế. Cái cánh đàn ông, đàn bà ngủ với nhau thế nào lúc bị chết đuối dưới nước y như vậy.


Cách làm lều cánh tiên hợp  lý chưa? Cãi bố mày mãi. Làm lều trên bè không cần buộc bịn kĩ như lều trên bờ. Chỉ cần hai chiếc cột cái cao ngang đầu. Hai đốc che cho kín. Kèo buộc hình tam giác thế này là khi làm hai mái, chỉ cần buộc chặt vào cây nóc lều, còn cứ để xập xoè thế này. Ban ngày chống lên thành mái nghỉ. Ban đêm thả xuống cài chặt lại thành phòng ngủ. Mưa không sợ, bão không sợ. Hôm đầu cô Mận đưa mày xuống, thấy cung cách giật mãi đầu hồi để chui vào lều. Tao biết ngay mày là người chưa biết đi bè. Chẳng biết chó gì về bè, có mày là một, nhưng được như hôm nay cũng là khơ khớ rồi đấy.


Tên tao gọi là Pháo, nhưng không phải là Pháo! Cười cái đếch gì. Tên khai sinh của tao là Lê Đình Phao. Phao nổi ấy. Hồi đi bộ đội tao là thằng rất máu gái, cứ đến địa phương nào, dù đơn vị chỉ qua đêm tao cũng phải mò bằng được một con đàn bà. Nạ dòng, gái góa ở đâu chẳng có, đánh vào mấy cái đồn ấy dễ lắm. Cũng có khi gặp may vớ được mấy em còn trẻ. Đời lính sống chết biết thế nào, nên tao cứ phải chơi cho biết mùi đời. Đơn vị họp hành kiểm điểm chán xong cũng nhạt dần. Chiến trận ầm ầm, hơi sức đâu mà lo những chuyện ấy. Anh em thấy thế mới thêm cho tao dấu sắc. Thế là thành Pháo. Không phải pháo “ba bẩy”, không phải pháo “một linh năm” mà là pháo “mười bốn li năm” bốn nòng, bắn cấp tập. Kha!…Kha! Nhoáng cái đã 70 tuổi, tao vẫn mắc bệnh nghiện đàn bà. Đi làm cho cô Mận thế này, chẳng phải thiếu đói gì, nhưng cũng có khớ tiền. Mũi bè sáu mươi đạy, về đến cảng tao có sáu trăm nghìn. Nếu phải nằm lại trông bè mỗi ngày ba  mươi nghìn nữa. Tao chỉ cho mụ vợ một nửa còn để giải quyết khoản sướng. Đố mày nhé: “Con gì ăn ít nói nhiều. Mau già lâu chết miệng kêu chiền chiền”? Không biết à? Là con mụ vợ già khú đế nhà tao đấy. Lắm điều như quạ, chưa thấy mặt đã thấy hỏi tiền đâu, tiền đâu? Chỉ giỏi cơm nước quét nhà chứ cái khoản kia thì tịt lâu rồi. Đi bè vất vả nhưng cũng sướng mày ạ. Dọc các bến sông, chỗ nào chẳng có vài con đàn bà sẵn lòng lên bè ngủ với mình. Có thì cho nó năm mười nghìn, không thì cây gỗ, bó nứa cũng xong. Cứ bảo đàn ông 60 tuổi đầu gối cắt không còn hạt máu, không trèo lên nổi bụng đàn bà. Láo toét! Tao 70 rồi, vẫn còn khoẻ như vâm thế này. Da bánh mật này, bắp tay, bắp chân săn như chão này. Mày bảo chịu thế đếch nào được. Tao nói thật, cái khoản gái chúng mày còn theo khướt. Càng già càng dẻo, nhát nào ra nhát ấy, chứ như mấy thằng thanh niên, chưa trèo lên tới nơi đã phụt ra hết, mất công chị em cởi quần. Con Đức ở cảng An Đại, nổi tiếng vì một lúc tiếp mười ba thằng. Vì sao? Vì nó quá điêu luyện. Thằng nào lên, nó quặp chặt lấy, vừa khép đùi, vừa “sàng gạo”, chưa đầy nửa phút là xong. Lần gặp tao giở đủ ngón ra  mà không hạ nổi, tao nện cho gần tiếng đồng hồ, sướng quá chả rú như chó rồ. Caí nhà cô Mận góa chồng hơn chục năm rồi mà không lấy ai. Béo phây ra thế, có cải thiện ở đâu không để thế phí của giời. Nói thật là tao vừa thương, vừa nể nên đi bè cho hai năm nay, chứ nó kiệt bỏ mẹ, chi li với tao từng cái lạt nứa. Chỉ được cái sòng phẳng, bè về mũi nào là móc tiền thanh toán ngay, lại còn cho năm bảy chục đi “cải thiện”. Đêm qua mày nhát quá. Con bé ở bến Chè ấy, mới hai mươi tuổi thôi, nhà nó nghèo lắm, mẹ già bị mù, nên lảng vảng xuống bè kiếm thêm. Tao cho nó ba chục và cây mỡ cặp thêm cạnh bè. Mày cứ hỏi buộc hờ cạnh bè làm gì? Bây giờ hiểu chưa? Hừm! Thanh niên con trai gì, hơn hai chục tuổi chưa biết mùi đàn bà. Tưởng bọn thanh niên trong rừng ngứa cựa sớm lắm kia mà? Nghe tao, tối nay về cảng gọi con Đức xuống, cứ thử một nhát xem, xong lại chả nghiện ngay ấy mà. Tiền nong không phải lo. “Quân tử phòng thân-Tiểu nhân phòng gậy”, mày thấy những bó đũa, xâu rế bắc nồi kia không? Nhà tao có hai mống, dùng đến sang cát không hết. Đấy là tao rỗi rãi cứ vót, cứ đan sẵn đấy, con nào lên ngủ bè, cho nó. Cũng là trả công đúng không? Hừm!  Chỉ thương nhà cô Mận. Béo nần nẫn. Của ấy chỉ để sờ là thích. Nói thật với mày, mỗi lần đứng gần cô Mận, tao toàn phải ngó lơ chỗ khác, không giám nhìn vào thân thể cô ấy, sợ cái thằng mất dạy của tao nó bật lên thì ngượng mặt.


Bố sư mày! Có cái xác trẻ con mà sợ vã mồ hôi ra. Đã thế từ nay có cái xác nào tấp vào bè, ông cho mày ra dọn. Hả? chôn làm phúc á? Mày nói dở như con c… Đang ngồi trên bè thế này làm phúc kiểu gì? Cứ lấy sào mà đẩy nó ra. Dưới Vĩnh Hưng có cái vụng sông, xác nào cá chưa rỉa hết thịt thì rồi cũng trôi về đây. Chả thế những nhà có người chết trôi thường về đón ở dưới ấy. Vạn bất đắc dĩ, dân làng cũng chôn cất làm phúc. Bố sư mày! Có thế  mà cũng nôn mật xanh, mật vàng ra. Nhớ lấy. Đêm ngủ trên bè sáng ra phải để ý, thấy có mùi lạ phải kiểm tra đầu bè, thế nào cũng có xác động vật, hay xác người trên thượng nguồn trôi về. Mãi khắc quen. To xác mà dái teo lại bằng quả xoan. Tao ngày nhỏ còn nằm cạnh người chết cơ. Bố mày lại thèm nói phét à! Năm tao mười bốn tuổi thằng “Trương trê” bạn tao bị ốm nặng. Hả? Thì cũng như tao thêm dấu sắc gọi là Pháo ấy. Thằng Trương rất giỏi câu cá trê. Nó chịu bẩn nặn mồi câu bằng phân người. Đầm, ao nào có cá trê, nó câu bằng tiệt. Bọn tao mới đặt tên cho nó là “Trương trê”. Bố nó đi dân công Điện Biên, bị sốt rét ngã nước chết ở Sơn La. Mẹ nó mấy năm sau đi cấy giữa trưa tháng sáu, bị cảm nắng chết nốt. Nhà còn có hai anh em. Anh Cự mười tá, khoẻ như vâm, Trương trê lẻo khoẻo như hình nhân, nhưng chẳng ốm đau bao giờ. Nó phải đi chăn bò thuê lấy tiền đi học. Một buổi chiều anh Cự làm đồng về, vừa mở cánh cửa treo lên thì trong nhà có tiếng đập bịch vào cửa, không cho mở. Mấy lần như vậy, anh Cự nghi có trộm, bèn cầm đòn gánh ống cố đẩy cửa, nhưng chẳng có ma nào, chỉ có con rắn trắng mốc to bằng cổ chân nằm khoanh tròn trên chiếc phản gỗ sau cánh cửa. Con rắn nằm khoanh tròn một khúc bằng cái miệng thúng giang. Cứ nghe tiếng động, nó lại ngóc đầu lên, thụt thò cái lưỡi chẻ hai, quăng mình vào cánh cửa liếp. Không có đường lui anh Cự xông vào quần nhau với con rắn, mấy lần suýt bị nó mổ trúng người. Người và rắn rình rập, đuổi nhau quanh hai gian nhà chật, sau con rắn bị kẹt vào giữa khe tường và chiếc hòm đựng thóc, chưa thoát ra kịp liền bị đòn ống của anh Cự đánh chết. Anh Cự ném con rắn ra sân, nó lại nằm khoanh tròn như bánh xe cút kít. Lúc anh Cự châm điếu cày, rít thuốc lào sòng sọc, thì con rắn bỗng lật nghiêng, cứ như bánh xe lăn tròn ra cổng. Thằng Trương đi thả bò về trông thấy cái bánh xe rắn vội kêu toáng lên, nhổ cọc rào đập, anh Cự cầm đòn gánh chạy ra vụt vô kì trận vào con rắn, đến lúc chết hẳn. Con rắn bị lột da băm viên rán, hai anh em chén ba ngày không hết. Mấy hôm sau Trương trê bị ốm. Nó nằm liệt không ăn được gì, chỉ húp nước cháo. Tưởng ốm xoàng ai ngờ nó nằm mấy tháng, thối cả thịt. Nghe nó ốm nặng ba thằng bạn học chúng tao góp tiền mua được nải chuối tiêu và ba chiếc bánh đa vừng đen đến thăm. Vào nhà, thấy anh Cự đang vừa khóc vừa lau rửa cho Trương. Anh mếu máo:


- Chúng mày ơi! Thằng Trương chết rồi.


