Phần thứ ba: ... VÀ CHIẾC NÔI RƠI XUỐNG
MỘT. Lão Nanđa không những là người Ấn Độ giàu nhất nước mà còn nổi tiếng là một kẻ phản động cực đoan. Lão ngang nhiên tuyên bố chống lại cuộc kháng chiến. Lão không hề giấu giếm những khoản tiền kếch sù đóng góp vào ngân quỹ của đảng cầm quyền. Lão tin tưởng và phát biểu quan điểm ấy thành lời, rằng những người Ấn chống Chính phủ là những kẻ ngu ngốc, những kẻ đang làm bẩn cái tổ ấm của chính bản thân mình. Nhưng lão cho sự ngu ngốc nhất là sự liên minh của người Ấn với người Phi. Lão đã tuyên bố và lời lẽ của lão làm cho số đông người Ấn cảm thấy có sức thuyết phục, rằng chính quyền của những người da đen hứa hẹn với người Ấn một triển vọng còn tồi tệ hơn là chính quyền của người da trắng. Để chứng minh ý kiến này, lão Nanđa đã dẫn chứng số phận của những người Ấn tại Đông Phi. Và bởi vì lão Nanđa là người giàu có và ở các đồn điền mía, các xí nghiệp, các cửa hàng của lão có số người Ấn làm việc đông hơn của bất cứ một tay doanh thương nào khác, nhiều người trong số bà con thân thích của lão đã lắng nghe lời phát biểu của lão.
Chính phủ đã hoan nghênh những quan điểm của lão Nanđa và vì thế đã không đụng đến lão. Khi toàn bộ cái khu vực trong đó lão xây một loạt nhà ở để cho thuê và một cái biệt thự lớn cho bản thân mình bị sáp nhập vào lãnh địa của người Âu thì người ta không tịch thu của lão một tấc đất nào. Lão Nanđa khác với mọi người, được hưởng đặc quyền và người ta đã cho lão quyền sở hữu không chỉ ngôi biệt thự này mà thậm chí cả cái phần đất kế bên. Như vậy là đã xảy ra trường hợp lão Nanđa không phải chỉ là người Ấn duy nhất mà còn là người da màu duy nhất sống trong khu vực dành riêng cho người da trắng.
Lão Nanđa vừa mới đây đã bước sang tuổi bảy mươi. Ấy là một người thấp lùn với cái bụng bự tròn xoay, rất khoái ăn mà cũng rất khoái uống. Tục danh lão già đã thay cho cái tên thật của lão. Chữ Già Nanđa được ký trên tất cả những giấy tờ quan trọng: séc và mọi thứ giấy tờ… Người ta bắt đầu gọi lão là Già Nanđa ngay từ thời lão còn trẻ: mới ngoài hai mươi tuổi một chút. Hồi bấy giờ lão đã mở tiệm buôn tại chợ và tiến hành bước làm giàu đầu tiên, thu gom từng đồng một và những đồng tiền ấy lập tức sinh lợi tới mức hai mươi lăm phần trăm. Độ ấy lão gầy như cây sậy và lúc nào cũng đói. Kể từ lúc đồng bảng nhường chỗ cho đồng rend thì giá trị của nó chỉ còn có một nửa. Xứ này gia nhập Khối liên hiệp Anh thì hóa ra niềm hy vọng đạt được danh hiệu quý tộc, mà vì nó lão không tiếc công tiếc sức để giành lấy, đã tan như bong bóng xà phòng. Mặc dù số phận có những trớ trêu như vậy, tài sản của Già Nanđa vẫn cứ tăng lên, bởi vì không có ai khác có được sự kiên trì trong cuộc cạnh tranh và tăng nhanh vòng quay đồng vốn kinh doanh thành công được như lão.
Cậu con trai độc nhất của lão, người mà ai ai cũng gọi một cách hết sức tự nhiên là Nanđa Trẻ, bước vào căn phòng rộng rãi và mát mẻ, nơi mà Già Nanđa lâu nay vẫn ngồi cai trị vương quốc của mình. Nanđa Trẻ có dáng người tầm thước và nước da sáng hơn nhiều so với cha. Từ anh ta toát lên vẻ điềm tĩnh và tự tin, có thể thấy ngay là anh được giáo dục ở châu Âu; anh ta vừa mềm mại vừa mạnh mẽ nhờ tham gia nhiều cuộc thi đấu thể thao. Anh cũng học ở trường đại học Scotland như Nankhu nhưng không phải học khoa y mà là học khoa kinh tế.
Nanđa Trẻ đi vụt qua chiếc ghế bành dành cho khách kê đối diện với chiếc bàn viết to tướng và đứng im chờ đợi. Một vài phút trôi qua lão già mới ngước mắt lên. Chàng trai trẻ tự kiềm chế cảm giác khó chịu thường xuyên của mình: một sự pha trộn của cơn giận dữ, sự khinh bỉ thoáng vẻ bao dung xen lẫn một chút xấu hổ, cái cảm giác xâm chiếm người anh bất cứ lần nào khi anh buộc phải có công chuyện với người cha.
- Con muốn nói chuyện với ba, ba ạ!
- Nói đi, tao nghe đây!
- Chỉ có điều không phải như vậy. Đây là một chuyện quan trọng, cực kỳ quan trọng.
Già Nanđa ngả lưng trên chiếc ghế bành đồ sộ của mình và đặt tay lên cái bụng phệ. Lão hiểu rằng thằng con trai độc nhất sẽ lên án lão, và điều này đã khiến lão đau đớn. Khổ một nỗi là lão buộc phải đối xử với con trai của mình như đối xử với một người Âu. Sự giáo dục đã làm cho nó có cái mẽ châu Âu thật sự mà ngay cả bất cứ một tay da trắng nào ở đây cũng không có được.
Già Nanđa đưa mắt nhìn những nét hoa văn trang trí chung quanh chiếc đồng hồ quả lắc kỳ quặc.
- Mày cần bao nhiêu thời gian?
- Thật ra điều đó tùy thuộc ở ba. Theo con, chỉ cần năm phút là đủ nhưng con rất hiểu tính ba nên con sợ rằng chúng ta không thể thu gọn được trong vòng nửa giờ. Chắc là phải cả giờ đồng hồ mới xong.
- Mày có điều gì đó khó chịu phải không? - Già Nanđa đưa mắt nhìn con dò xét.
- Vâng, nhưng ba sẽ không đoán ra được đâu.
- Điều gì đó có liên quan đến chính trị phải không? - Già Nanđa vội hỏi.
- Ba ạ, con khuyên ba là nên uống thuốc đi. Trong bất cứ trường hợp nào cũng nên thế.
Chàng trai nói với cách phát âm đặc Âu chính xác hơn lúc nào hết nên Già Nanđa theo lời lấy thuốc trong ngăn kéo bàn viết ra và vội vàng bỏ vào miệng nuốt ngay. Sau đó lão nhấc ống nghe từ một trong mấy cái máy điện thoại đặt trong tầm tay lão và nói:
- Không cho bất cứ người nào đến chỗ tôi. Rõ chưa?
Lão nói với các nhân viên của mình bằng giọng lớn và sắc lạnh. Lão biết rằng thằng con trai không tán thành điều ấy nhưng mà biết nói với các nhân viên của mình như thế nào? Làm thế nào để tỏ cho họ biết rằng anh là ông chủ?
- Không, không, dù thế nào cũng không! - Lão hét lên để đáp lại một vấn đề đã được xếp đặt trước của cô thư ký da màu tháo vát. - Không cho bất cứ một người nào! Hiện giờ tôi chưa gọi cô! Rõ chưa? - Lão đặt ống nói nghe đánh cạch một tiếng và quay về phía con trai, ngầm tỏ ý sẵn sàng câu chuyện.
- Ba có quen với Đavut Nankhu phải không? - Nanđa Trẻ hỏi.
- Tao không có thì giờ rảnh để nghe chuyện không đâu. Mày biết rõ là tao có quen ông ấy. Tao nghe nói, ông ấy đã lẩn trốn và cảnh sát đang truy lùng ông ấy. Nói tiếp đi xem nào!