Dân làng kéo đến giúp anh Cự khâm liệm. Nhà nghèo quá chẳng có vải bó, đành mặc cho thằng Trương bộ quần áo lành lặn nhất. Quan tài thì xẻ từ bộ phản gỗ, ghép lại. Nải chuối và ba chiếc bánh đa của bọn tao biến thành đồ thắp hương cho “Trương trê”. Dân làng định chôn cất nó ngay hôm ấy. Nhưng quan tài chưa ra khỏi nhà thì trời đổ mưa tầm tã cho đến tối. Việc chôn cất đành hoãn đến mai. Đêm ấy ba thằng học trò ở lại canh thi hài người chết cùng anh Cự. Mưa suốt đêm, lúc ràn rạt, lúc tí tách. Quanh nhà nỉ non tiếng dế khóc. Lại nghe kèn kẹt tiếng cá trê kêu sau nhà. Lại có tiếng “Trương trê” khóc thút thít. Ba thằng sợ run nhong nhóc. Gần sáng, trong quan tài thằng Trương có tiếng lục cục. Hình như có con mèo hay con chuột nào chui vào. Chúng tao ngồi cả dậy. Thằng Thi đái ra quần. Tao nghiến răng trẹo cả quai hàm. Bọn tao tưởng tượng ra đằng sau thằng Trương bị loét lở vì nằm quá lâu, mấy con chuột đang rúc rích chén món thịt thối của nó. Anh Cự đốt thêm chiếc đèn dầu, soi dọc quan tài. Không thấy bóng con mèo, chuột nào, mà lục cục phía trong quan tài, tiếng thở phì như rắn phun. Anh Cự hô bọn tạo soi đèn, rồi tháo tung nắp quan tài. Mọi người trợn tròn mắt, còn tao ngã ngồi xuống đất. Chẳng biết người hay ma? Trương trê đang khua tay, nhai nhóp nhép mấy hạt gạo ban chiều anh Cự thả vào miệng lúc khâm liệm. “Trương trê” được khiêng ra khỏi quan tài, nó ngồi dựa lưng vào tường, kêu như mèo hen:


- Đó …ói…q…ú…a!


Anh Cự vội bóc một quả chuôí tiêu đưa vào miệng Trương, nó tóp tép ăn hết, đưa mắt ra hiệu đòi ăn nữa. Lạ quá! Nó chén sạch nải chuối haivà một chiếc bánh đa vừng. Nó không chết mà hai tháng sau mới khoẻ hẳn, bỏ học đi chăn bò. Bố sư mày! Tao lại thèm nói khoác. Hôm nào về Dộc Cạn với tao, hỏi cả làng xem. “Trương trê” đi bộ đội, mãi năm Mậu Thân mới chết thật. Nó là liệt sĩ duy nhất của xóm tao thời chống Mỹ đấy.


                                                  ***


 


Hai  mái lều cánh tiên lợp lá cọ, phành phạch gió, mát rượi. Bụi nước bắn lên tận lều, tanh mùi rong rêu, bùn và mùi cá chết. Chiếc chiếu hoa ẩm mốc, chữ Hạnh Phúc in bằng mực đỏ nhoè nhoẹt. Lão Pháo có vẻ sung sướng thế nhỉ? Trông lão có vẻ thư thái. Lão sung sướng vì có cái tên Phao thêm dấu sắc thành Pháo? Tên tôi là Học, nếu cũng thay dấu sắc như lão thì thành Hóc, nghe không được xuôi tai. Mới vào nghề chưa đầy tháng, lão phải biết tôi đã gặp xác chết trôi bao giờ? Một lần trong tù, tôi có nhìn thấy xác chết. Không hiểu tại sao thằng điên đó lại tự tử. Y như con lửng chết trong rừng, chẳng ai biết đến, chẳng thành cỗ thành tiệc cho ai. Tôi ở tổ tự giác, khi đắp chiếc vỏ chăn nhàu nhĩ lên mặt thằng tự tử, tôi thấy con mắt hắn he hé, cái miệng méo xệch. Bấy nhiêu cũng đủ làm tôi mất ngủ cả tuần. Ở bản Gió, chưa thấy ai chết trôi như thằng bé sáng nay. Chỉ nghe nhà họ Triệu có người leo cây lấy mật ong, bị ngã chết. Người nhà họ Cấn đi săn thú ban đêm bắn nhằm vào mặt nhau chết, nhưng tôi không được nhìn. Thằng bé sáng nay trần như nhộng, cặp mông căng tròn như quả bóng chổng lên trời. Nó nổi lập lờ ở đầu bè, ném vào mũi hai kẻ còn sống mùi rắm thối khẳm, buồn nôn.


- Sợ gì cơ chứ? Lấy sào mảng mà đẩy nó ra giữa dòng ấy.


Lão Pháo quát tháo làm tôi sợ cuống. Một tay bịt mũi, một tay cầm sào chọc vào cái xác. Chiếc sào trượt đi như chọc vào chiếc săm ô tô bơm căng. Cái xác làm mình làm mẩy, lăn qua lăn lại đùa giỡn, mãi mới chịu lừ lừ bơi ra khỏi đầu bè, xuôi dòng theo kiểu bơi ếch. Tôi cũng trượt chân tụt xuống giữa khe hai đạy gỗ, hốt hoảng vì bị con rắn nước ướt rượt cuốn vào cổ. Tôi vội túm lấy con rắn vứt bừa lên bè. Thì ra bụi rau muống. Những gốc rau muống chúng tôi vứt đi sau khi hái ngọn  luộc ăn từ hồi mới đóng bè trên bến Quân, giờ đã mọc thành bụi, sống nhởn nhơ giữa khe gỗ, theo dòng sông chu du từ đầu nguồn sông Đà tới giữa khúc sông Lô.


Chị Mận bảo tôi hãy cố mà học thành nghề. Nghề gì cũng được, miễn là kiếm ăn chân chính. Muốn thế phải nghe lời lão Pháo. Lão là thợ đi bè nổi tiếng dọc sông Hồng. Khi cánh cổng trại giam khép lại sau lưng, tôi bàng hoàng chưa tin mình là người tự do. Ba năm tròn vo như viên bi đá vôi xoáy bằng vỏ ốc biêu. Dù tích cực cải tạo nhưng tôi không được giảm án ngày nào vì hay đánh nhau trong tù. Bọn tù cũ hay bắt nạt tù mới. Vào trại là bị chúng làm luật ngay. Tôi không chịu. Tao mang tội vì chống người nhà nước, sợ gì mấy thằng tù. Với lại mấy thằng đầu gấu trong tù huyênh hoang “rung cây doạ khỉ”, chứ bị nhốt lâu ngày, bấy bớt thế kia, một thằng trai núi như tôi, khoẻ hơn gấu, sợ gì chúng. Buồn chán! Mới hai mươi ba mùa hoa Hồng trà mà tương lai như đỉnh núi bị mây mù che kín. Cả bản, cả động nhìn tôi như nhìn con khỉ chột mắt hay bẻ trộm ngô. Hầy dà! Có phải thằng Học đi tù về không? Mày đi tù mà béo trắng nhu con lợn cạo thế a? Chi đoàn thanh niên không cho đi họp chung. Xin đi bộ đội, xã bảo thành phần “chống người thi hành công vụ” không đi được. Con Mây bên động Chóc đi học nội trú về, bảo tôi : “Anh Học à! Muốn làm dân bản tin mình, chính quyền tin mình, hãy tìm việc gì tốt mà làm. Con lũ qua, lại lội suối được thôi…”.


Tôi nghe con Mây ra bến Quân, cách bản hai ngày đường để xin vác gỗ thuê cho ông cai thầu gỗ. Cái ngày may mắn ấy mới cách đây một tháng. Đang vác gỗ thì có một bà  mặc quần áo đen, béo núc ních tìm đến. Nghe ra, đây mới là bà chủ thật sự, tay thầu gỗ kia chỉ là một trong bốn kẻ đi thu gom cho bà ta. Đó chính là chị Mận. Dựng chiếc xe máy đỏ chót trên đê, chị xắn quần đến bẹn, đi chân đất ra tận bãi gỗ.


- Có vất vả lắm không các em? Cầm mấy bao thuốc hút cho vui. Xếp từng loại riêng cho chị nhé. À! Có cậu nào tên là Học, người bản Gió làm ở đây không?


Tôi vứt mạnh cây gỗ trên vai xuống, gườm mắt nhìn dò xét. Lại có chuỵên gì liên quan đến mình nữa đây? Tôi bảo, tôi là Học đây, nhưng mấy tháng nay toàn vác gỗ trong rừng ra bến, không gây gổ với ai cả. Chị Mận cười như bắt được của. Cậu Học đây à! Đẹp trai thế này cơ à? Chị tìm cậu định nhờ chút việc. Kéo tôi lên đê, chị nói luôn là đang rất cần một người khoẻ mạnh đi theo trông bè. Nếu em đi được, mỗi tháng chị trả lương ba trăm, cơm ba bữa. Tôi lại rơi vào trạng thái bàng hoàng như hôm mới ra tù. Sao tự dưng có người tốt với tôi thế. Tìm cho việc làm lại có lương hàng  tháng. Tôi có thể ngẩng mặt lên với bố, mế và dân bản rồi. Tôi nhận lời ngay. Cậu có biết bơi không? Biết! Nhưng ít thôi. Thế thì được. Mai xuống bãi gỗ nhận việc. Mãi sau này tôi mới biết mình được chị Mận tin tưởng là vì thành tích mới ở tù ra. Tôi không có thời gian để suy xét xem chị Mận là người thế nào, chỉ biết chị đã giúp tôi vượt khỏi cảnh khốn khổ. Đã trốn được những con mắt khó chịu của dân bản, lại được tự do, thoải mái rong chơi sông nước. Lão Pháo bảo dọc bờ sông, nhan nhản lũ thanh niên vô công rồi nghề, cứ thấy bè trôi qua là bơi ra xin đểu. Từ ngày biết trên bè lâm sản có thằng tù mới ra, không đứa nào quấy rầy nữa. Tôi mới biết được tiếng tăm của mình có uy lực thế nào lúc bè gỗ qua Ghềnh. Lão Pháo hí húi thả neo, kéo neo đưa bè qua khúc sông ngoặt. Trong bè chỉ có mình tôi bó gối nhìn sông nước. Bên bờ trái, một mố cầu đang được xây lên. Chiếc cầu phao dưới kia chắc chỉ còn tồn tại được mấy tháng nữa. Lão Pháo dặn tôi qua khúc này cẩn thận trông nom bè, không bọn xin đểu hay bơi ra phá phách. Bè qua Ghềnh, rất chậm vì thi thoảng còn phải thả neo. Lái bè trôi vào lạch sâu. Nước vỗ róc rách. Gió thổi lồng lộng. Chẳng thấy chiếc thuyền nào bơi ra cả, chỉ thấy mạn phải cầu phao, những công nhân phà đang hò hét nhau đẩy những chiếc phao bằng sắt vào sát bờ. Bỗng hai vệt nước tung trắng xoá cạnh bè. Hai cái đầu tóc dài cợp nhô lên, lắc lắc giũ nước như con vịt vừa lặn ao. Hai cái miệng phun phèo phèo. Hai thằng thanh niên cởi trần lóp ngóp trèo lên bè, khật khưỡng đi về phía lều.


- Chào ông anh! Bè bến Quân về hả?


 Chúng nhệch miệng cười, tôi lãnh đạm không nói gì. Hai thằng nhìn nhau, rồi lại nhìn tôi.


- Mẹ kiếp! Chẳng bè bến Quân thì bè nào. Vẫn lão đầu bạc, da nâu kia thả neo. Nhìn gỗ cũng biết từ Quân về mà. Xin điếu thuốc!