- Thế ba có biết tại sao cảnh sát đang truy lùng ông ấy không?
- Mày cũng để ý đến cái thằng cha chính trị gia ngu ngốc ấy à?
- Vâng. Giờ đây, khi mà ông ấy đang trong tình trạng không còn đem lại bất cứ một sự ích lợi nào nữa, ông ấy cần phải rời bỏ đất nước. Ông ấy đã không thể lãnh đạo tổ chức kháng chiến bí mật của người Ấn được nữa và con sẽ là người lãnh đạo tổ chức đó.
Già Nanđa bắt đầu phình lên, hệt như một con ễnh ương lớn. Bộ mặt của lão lập tức chảy xệ xuống nom kỳ dị làm sao ấy. Lão chụp lấy cổ áo, dường như lão khó thở, sau đó đứng phắt dậy hét tướng lên và bắt đầu chạy tới chạy lui trong phòng, chẳng khác một người điên. Cơn giông tố kéo dài chừng bốn mươi lăm giây và kết thúc cũng chớp nhoáng hệt như lúc nó bùng nổ. Lão lại ngồi vào ghế bành, rút chiếc khăn trắng tinh ra và lau hai bên khóe miệng.
Thậm chí không nhìn về phía con trai, Già Nanđa cũng có thể hình dung được vẻ mặt khinh bỉ của anh ta - cái bộ mặt đúng hệt như lần đầu tiên khi lão nổi giận trước mặt anh. “Chúng chẳng hiểu gì cả!” - Lão nghĩ. Từ thời còn bé chúng đã sống hoàn toàn đầy đủ và không hiểu rằng, phải tốn biết bao công sức mới dành dụm được tiền của. Lão muốn giải thích cho con trai biết rõ những đau khổ tột bậc mà lão phải gánh chịu trong đời mình nhưng không thể tìm ra lời. Còn nếu như trên thân thể của nó có vết sẹo vì dao đâm hoặc là đạn bắn thì hai bên đã nhìn thấy hết và hiểu được tất cả…
- Ngu ơi là ngu! - Già Nanđa làu bàu một cách mệt mỏi. - Học hành như thế mà vẫn còn ngu! Tao đã đổ xuống sông xuống biển bao nhiêu tiền vì mày. Rồi họ sẽ tóm cổ mày và tống mày vào tù, họ sẽ tước bỏ toàn bộ học vấn của mày và biến mày thành một thằng cu li mạt hạng. Chẳng lẽ tao làm việc còng lưng vì điều đó? Mà trong khi họ tóm cổ mày, họ sẽ nhấn tao xuống bùn đen và tước đoạt tất cả những gì mà tao có. Học hành cho lắm vào mà ngu vẫn hoàn ngu! Vì sao chứ? Vì sao mà tao phải chịu đựng như vậy cơ chứ?
- Tại vì ba đã cho con ăn học đấy, ba ạ!
- Tao hy vọng rằng mày sẽ là người thừa kế xứng đáng của tao chứ không phải là một thằng ngu.
- Ba thực sự hy vọng rằng con sẽ giống hệt như ba ấy ư? Sẽ trở thành một người sợ tất cả mọi thứ và tất cả mọi người chứ gì?
- Mày lại còn chế giễu nữa cơ đấy! Phải, tao muốn làm thế nào cho mày giống hệt như tao ấy! Lạ thật, mày muốn giống ai nếu không phải là tao? Có thể đối với mày tao chưa được tốt nhưng tao đã nuôi nấng mày cho đến lúc trưởng thành! Tao là một người giàu có, hễ muốn là tao có thể nhấc điện thoại gọi đến tận bộ trưởng.
- Thì ba cứ gọi đi, - Nanđa Trẻ chụp ngay lấy lời nói của lão. - Chỉ có điều là đừng gọi cho bộ trưởng mà là gọi cho ngài chánh thanh tra Điu Pletxi ấy!
- Không bao giờ. Tao không muốn có bất cứ cái gì giống mày lẫn cái trò chính trị ngu ngốc của mày!
- Xin lỗi, nhưng dù sao đi nữa thì ba cũng sẽ phải gọi thôi, ba ạ.
- Nhất định không. Tao không mong là sẽ hiểu được mày. Hãy ra khỏi phòng tao ngay! Hãy ra khỏi nhà tao ngay! Hãy để cho tao được yên. Mày không còn là con tao nữa. Cút ngay!
- Hãy bình tĩnh lại đi ba! Và hãy nghe con một chút. Đavut và anh bạn người Phi của chúng con, mà cảnh sát đang lùng sục dữ dội, hiện đang ở trong nhà chúng ta. Cách nay ba ngày, lúc bắt đầu các cuộc ruồng bố quy mô, con đã đưa họ từ nơi lẩn trốn trước đó về đây. Nói một cách khác là họ đã bị bao vây và cái chết của Xêmmi Naiđu đã mất hết mọi ý nghĩa.
- Ồ không! - Già Nanđa rầu rĩ nói. - Gì cũng được, nhưng chuyện đó thì không. - Lão nhắm mắt lại và lắc đầu lia lịa, những tiếng rên rỉ như buột ra từ lồng ngực.
- Ba tha lỗi cho con, - Nanđa Trẻ dịu giọng nói - con không còn cách nào khác. Nhà ta là nơi an toàn nhất. Đây là một trong số ít những ngôi nhà của người Ấn đứng ngoài sự nghi kỵ và sẽ không bị trục xuất. Dù sao thì ngôi nhà này cũng nằm trên phần đất của người Âu.
Mặc dù đang đau đớn nhưng Già Nanđa vẫn hiểu rằng thằng con trai quả thực đã thông cảm với mình, mà chuyện này thì thường rất ít khi có…
- Mày muốn trút mối nguy hiểm lên đầu mẹ mày, em mày và cả tao nữa phải không?
- Những người bạn của con có thể bị bắt bất cứ lúc nào, ba ạ.
- Mặc xác họ. Tao lo mọi thứ còn chưa đủ hay sao mà phải lo cho họ nữa cơ chứ?
- Nhưng con lo lắng cho họ, ba ạ. Và con cũng khuyên ba nên lo lắng, bởi vì nếu như người ta bắt họ thì ba cũng không thoát khỏi tai họa đâu.
- Tao sẽ nói rằng tao không biết gì hết. Nếu cần, tao sẽ thề. Tao có khối bạn bè có thế lực, tao đã từng nhờ những người bạn ấy giúp đỡ nhiều việc khác.
- Họ sẽ không tin ba đâu, ba ạ!
- Họ sẽ tin!
- Thế nghĩa là ba trông cậy vào họ?
- Nhưng tại sao lại không? Tao đã chứng tỏ cho họ thấy rằng tao là bạn của họ. Và tao sẽ nói rõ sự không tán thành của mình đối với cái trò chính trị ngu ngốc của chúng mày. Đấy rồi mày xem, họ sẽ tin tao!
- Không đâu, ba ạ. Con sẽ cố gắng làm thế nào để họ không tin. Nếu như những người bạn của con bị người ta bắt do tội lỗi của ba, con sẽ đưa ra bằng cớ rằng ba bí mật giúp đỡ và cung cấp tiền bạc cho phong trào của chúng con; rằng mối quan hệ thân thiết của ba với họ, kể cả các món quà biếu, đó chẳng qua chỉ là để ngụy trang mà thôi.
- Không! Mày sẽ không làm được điều đó đâu.
- Ba cứ chờ đấy rồi xem!
- Nhưng chính mày là con của tao! Tao lại là cha mày. Mày không thể xử sự với tao, với mẹ mày, các em mày như vậy được!
- Con có thể và sẽ phải xử sự như vậy, nếu thấy cần thiết.
- Sau chuyện này thì mày có còn là con tao nữa không?
- Con cần phải đấu tranh, bởi vì con là con người. Con cần phải chuộc lại tội lỗi cho người cha của mình.
- Máu không phải là nước…
- Máu, đấy cũng chỉ là máu, không hơn không kém.
Trong giọng nói của Nanđa Trẻ đã không còn nghe thấy vẻ thiện cảm như trước.