- Tao không hút thuốc!


Tôi bực mình luồn tay vào trong quần lót, có con kiến vàng chui vào bẹn từ lúc nào, thừa lúc tôi duỗi chân, đốt cho một phát buốt nhói.


- Chúng mày ra đây làm gì?


- Nói thật là mày chưa đi qua đây lần nào. Đúng không? Hai thằng tao vừa đi tù về, đói lắm, bơi ra xin ăn đây.


- Đi tù về bao giờ? Trại nào ra đấy?


Hai thằng tức giận, nhảy cỡn lên, tí nữa thì tụt chân xuống khe gỗ.


- Trại Tam Hoàng! Mày biết đéo gì trại với kho mà hỏi.


- Sao không biết! Tao ở trại Tam Hoàng ba năm mới ra, lính K5 đây.


Thằng cao hơn có hình săm con đàn bà cởi truồng trên bả vai bỗng ngồi bệt xuống bè.


- Chết! Thế ông anh cũng mới trong kho ra à? Bọn em không biết, ông anh tha lỗi. Có… có chén rượu nào bọn em xin chén…


Tôi với tay ra phía sau, lấy chai rượu còn một nửa của lão Pháo đưa cho chúng.


- Uống đi! Rồi liệu mà lên bờ. Tao cũng đang chán đời đây.


Nghe giọng tôi trùng xuống, hai thằng vội ngửa cổ tu một hơi rồi chùi mép, chắp tay vái.


- Đại ca thông cảm, tụi em ngược đây.


Hai thân hình còm cõi lao ùm xuống sông, lặn mất tăm.


 


                                                   ***


Học ở trong ngôi nhà nhỏ ngay cạnh bến sông. Đây là quán bán hàng cũ khi bến đò sang lối này. Từ ngày bến chuyển xuống phía dưới nửa cây số, chủ quán cũng chuyển theo. Chị Mận thuê lại căn nhà này làm nơi ăn nghỉ, trông coi bãi gỗ. Chẳng có cửa ngõ gì. Phòng trong có chiếc giường kê bằng tre. Phòng ngoài ngổn ngang dây chão, cát, lạt còn xông khói đen nhẻm. Thùng phi đựng nước sông nổi váng vàng khè. Lổng chổng nồi xoong, bát đĩa, ấm chén…


Tay nhân viên của trạm nông sản được chị Mận cử lên thu mua gỗ ít khi về ăn cơm với Học, suốt ngày rong ruổi trên chiếc xe Mô kích màu lá mạ chạy từ Động Hào về bến Quân. Chỉ khi nào gỗ bắt đầu ra bãi mới thấy hắn phi xe về, người nồng nặc hơi rượu. Những con trâu đực đen trũi xếp hàng kéo gỗ ra bến. Những cây gỗ dài thượt, kẹp đôi kéo sau đít trâu, vừa lăn vào nhau vừa cãi nhau lộp cộp. Quy cách có sẵn, ra đến bến chủ trâu đo đủ bốn mét rồi chặt đôi, chặt ba cây gỗ. Dưới sông bì bõm mấy mảng gỗ nhỏ bơi ra từ phía hai con ngòi phía trên bến.


Mọi việc mua nhận gỗ do tay kia đảm nhiệm. Việc của Học là trông coi hàng đừng để mất mát. Khi nào bãi gỗ và bến sông đầy ngập gỗ thì chuẩn bị đóng bè.


Học đang vo gạo chuẩn bị thổi cơm thì chiếc xe Mô kích màu lá mạ lao xuống bến. Tay nhân viên trạm mặc xe đổ kềnh ra bãi, chạy vội vào nhà:


- Học! Chú Học! Ra đỡ anh với.


Trên đê, một thanh niên cởi trần, mặt tím bầm vác dao chạy xuống.


- Đ…mẹ thằng cán bộ nhá, thịt lợn bố mày còn kiêng, mày lại bảo bố mày ăn máu luồn nhá. Bố chém chết mày. Mày cậy là người nhà nước mày ép bố mày bán giẻ à?


Tay nhân viên mặt tái mét.


- Anh với nó vừa cãi nhau. Nó cứ đòi đo gỗ bằng thước sắt. Chỉ tại cái bà Mận. Anh đo bằng thước gỗ nó không nghe, thế là chửi nhau.


Học dựng chiếc xe lên, bước ra ngăn thằng cầm dao lại. Có lẽ nó là người Mường.


- Tỷ  roọng à? (Đi chơi à?)


Nghe Học hỏi bằng tiếng trong, thằng kia dừng lại.


- Mí e ẹ nó chứ! Tao lại có thì giờ đi chơi. Nó lại mua tranh bán cướp ngay ở đất bố nó à. Nó có biết bố nó vừa đi học võ về không? Bố mày học võ Tia côn đô mày biết không?


Thằng thanh niên xô Học ra, xông tới. Sẵn cây sào nứa, Học vụt ngang chân thằng  mặt đỏ, nó ngã sấp. Tay nhân viên vác khúc gỗ hai mét chèn ngang cổ nó. Mày biết chưa? Mày biết chưa? Học gạt cây gỗ ra bảo:


- Võ ở đâu thì võ, ra bến phá phách tao cắt dái.


Té ra thằng  mặt đỏ chỉ “võ mồm”. Nó đứng dậy lủi thủi quay lên còn giơ dao doạ.


- Lần sau vào mua gỗ bố chém chết!


Lão Pháo vào bến Quân, bắt đầu đóng cốn. Nghe kể chuyện đánh nhau của Học, lão khen. Thằng này khá. Theo nghề sông nước được. Lão sai Học đóng mấy chiếc cọc, cách nhau ba mét dưới ven sông, rồi lao gỗ từ trên bãi xuống. Lão già nhưng khéo léo như diễn viên xiếc. Từng bó chục cây gỗ xoay xoay dưới nước, lão vòng mấy vòng lạt nữa, đạp chân mấy cái là bó xong một đọn. Thằng kia, nhìn đây! Gỗ nhỏ thì mười đến mười hai cây một đọn. Lớn thì năm, sáu cây. To hơn nữa thì ba cây. Cây to ở dưới, cây nhỏ hơn ở trên. Lấy cuộn lạt đã ngâm nước kia kìa. Luồn lạt qua đọn, gài ba, bốn mối, giữ chắc hai đầu vừa đạp, vừa thít vào thế là được một đọn. Mười đọn một đạy, năm trên, năm dưới. Trên, dưới đạy lao hai dầm ngang, lấy lạt nín chặt vào. Lấy dây song mật hay cáp thép nín dọc thân bè. Hàng ngang ba đạy, để đạy giữa buộc cáp cho cân. Mỗi bè từ sáu mươi đến một trăm đạy, tuỳ theo con nước mà thả.


Ba ngày học việc, Học tương đối thành thạo việc đóng cốn. Lúc đầu lão Pháo hay nhăn nhó, sau thấy học trò nhanh nhẹn, khéo léo nên cũng dễ dãi hơn. Thằng trâu núi. Nó làm việc nặng cứ như đi chơi. Lão mắng:


- Bố sư mày! Từ từ thôi, không thọt cà lên cổ mất lấy vợ đấy.


Chiếc xe máy CD màu đỏ như đốm lửa rơi xuống chân đê. Cô Mận hùng hục đi tới, quần xắn tới bẹn, hai bắp đùi trắng nhễ nhại, to như cây chuối hột. Cô oang oác.


- Thầy trò nhà ông làm tới đâu rồi? Khẩn trương để ngày mười hai xuôi bè nhé. Tôi xem ngày rồi. Bác Pháo cầm mấy chục tìm mua còn gà thắp hương, nhớ mua gà trống chân vàng, mào cờ nhé. Cậu Học thạo việc chưa?


 Lão Pháo dán mắt vào hai cây chuối hột, lủng bủng:


- Khá rồi! Thằng này tạm được, còn hơn thằng Huy mếu ngày trước, làm thì chậm chỉ đòi ăn suốt ngày.


Học im lặng nhìn ra sông. Nước dềnh lên màu hồng nhạt, bọt nước từng đám nổi lên như mặt chiếc bánh đa khổng lồ. Bờ bên kia có một hàng cây xà cừ lớn trông như lão gù đội nón. Một bè nứa nhỏ trôi qua bến. Dưới lùm cây che nắng cắm trên bè, một thằng đàn ông cởi trần, giơ tay vẫy vào bờ:


- Ê…ê…ê…! Có ngứa… không em ơi?


Chắc nó nhìn thấy cặp đùi chuối hột của cô Mận.


- Cha tiên nhân thằng giời đánh. Mày vào đây bà chẳng kẹp cho vỡ đầu. Cô Mận lẩm bẩm chửi. Bỗng Học nhảy nhoáng nhoàng lên bờ, chân trượt cây gỗ ướt, ngã oạch. Lão Pháo rời mắt khỏi cặp đùi trắng, gắt gỏng.


- Làm gì như trông thấy ma thế?


 Học thở hổn hển, chỉ tay xuống mép nước. Một xác người đang dập dềnh trôi qua cạnh bè gỗ, hai tay giơ lên trời như muốn ôm lấy ai. Thân hình nằm ngửa, trương phềnh như con bò thui dở, chỉ có độc chiếc si líp trên người. Đó là xác một phụ nữ.


- Bố sư… có gì mà sợ. Người này chắc tắm sông sảy chân chết đuối. Đã nổi lên trôi về đến đây, có lẽ chết từ trên Ô Lâu. Cứ chặt rừng mãi, lũ xuống chỉ thiệt mạng trẻ con với đàn bà.


Cô Mận mím môi cố ghìm để không nhổ nước bọt.


- Không chặt cây ông lấy gì mà thả bè? Mà tại sao nó cứ lõ mắt nhìn tôi thế? Chuyến này không kịp xuôi ngày mười hai, ông đi luôn làm cho ai thì làm.


Lão Pháo há hốc miệng. Người đâu mà đồng bóng thế. Mới cười xong lại cáu ngay được. Lão không biết nỗi bực dọc của cô Mận. Sáng nay ở cảng nguyên liệu, cô đem biếu thằng Khiêm thủ kho hộp bia Halida kèm phong bì hai trăm. Thằng răng vổ ấy cũng nhìn chòng chọc vào cổ áo trễ của cô, miệng hềnh hệch.


- Chị gái cứ giơ mãi hai quả đào tiên ra làm em chóng cả mặt.


Nó lại còn chớt nhả đưa tay nắn nắn thử.


Cô Mận giật ra, giận tím ruột nhưng miệng vẫn phải cười:


- Chuyến nay bè về, chú ưu tiên cho vào bãi sớm hộ chị với. Chị không dám quên đâu.


- Tất nhiên! Chị quên thì… thôi ! Chị em ta cùng vào cho nhanh, nhỉ?


Các người ăn đấu làm khoán biết thế nào nỗi khổ của ta. Mang tiếng là trạm trưởng thu mua lâm sản, nhưng chỗ nào cũng phải sắn quần lội vào. Ba thằng nhân viên thì hai thằng nát rượu, cứ tin tụi nó thì có ngày ngồi tù. Cái đồ dê già kia chỉ biết nghỉ ở đâu là bổ đi tìm gái. Già rồi còn hư thân, mất nết. Tại lão nổi tiếng dọc mấy con sông về tài đi bè, ta mới chiều chuộng thế, đừng có tưởng bở.


Tay Khả ở Uỷ ban huyện là thằng ăn bẩn. Xin đuợc cái giấy hợp đồng thu mua lâm sản trên địa bàn huyện mà nó ăn tiền cả của ta, cả của tay Giám đốc lâm trường. Mua được bè gỗ có dễ đâu. Nào thuế cửa rừng, lại phải cho đám cán bộ xã tý chút, rồi còn làm luật dọc đường, đối phó với lũ cùn đời, xin đểu. Trời quang mây tạnh còn may, chứ mưa bão liên miên, có lần bè trôi, dân ven sông cướp gần hết, chẳng chết được phải chịu. Thuê ca nô kéo bè ngược cảng mất bao nhiêu tiền. Lên đến cảng còn ăn đợi nằm chờ, chạy ngược, chạy xuôi, dúi chỗ này chiếc phong bì, dúi chỗ kia hộp bia mới nhập xong hàng. Đến con nhân viên kiểm hàng  mặt cũng vênh vênh, không dúi vào túi nó mấy chục là gỗ mười nó cũng kẹp thành gỗ tám. Mang tiếng là người của nhà nước, nhưng làm ăn theo mức khoán rồi, thế nên trạm nào có thân trạm ấy lo, thành ra đi buôn lậu hết.


Có người đàn bà nào vất vả như ta không? Mười hai năm góa chồng, vừa lo làm ăn vừa lo đối phó với trăm điều thị phi. Vừa lo giữ yên chỗ ngồi vừa lo quan hệ tốt xấu chỗ này, chỗ kia mà kiếm ăn.


Lần này thuê được thằng Học, cũng đỡ lo bị quân xin đểu dọc đường. Chỉ có ta mới biết dùng người. Trong sách chẳng nói  “Dụng nhân như dụng mộc”. Khúc nào to ta đóng tủ, khúc nào cong ta làm vạy cày. Con người cũng thế, ai cũng làm được tốt một việc gì đó, cốt là đặt họ vào đúng chỗ. Như lão Pháo đi bè thì cả vùng trời này không ai qua mặt. Mùa nước cạn khối bè không dám đi qua Ghềnh, mà lão Pháo vừa đi neo vừa hút thuốc. Cái lão dê già. Nó cứ dán mắt vào đùi người ta. Nó đâu biết ta cũng râm ran nóng từng thớ thịt khi bọn đàn ông thiêu đốt nó bằng những ánh mắt thèm muốn. Ta cũng chẳng phải hạng “liệt nữ”, chẳng qua việc làm ăn, đối phó chiếm hết thời gian cuộc đời, ta cũng muốn được bàn tay đàn ông vuốt ve, ôm ấp lắm chứ.


 


Chương 2


Vệt nắng bỗng thoát ra khỏi chiếc chân mây khổng lồ, chiếu xuống triền núi phía Tây làm dãy núi sáng bừng lên như mới được tắm gội. Những ngọn núi bên dưới hiện dẫn ra, nhấp nhô bò về phía Nam, nơi sông Hát như sợi chỉ bạc luồn giữa miếng vải xanh của núi rừng.


Lá khô rụng lên lớp lá mục thành tấm thảm. Rừng che thành ba tầng tán. Những cây thảo mộc, nứa dại ở tầng dưới. Giữa là những cây dổi, cây dâu da hình chóp nón. Những thân cây to cỡ vòng tay ôm xuyên qua hai tán thấp, lao vút lên trời cao, tạo thành tán của rừng đại ngàn. Bên lối mòn, hai hòn đá dựa đầu vào nhau, tạo thành chiếc cổng nhỏ người ngựa đi vào. Những bụi song mật vàng óng, tua tủa gai, như những con rồng cuốn vào nhau, mỗi con to bằng cổ tay bám từ cành cây này sang cành cây khác, dài hàng trăm mét, chui tọt vào rừng sâu. Bên kia khe núi, một cây gỗ già trắng mốc vươn lên giữa trời xanh biếc, cành trơ trụi, khẳng khiu như bàn tay của quỷ rừng. Tiếng bìm bịp vang vang nhịp mõ cho bọn vượn rì rầm tụng kinh buổi sáng. Lao nhao bản hoà tấu không nhạc trưởng của lũ chim rừng.


Có bốn người lầm lũi theo lối mòn lên đỉnh núi. Người đi đầu là một đàn ông bản địa thấp lùn, chắc đậm, quần chàm lửng, áo sơ mi xanh tím, bao dao đánh nhịp phành phạch theo mỗi bước chân nhanh nhẹn. Đằng sau là hai người mặc đồng phục kiểm lâm, lưng áo ướt sũng mồ hôi, giày vải lấm bùn. Hà - Hạt trưởng kiểm lâm tóc hoa râm, quần xắn cao, bước đi thoăn thoắt. Khánh tầm thước, cao hơn Hạt trưởng cái đầu, bên hông kềnh kệnh sà cột da. Người mặc thường phục lặng lẽ đi cuối cùng.


Bám vào một rễ cây, già Hoa nhẹ nhàng nhảy lên hai bậc đá như thanh niên.


- Đến rồi!


Ông già mặt đỏ, chống nạnh chỉ tay về phía trước. Hai người cán bộ kiểm lâm thở hổn hển, choáng váng đứng không vững khi bất chợt bầu trời lồng lộng oà ra, người mặc thường phục còn mệt hơn, ngồi bệt ngay xuống cỏ. Gió. Mùi hoa rừng, như đợt thuỷ triều cuộn tới ngào ngạt. Họ đã đứng trên một đỉnh núi.


- Đây là đỉnh núi Voi, cao nhất vùng đấy.


Già Hoa thông báo.


Khánh giở bản đồ, trải ra trên mặt đá, rồi tìm tòi, chỉ vào một điểm có nhiều vòng xoáy ốc.


- Là chỗ này đây hai anh ạ! Cao 1342m so với mặt biển.


- Già có hay lên đây không?


 Hà hỏi.


- Không có việc, không lên đâu, bốn mươi năm về trước, vài ngày lại lên đỉnh Voi một lần. Còn trẻ thích lên núi cao mà. Bây giờ bảy mươi rồi, không săn thú, không hái chè núi nữa, chỉ bọn thanh niên hay lên thôi. Cán bộ có muốn lên tháp trời không?


Già Hoa không chờ sự đồng ý, dẫn hai người đi về phía bãi cỏ rộng. Một tháp đã bốn cạnh cao hơn hai mét đựơc xây bằng những hòn đá to nhỏ xếp chồng lên nhau, vuông vức, thành hình tháp.


Già Hoa cũng không biết ai đã xếp những hòn đá kia thành tháp.


Khi lớn lên đã thấy người già bảo có tháp trời từ lâu lắm rồi. Trèo được lên tháp trời cả hai người vô cùng ngạc nhiên khi tầm mắt thoát khỏi tầm che chắn của cây rừng. Một vùng núi non rộng bao la hiện ra phía dưới kia, nhìn thấy cả cánh đồng Mường Cúc rộng hàng trăm hécta. Gần là những đụn khói nhỏ như  sợi chỉ từ mái nhà người Dao phía bản Hạ. Xa hơn là tỉnh lộ như vệt chì xám ngoằn nghèo chạy về phía huyện lỵ nơi li ti mấy mái nhà tầng vươn cao, đỏ như nốt ruồi núi. Những người xây nên tháp đá này chắc từ ngày xửa, ngày xưa và hẳn có con mắt chiến lược tinh tường.


Sau ngọn núi hình vú đàn bà kia là đất Hoà Bình. Sau dãy núi hình voi nằm kia là đất Sơn La. Rừng nguyên sinh từ dải núi có đám mây trắng giăng ngang kia vòng quanh núi Quạ, núi Cò, về Mó nước cuối dốc cổng Trời. Già Hoa khoát tay một vòng. Cán bộ có bản đồ, ngồi một chỗ tính được đất Mường, đất bản đến đâu, núi sông ở chỗ nào, còn dân bản ta phải nhờ cái chân, con mắt. Nó đi đến đâu, nhìn đến đâu thì biết đến đấy thôi.


Người mặc thường phục chăm chú nhìn vào bản đồ, ngón tay di chuyển trên một đường kẻ màu xanh.


- Kiểm lâm phát hiện ra nương thuốc phiện ở đây phải không anh Hà?


- Vâng! Xích về phía tây một tí anh ạ. Anh định lúc nào cho công an huyện tới kiểm tra?


- Ngay sau đây khi tôi về cơ quan! Già Hoa à. Bản Gió có cậu Học mới mãn hạn tù về, thái độ của nó thế nào?


- Nó ở nhà ít ngày rồi đi làm thuê ngoài bến Quân rồi! Thấy nó lầm lì ít nói lắm.


Tuần trước tổ kiểm lâm đi khảo sát vùng núi phía Tây đã phát hiện một nương Anh túc giáp ranh đất Hoà Bình. Trong chiếc lều trên nương chỉ có hai vợ chồng người H’Mông. Người chồng cười hở lợi: “Mình không biết đâu! Con vợ nó mua hạt rau cải về gieo, tự nó mọc thành cây thuốc phiện thôi mà”. Nếu không có kế hoạch bảo vệ rừng, ổn định đời sống cho dân, ai biết được cây thuốc phiện còn mọc ở nương nào nữa. Cả vùng rừng nguyên sinh còn lại hơn 8.000 héc-ta liệu có giữ nổi không? Nó tồn tại như có phép màu bởi địa hình hiểm trở, cách  biệt. Mai đây làm đường lên rồi, sẽ còn phức tạp. Trong rừng còn hàng trăm loài động  thực vật quý hiếm. Có đến chục loài thú có tên trong sách đỏ. Hàng chục hang động kỳ vĩ không kém gì hang động Hạ Long. Hà cũng biết rằng trong khu còn hơn năm trăm khẩu súng săn các loại chưa được quản lý, thu hồi. Việc này cần bàn phối hợp với bên công an làm cang sớm càng tốt. Hơn hai vạn dân trong vùng là hai vạn con dao, lưỡi búa sẵn sàng chém vào rừng. Giữ được rừng nguyên sinh, phải từ cái đầu của dân. Tuần trước họp giao ban của huyện, Phó chủ tịch Khả cười tươi bắt tay Hà, lắc mãi.,


- Cả tỉnh, cả huyện giao rừng nguyên sinh cho cậu đấy. Cố mà giữ! Hạt kiểm lâm vừa tách ra từ Kiểm lâm huyện. Chức năng giữ rừng như nhau nhưng trong khu rừng nguyên sinh này còn phải thêm nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên. Thêm cả khuyến nông, khuyến lâm. Phát triển nông thôn miền núi.