- Thôi được, mày không nên nói với tao như vậy. Tao đã già rồi. Và tao khó mà chịu đựng nổi sự hung dữ của thằng con trai.
- Ôi trời! Thế mà ba cứ kéo dài thời gian ra làm gì! Xin ba hiểu cho: cơ hội duy nhất của ba để ba thoát chết và giữ gìn được của cải của mình là ở chỗ làm thế nào để có thể giúp đỡ chúng con. Tất nhiên sớm hay muộn thì ba cũng không thể tránh né được. Họ sẽ tước đoạt của ba tất cả. Nhưng cho đến lúc điều đó chưa xảy ra, ba sẽ chẳng bao giờ thừa nhận là con nói đúng. Với sự tinh khôn của ba, ba đã chạy chọt bằng cách chỗ này thì đút lót, chỗ kia thì cầu xin sự tùng phục, ba đã khéo xoay xở để vượt qua được mọi chướng ngại và một quan niệm giả đã hình thành ở ba, ấy là ba tưởng như mình có thể chống đỡ nổi cả cơn bão táp.
- Mày khinh miệt cả ông già mày?
- Không. Nhưng con không coi trọng quan niệm và cách sống của ông ấy.
Cơn giận giữ điên cuồng đã làm lão già quẫn trí.
- Mày thì hiểu cái gì? Mày chưa bao giờ bị chết đói, chưa bao giờ người ta giẫm đạp, đánh đập mày và cũng chưa có ai gán cho mày cái tên xấu xa là đồ cu li đáng nguyền rủa. Tao đã cứu mày thoát khỏi tất cả những thứ nhục nhã ấy.
- Con biết. Chính vì thế mà con chưa bao giờ khinh thường ba. Khác với con, ba không có bất cứ một sự bảo vệ nào trong cái vùng rừng nhiệt đới này. Con hiểu điều đó. Nhưng chúng con là những con người và cần phải đấu tranh để trở thành những con người chứ không phải để trở thành thú dữ.
- Và trong cái thế giới gọi là của con người ấy, thằng con trai sẽ đi đe dọa cả ông già của nó phải không?
- Nhu cầu của cuộc đấu tranh này đòi phải làm thế nào để biến đổi thế giới của loài ác thú thành thế giới của con người.
- Thế đối với các ông bạn người da đen của mày, những kẻ đang thẳng tay giết hại người Ấn, mày cũng liệt vào thế giới của loài người chứ gì? Và mày sẽ giao tất cả những gì mà chúng ta có cho họ phải không?
- Cho chính chúng ta, ba ạ! Cho chính chúng ta! Ba đủ thông minh để hiểu điều đó mà.
- Đúng, tao không phải là kẻ đần độn. Chính mày mới là đồ ngu nên đi tin vào những câu chuyện cổ tích có cái kết tốt đẹp, mặc dù mày có những thứ tình cảm cao thượng. Mày sẽ bị thất bại thôi, con ạ!
- Thế thì đã làm sao nào? Thà bị thất bại còn tốt hơn là ngồi bó tay.
- Cái gì có thể tồi tệ hơn là mất đi tất cả những gì mà mày có?
- Con nghĩ rằng chính ba có thể trả lời được câu hỏi ấy, ba ạ. Ba nhắm mắt trước sự thật nhưng tận đáy lòng ba, ba biết câu trả lời ấy đấy.
- Chỉ có trời mới giúp được chúng ta, nếu bọn da đen nắm chính quyền.
- Chỉ có trời mới giúp được chúng ta, nếu như chúng ta không chấm dứt cuộc tranh cãi vô bổ này. Chiều hôm qua cảnh sát đã bắt giữ một người duy nhất biết được ai đang ẩn núp trong nhà chúng ta.
(còn tiếp)
Nguồn: Quyền lực của đêm tối (The night of their own). Tiểu thuyết của PETER ABRAHAMS. Thái Thành Đức Phổ dịch từ tạp chí Văn học nước ngoài, Matxcơva, số 6 & 7 năm 1986. Nhà xuất bản Văn học, 2006. |