Nghe Phó chủ tịch huyện nói, Hà phật ý. Xôi thịt bổng lộc gì đâu mà ông ấy bảo cố  mà giữ. Đang yên ổn công tác, tự dưng… lên cấp, rồi bị tách ra ở riêng.


Một đoàn người với nhau ba lô, túi sách lên lập Hạt mới. Trụ sở Hạt là ba gian nhà tre lợp lá cọ. Trạm Dọc cũng nhà lá cọ, chỉ trạm Gió là được lợp Pờrôximăng. Thung lũng Gió rộng chừng bốn hécta, suối Chiềng chảy bọc phía ngoài. Xung quanh núi dựng thành, dựng luỹ. Người Dao trên vách núi. Người Mường ở dưới chân núi. Bao đời nay gắn bó với nhau.


Bản Gió cách huỵên lỵ chỉ mười lăm cây số đường chim bay, nhưng đi theo đường đất liên xã ra tỉnh thì phải hơn năm chục cây số. Ngay dưới chân núi là xóm Thượng, xe khách ngoài huyện đã vào đến nơi. Vậy mà từ xóm Thượng lên bản Gió chín cây số đường mòn, lại xa xôi như hai vương quốc cách biệt. Trừ cán bộ xã, một số người hay đi chợ và bọn học sinh về trường nội trú huyện, hầu hết người bản Gió chưa đi xuống huyện bao giờ. Hơn năm mươi năm qua khi có cách mạng người dân bản Gió tiếp xúc, hiểu biết về Chính phủ, Nhà nước thông qua chính quyền xã. Khái niệm Nhà nước được họ hiểu qua cái dấu hình chữ nhật màu đen thời kỳ Uỷ ban hành chính, đến cái dấu tròn màu đỏ của Uỷ ban nhân dân thời gần đây.


Cũng tại đường lên bản Gió quá hiểm trở. Từ xóm Thượng đi một đoạn cánh đồng rồi lội qua sông Hát. Sang bờ bên kia đường đi đã rậm rạp, những đàn dê nghênh ngang cặp sừng nhìn người qua lại, chạy dúi vào nhau kêu be be. Bám theo triền núi, những bãi phân dê lổn nhổn, bàn chân trầy trượt đến dốc ép Voi. Voi có đâu mà ép. Chỉ là triền núi này trông giống một con voi đứng bị hai trái núi hai bên ép chặt lại. Tiến không được. Lui không xong. Còn người và ngựa vẫn phải lựa mà lên, xuống. Vượt qua quãng suối nhỏ sang đoạn đường mòn hai bên um tùm lau sậy đến một con dốc cao choáng ngươì. Dốc Dòm mông. Dốc dựng đứng, trơn tuột. Ngựa thồ có lúc phải quỵ hai chân trước mà lên, người đi sau khéo nhìn không cứt ngựa vãi vào mặt. Mấy cô người Mông mặc quần hai ống còn thoải mái leo dốc, chứ  mấy cô người Dao váy lửng ngang gối, cõng hàng lên, còn ai trèo sau tha hồ ngắm mông. Một lần Hà lên bản Gió cùng cô y tá Triệu Thị Tiến. Đến chân dốc, Tiến dừng lại lùi về phía sau. Hà bảo:


- Em dẫn đường thì đi trước chứ?


- Cán bộ đi trước đi. Đến dốc Dòm mông rồi.


Tiến đỏ mặt thanh minh, tay khép chặt vạt váy trắng.


Muốn chuyển tấm lợp xi măng lên Gió; Kiểm lâm đành phải thuê mấy thanh niên người Dao cõng lên cho. Xi măng cũng phải thuê ngựa thồ. Giá cả dân bản đã quy định sẵn. Cứ một nghìn đồng một cân. Nhẹ là vải vóc, dầu đèn, mắm muối. Nặng là xi măng, gạch, sắt thép. Cứ giá ấy mà tính. Những năm trước cửa hàng thương nghiệp huỵên chuyển hàng ưu tiên miền núi lên bản Gió cũng chỉ chở vào đến xóm Thượng rồi nhắn lên bản, đợi người xuống cõng lên.


Quanh thung lũng Gió, cây gỗ già chết khô nằm ngổn ngang, chỉ việc thuê người xẻ vác về, nên Trạm kiểm lâm dựng ba ngày là xong. Một tuần sau, họ đã lập thành tích, bắt giữ sáu con trâu kéo gỗ từ rừng ra. Tại bờ sông, những người dân ngạc nhiên vì lần đầu tiên việc chặt gỗ kéo ra sông bán bị ngăn cản. Cuộc đối thoại hoàn toàn khó chịu.


- Sao cán bộ bắt trâu của tao?


- Rừng bảo tồn, không được chặt gỗ. Chặt là bị bắt, bị phạt đấy.


- Từ bé đến lớn, có ai cấm tao chặt gỗ đâu?


- Bà con không được chặt gỗ nữa! Bây giờ Nhà nước cấm rồi, nên mới cử chúng tôi lên đây. Hôm nào Hạt sẽ tổ chức họp dân, thông báo cho bà con biết.


Dù có giải thích mỏi miệng. Mấy người dân cứ khăng khăng một mực.


- Rừng của chung, ai chặt cũng được chứ. Không cho vào rừng lấy tiền đâu mua gạo, muối!


Sáu con trâu bị dắt về trại cùng tang vật. Những người dân vi phạm không chịu ký vào văn bản.


- Tao chưa ký được, nhưng cũng không điểm chỉ như ở xã đâu.


Đêm bỗng ồn ào, rậm rịch, tiếng bò giống gọi đàn ầm ĩ khắp bản. Mưa rừng rồi. Mỗi khi đàn bò thả rông kéo về bản là sắp có mưa rừng. Chúng nằm lổn nhổn từng đám vàng một góc bản kêu cả đêm. Mấy chàng lính Kiểm lâm vẫn say sưa ngủ, trận đầu ra quân thắng lợi, có vẻ như mọi người hơi tự mãn. Chỉ có Hà không ngủ được. Đàn bò đi lại ngoài kia, ò ò gọi nhau, đánh đuôi đuổi muỗi bình bịch. Đàn bò cũng có tổ chức của nó. Nắng thì rủ nhau vào rừng. Đến kỳ biết nhớ lối đến bãi của chủ để liếm láp chút nước muối vẩy trên cỏ. Mưa rừng biết rủ nhau chạy về bản. Vậy mà người dân ở đây chưa ai biết bảo nhau giữ rừng. Qua thái độ của dân trong vụ gỗ chiều nay, thấy vấn đề tuyên truyền cho họ còn nan giải.


Hà bỗng choàng dậy. Tiếng mưa trên mái nhà rơi nặng như đá. Dậy! Dậy hết cả đi! Có  mưa đá. Anh hét gọi, nhưng mấy cậu lính trẻ vẫn ngủ say như chết. Trời sập bây giờ cũng không quan trọng bằng ngủ. Tiếng đá rơi nặng và mau dần. Có mấy tấm lợp bị vỡ toang hoác, đá rơi cả vào trong nhà. Hà soi đèn, thấy toàn những cục đá đen sì, nhẵn bóng to bằng nắm tay. Những viên đá này đầy ngoài suối. Anh kéo tung mấy chiếc chăn, quát mọi người dậy ngay chui xuống gầm phản. Đã có một cục đá rơi vào ai đó, tiếng kêu đau đớn bật lên giữa đêm khuya. Dân bản hay bọn phá rối  ném đá vào nhà Kiểm lâm? Giữa đêm không biết được. Cơn mưa đá kéo dài gần nửa giờ. Anh em nằm dưới gầm phản, rét run và giận sôi lên. Một cậu nhất định đòi xông ra, Hà không cho. Đêm tối thế này, ra  mà ăn đá vỡ đầu. Anh chợt nhớ ra khẩu súng ngắn mới được trang bị lâu nay bỏ trong sà cột. Ba tiếng nổ đanh bắn lên trời đã chấm dứt trận mưa đá.


Nửa đêm trôi về sáng trong nối bức bối, lo lắng. Sương mù tràn từ trên núi xuống chui vào nhà qua những tấm lợp bị vỡ. Sáu anh em cuộn tròn trong những tấm chăn bị ướt, dưới gầm phản. Rét run. Chán nản.


Ngay buổi sáng hôm ấy Hà trả trâu cho dân bản. Không phạt nhưng số gỗ thì thu lại, lập biên bản tạm giữ. Khi Hà đến nhà già bản Hoa, ông đang lúi húi trồng mấy doi vầu trên bãi cỏ rộng trước nhà. Anh lân la làm giúp. Già Hoa tiếp Hà lạnh nhạt, không niềm nở như hôm đầu mới lên. Già Hoa ạ! Chúng tôi giữ gìn là giữ cho bà con thôi. Sắp có quyết định công nhận rừng của ta là khu bảo tồn thiên nhiên rồi. Không thể tự tiện phá rừng được. Già Hoa dừng tay nhìn thẳng vào Hà.


- Cán bộ Hà! Từ bao đời nay, người Mường xóm Chiềng, người Dao xóm Ghẹ, người Mông trên núi Voi đều sống nhờ vào rừng. Nay cấm chặt cây, lấy gỗ, chết đói à?


 Hà nói với ông già về tác dụng của rừng nguyên sinh, về việc Nhà nước sẽ có một số dự án phát triển kinh tế để đảm bảo đời sống cho dân bản, cho dân bản có cơ hội làm giàu. Già Hoa buồn bã nói.


- Ăn của rừng rơi nước mắt ra đấy! Nhưng không có rừng thì sống sao được. Nếu như  lời cán bộ nói thì cũng nên giữ lấy rừng. Chờ lúc làm được việc giống như lời cán bộ thì dân bản nghe thôi.


Hà xắn tay áo, đào hố trồng roi vầu cùng già Hoa.


- Sao già không trồng trên núi?


- Cái khôn vặt của người già thôi! Măng vầu ngay sau nhà là có, nhưng sau này người nó lấy nhiều sẽ hết đi. Lên núi cao già không đi được. Trồng bãi vầu này chỉ hai năm là có măng ăn!


- Người già nghĩ đúng quá. Thế bây giờ có dự án cho nhà nào cũng trồng vầu đắng thì già nghĩ sao?


- Cứ thử làm đi!


Già Hoa quay ra trồng vầu tiếp. Cái đầu tóc bạc thì lắc, nhưng đôi tai lại dỏng lên nghe không bỏ sót câu nào của cán bộ Hà về dự kiến trồng rừng phòng hộ bằng chè núi, cây vầu mà dân bản được hưởng lợi ngay từ nguồn thu của cây trồng. Nếu cấm vào rừng. Có cách nào làm ra tiền, gạo cho dân, thì già sẽ đồng ý mà đi nói cho lọt lỗ tai người bản Gió.


                                                    ***


Chiếc xe U- oát màu xanh rêu chạy ngất ngưởng, loạng choạng như lên đồng, bùn loãng bắn ràn rạt hai bên thành xe. Nó đỗ lại trước ngôi nhà lá cọ, máy vẫn rùng rùng, hơi nước bốc nghi ngút. Chân chưa chạm đất, Giám đốc Nho đã cười hết cỡ:


- Chào những người hùng của rừng nguyên sinh! Hôm nay chắc có cỗ  nên mới triệu tớ lên núi hả?


Nho bước từng bước chậm như dáng đi của gấu. Cậu lái xe lễ mễ ôm theo một két bia Hà Nội. Có mấy chai bia góp vui đây! Ông chủ đâu?


Hà hấp tấp bước ra từ vườn su su.


- Chào tân Hạt trưởng! Có khá hơn ở ngoài kia không?


Nho hỏi. Hà bắt tay khách thật chặt. Trông anh nhỏ bé, nhanh nhẹn, đứng bên Nho như khỉ đứng với gấu.


- Cám ơn ông! Cũng tàm tạm. Được cái yêu rừng quá nên đỡ buồn.


Kéo nhau vào ngồi trong ngôi nhà lá nhỏ, họ ngồi trên những chiếc ghế băng đóng từ bắp ván xẻ. Nho nhìn ra trước nhà, phong cảnh đẹp, một giàn su su xanh mướt, ngọn lấp ló bò ngang mặt hiên nhà. Tay này ghê thật, cũng chọn phong thuỷ gớm. Phía đằng trước là sông Hát dào dạt tiếng nước chảy. Đằng sau là con đường, sau nữa là núi cao. Đằng trước là hai trái đồi nhỏ. Ghê thật, vào rừng rồi mà nó vẫn còn chọn được Thanh Long, Bạch Hổ hai bên. Chu Tước đằng sau. Có cái nhà lá bé như chuồng bò mà nhất định quay mặt ra sông,  quay lưng dựa núi. Không có sân, bước ra hè, không cẩn thận lộn cổ xuống sông, vì thế nó mới trồng giàn su su trước sân đây. Thùng bia để trên xe, phơi dưới nắng trời, mở ra bọt tràn trắng cốc nhưng nóng hầm hập như nước sôi đun dở. Cũng chẳng sao. Trăm phần trăm nhé. Vạn sự như ý! Hà ngửa cổ uống một hơi hết cốc bia nóng hâm hấp, đắng ngắt. Anh vỗ nhè nhẹ bàn tay phải quanh miệng để chùi bọt bia.


- Ông Nho này! Có việc cho ông đấy!.


Nho dừng phắt cốc bia đang đưa lên miệng. Mấy ông Giám đốc Công ty TNHH thấy việc như mèo thấy mỡ.


- Thật à? Nếu đúng là có việc tớ trích thưởng hoa hồng mười phần trăm cho lão đấy!


- Biết rồi! Nhưng vụ này tôi không nhận phần trăm, còn thưởng thêm cho ông!


Nho ngửa cổ uống nốt cốt bia. Có vấn đề đây. Bọn xây dựng chúng tao mũi thính còn hơn mũi Bécgiê. Hà cười cầu tài.


- Vụ này cũng khá vốn, ra tấm ra món đấy. Tôi nhận cho ông vì ông là bạn thân, vừa nhờ ông gíup cho. Tỉnh vừa quyết định cho mở con đường từ xóm Thượng lên bản Gió.


Khực…khực. Nho cất giọng cười đùng đục trong họng. Tớ biết rồi. Nghe phong phanh từ đầu năm, ai ngờ các bố quyết định nhanh thế. Nói thật nhé, món này hơi xương đấy, có bở chẳng đến phần tớ. Không nói lão đâu, là cánh ngoài tỉnh ấy. Nếu ngon nó xí phần cho nhau rồi.


- Thế tới mới nhờ ông. Tuy khó nhưng khéo tính thì cũng lãi đấy. Tôi định tuyển dụng nhân công tại chỗ cho ông, theo mùa vụ ấy, tiện hơn là mang công nhân từ ngoài kia vào. Lại phải lán trại, ăn ở mệt lắm.


- Thôi được rồi! Thế vốn tỉnh cấp bao nhiêu?


- Mười hai tỷ!


- Mười hai tỷ cho chín cây số đường đất. Nghe thì quá ngon. Nhưng tính không kỹ thì lỗ.


Hà cuống quít.


- Có thế thì tôi mới nhờ đến ông. Đoạn đường mở nhanh ngày nào dân trong khu bảo tồn được nhờ ngày ấy. Anh em tôi cũng đỡ vất vả. Cũng là lính kiểm lâm, ông thấy bọn ngoài phố nó sống so với bọn tôi thế nào? Một trời, một vực!


- Thế không sợ đường mở đến đâu rừng mất đến đấy à?


- Không sợ! Việc của bọn tôi là giữ rừng, con đường là phục vụ cho dân. Rừng ở trong lòng dân, muốn phá thì không có đường họ cũng phá, muốn giữ thì có mở đại lộ vào rừng họ cũng không phá. Ông có làm được không?


 Giọng điệu của Hà gay gắt đến ghét. Bạn bè thế đấy. Cái gì khó nó cứ choàng vào cổ mình, không cho từ chối. Được rồi. Vì tình bạn tớ cố thử xem. Không có lãi thì được tiếng với dân bản Gió là ông Nho mở đường cho họ lưu thông với đồng bằng. Nhưng dứt khoát phải đi thực địa đã. Đường lên Gió phức tạp lắm, riêng san ủi hạ độ cao mấy con dốc cũng hàng vạn khối đất rồi.


Hà Nho quyết định lên bản Gió ngay hôm sau. Phải mắt thấy tay sờ chứ không “mua bò vẽ bóng” được. Xí nghiệp xây dựng Hà Vân có từ hơn mười năm nay, hoạt động khắp các xã ở La Sơn. Cũng là phát triển thành Công ty TNHH, nhưng quy mô thì chưa có gì lớn, nên công việc vẫn phải tính toán từng ly, từng tí thật cụ thể. La Sơn là huyện miền núi, 95% dân số là đồng bào dân tộc ít người, nếu như nói họ còn hạn chế về đời sống kinh tế, văn hoá thì đúng nhưng với một đơn vị xây dựng như Hà Vân thì điều kiện thuận lợi do chủ quan đem lại chính là nguồn nhân công tại chỗ. Nó đem lại lãi suất cao cho những công trình giao thông miền núi vì công lao động rẻ, người miền núi thạo địa hình, địa vật, quen với thổ nhưỡng, khí hậu, nên năng suất lao động cao. Mấy năm nay Hà Vân làm ăn cũng được. Vốn liếng cũng đã xấp xỉ hai tỷ đồng. Dù sao cũng là Công ty miền núi, nên phương châm “Mèo nhỏ bắt chuột con” vẫn được Giám đốc thực hiện. Nếu tính về tiền, thì công trình làm đường lên bản Gió là công trình lớn nhất từ trước tới nay, mà cũng xương xẩu nhất. Vụng tính, không  biết hậu quả ra sao.


Chín cây số đường dốc có gì ghê gớm quá. Hà Nho tự nhủ và một mình lên núi, không gọi một nhân viên nào đi cùng. Khoác vai một túi da nhỏ, trong có máy ảnh tự động, đèn pin, con dao nhỏ và cuộn dây nilon. Anh dự định sẽ đi, về trong ngày.


Xóm Thượng với những dãy nhà thấp lùi lại phía sau. Cửa rừng xuất hiện, Nho dừng lại quán nước duy nhất cạnh đường mua một chai nước lọc. Đây là quán cô Én. Cô gái to gan nhất vùng dám một mình mở quán nơi cửa rừng. Lội qua suối Con, đôi giày bata ngấm đầy nước, mát lạnh. Đến chân dốc Dòm mông, đôi giày bắt đầu kêu ộp oạp, trượt truồi bởi đất đỏ thấm nước mưa. Có đoạn Nho phải bám từng bụi cây mà leo lên. Lựa từng bước chân, từng bậc đá mà trèo. Lẽ ra phải cho thằng tiểu đồng khoẻ mạnh đi theo. Nhưng việc này một mình đi vẫn hơn, nếu khó khăn không làm được thì cũng đỡ bẽ mặt. Qua được dốc Dòm mông, hơi thở như ngẹn lại. Bao nhiêu khí trong phổi chen nhau ra ứ nơi cổ họng, đỏ tía. Nhìn lên, núi vẫn cao vợi, mấy chùm hoa chuối rừng nhấp nháy con mắt đỏ. Dải mây trắng xốp như bông nhẹ nhàng ôm cổ ngọn núi gần nhất, nũng nịu. Nho ngồi bệt xuống cỏ, vươn cổ thở. Vật gì đó trên cây rơi xuống làm nghiêng chiếc mũ cối, anh cũng không buồn để ý. Chỉ khi từ trên mũ văng xuống đất con rắn lục nhỏ bằng ngón tay cái, anh mới giật thót tim vì sợ. Đôi mắt ti hí hình quả trám lườm nguýt kẻ lạ mặt, cái đầu hình tam giác ngọ ngoạy doạ dẫm, rồi con rắn xanh quăng mình vào trong cỏ.


Cánh đồng giữa thung lũng, lúa đang vào chắc. Màu vàng cốm trải chiếc khăn sọc xanh vàng bằng bặn, thơm nức mùi nếp mới. Đây là cánh đồng duy nhất của bản Gió, rộng hơn mẫu Bắc Bộ. Số ruộng này nếu chia đều cho dân bản Gió thì mỗi người được một mảnh bằng chiếc chiếu.


Chiếc khăn lúa trải giữa thung lũng. Xung quanh, núi ngồi ngật ngưỡng như mấy lão già say rượu. Trong thung lũng văng vẳng tiếng mõ trâu lốc cốc, lốc cốc. Từ ngang núi có đôi chim chèo bẻo hứng tình bay vút lên dần, bóng mờ nhạt lẫn vào trong dải mây trắng, rồi thoắt hiện mãi tít cao xanh. Bỗng con chim cái giận dỗi điều gì lại cắm xuống như mũi tên, làm con chim đực hốt hoảng lao theo. Chúng tạt ngang sau núi, thành hai chấm đen bé tí đuổi theo dải quạt nắng đang quét xuống đỉnh Voi.


Chủ tịch xã Đinh Văn Thực ngồi ngả đầu vào tủ gỗ xộc xệch, thiu thiu ngủ. Dải quạt nắng chợt chiếu qua cửa sổ, dọi vào mặt làm ông bừng tỉnh. Vươn vai, ngáp hai cái, rồi dụi mắt nhìn quanh. Thư ký ủy ban Bàn Văn Chè chưa đến. Nhân viên Lý Thị Sinh chưa đến. Cán bộ phụ nữ Bàn Thị Mến xin nghỉ vì con ốm. Hây dà! Còn Triệu Đạo, Phó chủ tịch đâu? Cũng chưa đến chứ? À! Hôm nay có việc đây. Tờ công văn trong chiếc túi vải ngọ nguậy. Công an huyện đề nghị kiểm tra, lên danh sách những nhà có súng săn các loại. Dân miền núi nhà ai chẳng có khẩu súng. Súng kíp tự tạo nhiều nhất. Cũng có người mua được súng thể thao. Nay cấm săn bắn trong rừng bảo tồn, súng để treo trong nhà cho đẹp. Ồ! Ồ! Lại còn công văn của huyện về việc khoán bảo vệ rừng. Việc này cán bộ Hà sẽ lo cho mình, nhưng cũng phải quán triệt trong cán bộ xã, xóm, bản để chúng nó biết. Ây dà! Lại còn cái giấy của phụ nữ huỵên về việc tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch nữa. Mỗi nhà hai con, đẻ nhiều sẽ khổ. Người bản cao đẻ có nhiều đâu. Đẻ bốn, năm đứa thì chết mất hai, ba. Từ khi có  trạm y tế xã, có chương trình y tế cộng đồng, mới thấy trẻ con đỡ bị chết yểu. Còn đàn ông làm sao mà vận động đây. Nó uống rượu say, đêm về cứ tốc váy vợ lên thì ai giữ được. Cái việc kế hoạch này khó đây, phải chờ cô Tiến nó làm thôi. À! Lại còn chuyện con Mây nhà họ Triệu. Cả bản chỉ mình nó học trường nội trú huyện. Hết lớp chín rồi, phải cho nó ra trường nội trú tỉnh học nữa, sau này về xã làm cán bộ chứ. Nó thuộc diện cử tuyển, đi học có phải cõng gạo theo đâu mà lão Triệu nhất định không chịu. Tại vợ lão mới bị chết, nên sợ nhà vắng người thôi. Thầy cúng bảo ma rừng bắt, nhưng y tá Tiến bảo nó bị sốt rét ác tính. Hôm qua gặp lão Triệu ở lễ Lập tỉnh (*) nhà họ Cao, mình bảo:


- Lão Triệu à! Phải cho con Mây đi học nữa. Cả bản trông vào nó đấy.


Lão cắm đầu xuống bát rượu, không thèm nhìn Chủ tịch xã.


- Nó không đi học được đâu. Con gái Dao lớn rồi, phải lo cho cái bếp không tắt lửa. Phải ở nhà cho bọn con trai ngủ thăm, rồi lấy chồng.


Hầy dà! Cái lão gàn goá vợ này, lúc nào cũng lo cái bếp tắt lửa. Mấy năm con Mây đi học, lão toàn ăn cơm chực, uống rượu say khướt, có đỏ bếp bao giờ. Con gái có ở đời với mình đâu. Có bắt rể một năm xong thì nó cũng cưới con gái về nhà chồng thôi. Sao lão không bắt trước già Hoa ấy, lấy vợ nữa đi, vừa có người ngủ chung, vừa không sợ bếp nhà mình tắt lửa. Xem trong xã có bà góa nào, tìm lấy một người. Muốn lấy gái chưa chồng thì xuống nông trường Phú Hộ, gái kinh tế ế chồng đầy ra đấy. Ồ! Ồ! Lại còn việc thằng Học mới đi tù về. Bao nhiêu đời nay, bản vùng cao này có nó là người bị đi tù thôi, xấu lắm. Dân bản ai cũng ghét. Nó không trộm cắp, nhưng đánh cán bộ nhà nước. Tội to đấy! Phải bảo Triệu Đức cho công an giáo dục nó, quản lý cho chặt. Đi tù ba năm về, cái mặt vẫn lì như thớt nghiến. Mấy tuần nay nghe công an Thịnh báo cáo là thằng Học đi làm thuê dưới bến Quân. Đi lao động thì được. Còn mẹ già đấy, phải lo thôi mà. Vừa rồi thằng Học xin đi bộ đội, mình không cho. Đi tù về, vào bộ đội làm xấu lực lượng vũ trang à?


Một người lạ mặt bước vào trụ sở, người cao lớn như con gấu. Anh ta mệt mỏi ném chiếc túi nhỏ lên ghế băng. Khách công tác à? Hay đi mua gỗ? Nếu buôn gỗ thì không được nữa đâu. Kiểm lâm cấm rừng rồi. Trạm kiểm lâm đã đặt ở bản rồi, rừng nguyên sinh giờ là Khu bảo tồn, không được đụng dao, búa vào nữa.


Khách thả hai ống quần xuống, đôi giầy đỏ màu đất.


- Chào chủ tịch Thực!


- Khách cũng biết tên tôi à?


- Biết! Ông là Đinh Văn Thực, chủ tịch xã, tôi gặp mấy lần họp ngoài huyện rồi mà. Tôi là Nho, Giám đốc Công ty Hà Vân.


Nho giơ gói thuốc lá Vinataba mời Thực. Rút một điếu, Thực đưa lên mũi hít hà.


- Giám đốc à?


Ánh mắt nhìn Nho nghi ngờ. Giám đốc lên đây làm gì? Lại đi một mình? Lại ăn mặc lôi thôi thế kia?


Ba con dốc leo nhức bắp chân, đau thắt lồng ngực, lại còn bị lũ vắt và rắn tấn công làm Nho mệt rã. Gặp ông chủ tịch xã ngủ gật, nỗi chán nản trong lòng dâng lên, cồn cào như uống nước chè đặc lúc đói bụng. Này cái ông Chủ tịch ngủ gật kia, tôi lên đây khảo sát địa hình để làm đường lên bản nhà ông đấy. Bọn cán bộ xã các ông chẳng khác đám lý trưởng ngày trước là mấy, chỉ biết uống rượu, ăn cỗ và thúc thuế nông nghiệp. Con đường sẽ mở từ xóm Thượng lên đấy. Bạt hết đám dốc Dòm mông, dốc Mặt, dốc ép Voi…Đào đi bao nhiêu đất đá ông biết không? Mà nói với hắn làm gì? Hắn ngồi như con ếch đáy giếng thế kia có nói đến khó khăn bạt núi, mở đường cũng không hiểu đâu. Nhưng khi Nho nói đến làm đường thì Chủ tịch xã tỉnh ngủ hẳn.


- Làm đường trong bản à?


- Không! Làm đường từ xóm Thượng lên bản Gió. Sau này cán bộ đi họp chỉ cần mua lấy chiếc xe máy, cưỡi từ cổng về tận huyện, không lo đi bộ nữa. Sướng nhá!


 Ồ! Ồ! Làm đường lên bản Gió thì hay quá rồi. Mình đi họp huỵên không phải đi bộ từ nửa đêm xuống Thượng nữa rồi. Năm trước, Thực cũng mua một chiếc xe Min cũ, nhưng gửi nhà quen dưới xóm Thượng, chỉ khi nào đi họp huyện mới cưỡi xe máy. Có lần xuống Thượng lấy xe đi họp, đạp mãi không nổ, đành đi xe khách .


- Tôi xem thực địa rồi, định bàn với xã xem có thể vận động bà con tham gia đào đất, chuyển đá được không. Tôi trả công mỗi ngày hai mươi nghìn đấy.


Chủ tịch Thực đứng bật dậy, làm văng chiếc ghế đang ngồi.


- Chưa bàn được đâu! Chưa bàn được thật mà!


- Sao vậy! Anh chờ ý kiến huyện à? Tôi đem cả giấy giới thiệu của phòng Giao thông đây.


- Chưa biết lệ ở đây à?


Thực ghé tận mặt Nho, thích thú.


Chưa uống rượu chưa làm việc. Cái lệ đơn giản thế thôi. Thực bảo bọn thanh niên bản kiếm con lửng làm canh uống rượu đã, rồi sẽ bàn việc. Mà cái việc rõ thế rồi, hợp bụng mình lắm rồi, bàn gì nữa. Thế này là Giám đốc Nho, Hạt trưởng Hà nó cho dân bản Gió hàng xâu bạc trắng rồi còn gì. Tự nhiên có người đến xin làm đường cho mình, lại trả công mình nữa. Sướng quá. Tin lan nhanh như ông sấm. Loáng cái thấy ba cậu thanh niên áo phanh ngực, quần chàm xắn quá gối, cắp nách con lợn đen chừng bảy, tám cân. Tiếng lợn kêu eng éc từ bến nước về nhà già bản Hoa. Già Hoa cười rạng rỡ, mái tóc bạc cắt ngắn trông trẻ trung. Ông già vừa có vợ mới. Đích thân trạm trưởng Kiểm lâm chở già Hoa về mãi dưới xóm Đài hỏi vợ. Bà này người Mường, chưa đến 50 tuổi, trông còn mát da, mát thịt, còn đủ sức làm cho nước da hồng hào của già Hoa tái đi.


Ông già xoa xoa cái bụng trần rắn chắc, chỉ biết cười. Lấy được vợ trẻ vui năm, nghe tin cán bộ về làm đường cho mình về xuôi, lại vui mười. Mấy thằng thanh niên bản làm thịt lửng cho khéo. Nhớ đánh tiết canh cho hạt dổi vào. Lấy cái mật pha vào rượu nhé! Hầy! Mấy người Kinh nó thích món này mà. Già Hoa cũng hay xuống xóm Thượng, xóm Đài, biết cái người Kinh nó ăn như thế nào.


Một chiếc mẹt trải lá chuối rừng. Thịt luộc trắng hồng, lớp bì liền lớp thịt mỏng là đến nạc, hầu như không có mỡ. Những khúc lòng non chỉ to hơn đầu đũa. Thịt nướng ướp riềng, mẻ. Tiết canh rắc hạt dổi nướng. Một nắm rau rừng các loại. Nồi nước luộc thả mấy ngọn rau sắng, nổi váng. Khách một, chủ nhà năm. Đấu rượu còn vất vả hơn đi cày ruộng lầy. Chén này già bản ta cám ơn cán bộ sắp làm đường lên Gió, cho bản Dao, bản Mường được nhờ, bản Mông trên núi cao cõng hàng xuống chợ đỡ vất vả. Chén này hỏi thăm cán bộ có được mấy cháu. Hây dà! Cũng ba đứa à? Thế thì ta gửi mỗi cháu một chén nhé, chúc nó mạnh khoẻ, học nhiều. Chén này Chủ tịch xã thay mặt bà con dân bản cám ơn Giám đốc tìm việc cho làm. Đã làm đường cho mình đi, lại còn được trả tiền công cao nữa. Chén này của y tá Triệu Thị Tiến chào anh Giám đốc. Làm đường ở đây nếu có nhức đầu, đau bụng cứ vào trạm y tế em chữa cho nhé. Ồ! Anh muốn ngủ thăm à? Có chồng rồi, thích nhau thì ngủ thôi, chứ ngủ thăm gì nữa. Để hôm nào thằng chồng em lên rừng đã nhé. Trông anh thế này… khéo khoẻ hơn thằng chồng nghiện rượu của em rồi. Nho không biết uống bao nhiêu chén rượu. Được cái sức khoẻ tốt, không hổ danh là “hũ chìm” nên chưa đổ gục. Uống hết lượt, già Hoa bảo.Thế cán bộ không uống mừng ta có vợ mới à? Thế anh Nho chưa chúc sức khoẻ em à? Chủ tịch Thực nắm tay Nho kéo vào lòng.


- Hôm nào thông đường, ta mổ con trâu to nhất của nhà khao cả bản. Giám đốc uống mừng con trâu nhà ta trước đi.


Món măng đắng vừa đưa ra. Ta uống một chén đón măng nào. Rá cơm nghi ngút khói vừa bưng ra. Ta lại uống một chén đón cơm nào. Nho mệt lử, nằm ngủ một giấc, tỉnh dậy thì trời sẩm tối. Anh nhất định xuống núi vì mai có việc gấp. Già Hoa ề à. Có việc gì thì mai hãy về, ngủ lại cho vui. Có cô giáo Tình người Mường chồng chết rồi, cán bộ lên ngủ với nó cho đỡ buồn. Nho quyết định dứt áo ra về. Ngoài tỉnh thông báo rồi, mai họp bỏ thầu đập thuỷ lợi Ba Vành. Không có mặt thì mất cơm ăn hàng trăm con người. Mình đã đi đêm trước với trưởng ban dự án, chắc không có tên nào dám chi mạnh tay hơn. Kết quả bỏ thầu chắc đến 90% rồi. Rút đèn pin và con dao ra, Nho xăm xăm xuống núi.


Xuống núi có vẻ dễ dàng hơn, nhưng rượu làm Nho chuếnh choáng mệt. Đôi chân cảm thấy nằng nặng, như muốn lao xuống dốc. Nho nắm đám cành lau cố níu tấm thân nặng nề lại. Mẹ kiếp! Món này xương quá. Tập trung xe máy vào đây mấy tháng trời không biết có nên cơm cháo gì không. Thôi cứ biết thế, lấy tiếng là chính, rồi thì thằng Hà nó sẽ giúp mình với mấy bố ngoài tỉnh. Làm xong con đường, thằng Hà nợ ta món nợ tình nghĩa. Mà không có con đường này thì Khu bảo tồn cũng múa gậy trong bị, làm được chuyện gì lớn. Thôi được rồi! Cũng phải thể hiện Hà Vân hơn hẳn cánh Xuân Lan và Hoàng Phố hai công ty này chuyên “khó bỏ, ngon tranh”. Cho mấy bố ngoài tỉnh biết thằng Nho là dân chịu chơi, không hề tính cò con. Cứ về đã, có lẽ phải thuê thêm một kỹ sư giao thông, trả lương hậu hĩnh. Tính toán thật kỹ, có khi cũng lãi tí tẹo, còn gặp sự cố thì hoà, lâu không được thanh toán thì lỗ. Thôi cứ làm, trước hết vì bạn bè.


Khoảng sáng trước mặt bỗng tối sầm, hai chân như bước xuống vực. Nho ngã oạch ngơ ngác không hiểu tại sao trời bỗng tối sầm như vậy. Anh cầm đèn pin lia xung quanh vẫn tối mò. Gõ chiếc đèn pin vào đầu gối, thấy nó tắt ngấm từ bao giờ. Có lẽ bóng đèn bị cháy. Bỏ mẹ rồi! Mới đi được già nửa đường, cháy bóng đèn thì làm sao xuống được xóm Thượng đây? Ăn tiết canh lửng có khác, đen quá. Bây giờ “tiến thoái lưỡng nan”, quay lại không được, bò xuống thì không nhìn thấy đường. Ngửa mặt nhìn lên, vòm trời đen thẳm, cao vút, mấy ngôi sao nhấp nháy riễu cợt qua nhưng ngọn cây đủ hình thù kì quái. Đi bước nào ngã bước ấy, màn đêm bưng kín mắt. Ngửa mặt lên trời, rồi chập chững đi theo khoảng sáng giữa hai hàng cây trên đầu. Vấp ngã. Bò bằng cả bốn chân tay. Tụt xuống đất bằng mông, lao chúi đầu vào các bụi lau ven đường. Đứng dậy sờ soạng đi xuống, vấp vào tảng đá, ngã huỵch. Một bên đùi đè lên hòn đá đau điếng. Nho nằm thở, luồn tay xuống lôi hòn đá ra, nhưng nó lại nằm trong túi quần. Cố lật người để lấy nó ra, Nho mừng rú khi đó là chiếc bật lửa ga. Ánh lửa nhỏ bằng hạt dưa bừng lên sáng như ngọn hải đăng. Anh nhớ trong túi da còn tờ An ninh thế giới mua lúc sáng chưa kịp đọc. Dù rất mê An ninh thế giới, nhưng đành phải đốt cả thế giới mà tìm đường về thôi. Xé ra từng trang báo, cuộn lại thành đóm châm lửa. Cây đóm giấy cháy leo lét nhưng đủ sáng cho Nho nhìn thấy lối mòn dưới chân. Mẩu giấy cuối cùng bỏng rãy ngón tay. Tờ báo soi cho anh đi bước thấp, bước cao hơn cây số. Màn đêm lại ùa đến chụp kín lấy Nho.


Anh ngồi xuống cỏ, thở dốc. Mới qua dốc ép Voi, như vậy đến xóm Thượng còn hai cây số nữa. Làn khí lạnh dưới khe núi thốc lên làm Nho rùng mình. Hơi lạnh của núi đá về đêm như hơi lạnh tử khí, buốt trong ngực. Những con mắt sao chốn tít trên cao đen thẳm. Te, te, tiếng gà rừng gáy. Chắc gần sáng rồi. Thời gian mệt nhọc trôi đi làm Nho không còn xác định được nữa. Hai bắp chân cứng nhắc, đau tức. Bàn chân ê ẩm, nóng rát trong đôi giày vải. Mồ hôi chảy buồn buồn qua đám lông ngực, bò dần xuống lỗ rốn sâu, mặn xót. Còn gì mà đốt nữa nhỉ? Nho định cởi nốt chiếc quần dài. Không được! Kiêng, chỉ người chết mới đốt quần áo thôi. Quác! Tiếng kêu của con chim vụt qua đầu nghe rợn người. Cạp quần đang lỏng dần tụt mãi xuống, tay anh kéo khoá thắt lưng định thít chặt thêm. A! Đốt cha nó chiếc thắt lưng đi. Sáu mươi ngàn đồng là to, nhưng cần hy sinh cho những vụ thế này thì không tiếc được. Đầu dây thắt lưng còn õng ẽo không chịu bắt lửa, mùi nhựa rải ra khét lẹt. Mãi khi chiếc bật lửa nóng bỏng thì thắt lưng mới ngun ngút cháy. Ngọn lửa leo lét, xanh lè như ma trơi. Chiếc thắt lưng vung vẩy trong tay Nho như con rắn ngậm lửa ngoe nguẩy. Nho lại yên tâm bước từng bước nặng nhọc. Đã đến quãng lội của con suối Con, Nho đứng lại ngâm chân dưới nước ngập đến gối. Nước lạnh cam lồ ngấm qua lỗ chân lông, rùng rùng từng thớ thịt. Cúi xuống uống một hơi, lại thấy nước mát chảy vào lục phủ ngũ tạng, người khoẻ hẳn. Đoạn đường đàng trước đã hết rậm rạp, chỉ qua hai cánh đồng là đến xóm Thượng rồi. Chiếc thắt lưng còn trơ cái khóa bằng kim loại.


Chiếc bật lửa ga lại loé lên ánh lửa ma trơi xanh lét, soi một quầng sáng nhỏ dưới chân. Nho  mạnh dạn bước theo bờ mương nước, giày vải ộp oạp đếm từng bước nặng nhọc. Chiếc bật lửa nóng dần, như muốn nổ tung. Nó vội loé lên rồi tắt ngấm. Anh ném nó vào bóng đêm. Bóng đêm nuốt chửng, không trả lại tiếng động nào. Nho chống tay, cố nhắc mông đặt vào thềm hè ngôi nhà gặp đầu tiên. Tiếng chó hực lên, rồi sủa nhanh nhách. Tè té te…e… Con gà tre sau nhà lảnh lót nhắc nhở chủ nhà. Mặc kệ con chó vừa lùi vừa sủa, Nho ngả lưng dựa vào vách gỗ, lấy lại nhịp thở bình thường. Có tiếng kẹt cửa. ánh đèn pin lia quanh sân một vòng, soi rõ con chó dé lông vàng đang lùi đít vào bụi rong riềng gân cổ sủa. Ai đấy? Giọng phụ nữ có vẻ bình tĩnh. Con chó rên ư ử, chạy lên vẫy đuôi, rồi lại lùi đít vào bụi cây. Nho đằng hắng, ánh đen pin quay lại chiếu loá mắt. Anh giơ tay che mặt.


- Xin lỗi cô Én nhé! Tôi ngồi nghỉ nhờ một tí.


- Ôi trời! Là anh Nho xây dựng! Sao lại ngồi ở đây, tưởng sáng qua anh lên bản Gió.


- Ừ! Đi bộ cả đêm mới xuống được đây. Mệt quá! Cho anh xin cốc nước.


Ngửa cổ tu một hơi hết cốc nước cam cô chủ quán đưa cho. Nho cảm thấy sức khoẻ đang hồi phục dần. Bây giờ  vào nhà nghỉ nhờ thì không tiện.


- Cô Én à! Năm giờ xe khách đến anh sẽ về huyện. Bây giờ phiền cô cho anh ngồi nghỉ ở đây nhé?


- Ồ! Vâng… Anh vất vả quá. Hay là anh ơi… Hay là bây giờ lấy xe máy của em mà về trạm. Lúc nào vào trả cũng được.


Én quày quả bước vào, mở rộng cửa, đẩy chiếc xe máy cánh đời 79 ra. Nho mừng rơn. Thế này kịp về tắm rửa, nghỉ ngơi rồi ra tỉnh sớm. Nho cảm thấy thân thể bốc mùi chua loét, nên ngần ngại né xa cô gái thơm nức mùi xà phòng và hơi thân thể nồng ấm.


- Cảm ơn Én! Ngày mai xong việc anh sẽ vào tạ ơn.


Chiếc xe cũ nhưng máy còn tốt, chỉ đạp nhẹ là nổ. Đèn xe vàng đục, Én mỉm cười nhìn Nho ngồi gù gù trên chiếc xe nhỏ như gấu đi xe đạp trong rạp xiếc cô từng xem dưới thành phố. Cô thở phào. Thực ra Én áy náy lắm. Nho là người tốt bụng, rộng rãi, tuy là Giám đốc nhưng chưa bao giờ chê quán cô nhỏ bé, tuyềnh toàng mà không vào. Lẽ ra có thể mời anh vào nhà, cho rửa mặt mũi chân tay, ăn tạm gói mì tôm rồi hãy về huyện. Nhưng trong buồng cô đang có đàn ông. Người này chẳng lạ gì Nho vì ông ta là cán bộ huyện.


- Hắn đi rồi à! Vào đây em!


Én không trả lời. Vào đây! Có làm gì được đâu mà gọi. Lão này thật là đồ đàn ông bỏ đi.


(còn tiếp)


Nguồn: Ma rừng. Tiểu thuyết của Phùng Phương Quý. NXB Công an nhân dân, 2017. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »