tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
22.05.2009
Vũ Hạnh
Cô gái Xà Niêng

Ông Chúp vẫn giữ vẻ mặt lầm lì, bất động khi nghe tôi nói. Bây giờ tôi phải làm người dạn dĩ, và sự thay đổi vai trò đột ngột như vậy đã làm ông bỡ ngỡ chăng? Dù sao đi nữa trong hai chúng tôi phải có một kẻ chịu phần trách nhiệm về chuyến đi này. Những lúc bình thường thì ông Chúp lãnh cái phần vụ ấy và tôi vui vẻ tự khuất mình đi để làm một kể lệ thuộc biết điều. Nhưng khi gặp phải bất trắc và sự thử thách buộc phải lựa chọn thái độ thì người quyết định sẽ lại là tôi.


Chúng tôi ra khỏi căn lều lúc mười giờ sáng. Cơm nước đã no đủ rồi, chúng tôi gói phần dành cho buổi chiều trong chiếc mo cau. Trên con đường đầy nguy hiểm, chúng tôi không chắc gì quay lại về chốn cũ theo như thời khắc đã định. Một cơn nước lũ tuôn về đột ngột biến con suối nhỏ trở thành thác lớn, ít bầy thú dữ ngăn chặn lối đi, một quãng đường mới luồn trong rú rậm, bấy nhiêu đủ giam giữ lại giữa chốn rừng già. Vì vậy, ngoài đạn dược và lương khô, chúng tôi còn mang theo đôi vật dụng cần thiết để phòng đêm lạnh giữa rừng.


Ông Chúp quay nhìn căn lều lần cuối với vẻ luyến tiếc rồi mới chậm chạp đeo cung nỏ vào, cầm lấy chiếc dáo bước tới. Tôi đi theo sau, tự nhiên cảm thấy hồi hộp về chuyến phiêu lưu của mình. Chúng tôi nhắm theo hướng mặt trời lặn, luồn sâu vào trong rừng già. Cây cối mỗi lúc một rậm dày hơn và hơi đá núi tiết ra lanh lẽo. Cảnh vật âm u, với những sườn núi nhấp nhô, lởm chởm như những cửa ải gian nan ngăn giữ một miền đất mới chứa đầy huyền hoặc. Khi lên tới một đỉnh cao nhìn xuống thung lũng xanh dày ngồn ngộn phía dưới, ông Chúp quay lại bảo tôi:


- Nó đấy.


Tôi đảo cặp mắt, nhìn bao quát cả vùng núi bao la thăm thẳm giăng dưới chân mình. Thật nó đấy sao? Tôi vẫn chờ đợi hàng ngày gặp nó, và vẫn tưởng không bao giờ thấy nó. Từ lâu, nó đã trở thành một cõi kỳ bí hoang đường, chỉ có trong câu chuyện kể của những người già bên bếp lửa hồng, thế ra bây giờ nó đã xuất hiện ở trước mắt tôi, trong cái khung cảnh hùng vĩ mênh mông này sao? Tôi cứ đứng yên, không nói một lời, nhìn không chớp mắt thung lũng bí mật mà chúng tôi đã mất bao ngày tháng kiếm tìm, trải chịu bao nhiêu gian khổ, vượt qua bao nhiêu hiểm nghèo.


Tôi liếc nhìn sang ông Chúp. Ông đã ngồi trên một phiến đá lớn, dán mắt xuống cái biển cây xanh ngắt một màu y như là một đại dương. Ở trong lòng biển cây này tiềm tàng bao nhiêu sức sống âm thầm, bí mật, tiếp diễn tự ngàn vạn đời và sẽ tiếp diễn không biết bao giờ mới dứt.


Chung tôi chuẩn bị bước vào trong thung lũng ấy. Vẻ mặt của người dẫn đường tuổi tác không gợi cho tôi chút phấn khởi nào. Chính sự xuất hiện trong mấy đêm rồi là nguyên nhân khiến ông Chúp mất hêt bình tĩnh và sự gan da câm lặng hàng ngày. Và bây giờ đây khi chúng tôi sắp bước vào thế giới bát ngát cây rừng dày rậm là nơi trú ẩn của bao nhiêu loài thú dữ, một kẻ dẫn đường giao động liệu có đủ sức giúp tôi đối phó với những bất trắc lớn lao đang đợi chờ mình?


Tôi lại quay nhìn lần nữa vẻ mặt ông Chúp. Tôi nói:


- Chúng ta tìm đường xuống thôi.


- Xuống à?


Ông Chúp hỏi lại với một giọng điệu ngơ ngác, rồi thở dài, tiếp:


- Trời đã xế rồi. Chúng ta sẽ lạc lối mất. Quay lại, dời những đồ vật lên đây dựng lều rồi sẽ tìm lối mà đi.


Tôi thấy ông nói có lý. Dầu sao chúng tôi cũng không thể nào ngủ đêm dưới chân núi này. Phải dọn chỗ ở trên bờ thung lũng, mỗi ngày sẽ mở thêm lối đi sâu vào chốn rừng già. Để người dẫn đường vui lòng, tôi sốt sắng nói:


- Phải rồi. Chúng ta sẽ quay trở lại. Nhưng hãy ăn cơm đi nào, tôi nghe đói lắm.


Chúng tôi giở mo cơm nguội và thức ăn khô đặt lên phiến đá, dưới những tầng cây tỏa rợp trên đầu.


Đã hai giờ chiều, mặt trời chói nắng gay gắt, hơi núi vẫn toả mát lạnh. Ở dưới sâu kia sẽ còn lạnh lẽo chừng nào.


Hai người chúng tôi im lặng ngồi ăn và ông già Chúp xong trước, cầm rựa đứng lên tìm một dây phok. Trong rừng vẫn có nhiều loại dây leo ruột rỗng chứa toàn chất nước có thể chặt lấy để uống những khi không tìm được suối. Nước trong dây phok hơi chát nhưng mà trong lành. Ông già uống xong, hứng lấy cho tôi một ống lồ ô. Chúng tôi cùng vấn mỗi người một điếu thuốc dài và sau khi đã châm lửa, hít được vài khói, vội tìm đường quay trở lại.


Chúng tôi về đến căn lều thì trời vừa tối. Ông Chúp loay hoay đốt đống lửa lớn trong khi tôi lo vo gạo bắc nồi cơm lên. Cả một ngày đi vất vả giúp tôi quên mối lo sợ đã ám ảnh tôi suốt mấy ngày qua, nhưng bây giờ đây, trở về cố thủ trong lều, giữa cái đêm toi mênh mông dày đặc vây quanh, tôi thấy những nỗi kinh hoàng phảng phất theo luồng gió núi quạt về. Nhưng điều khó chịu hơn hết trong cảnh tình này là tôi không được biểu lộ nỗi lo sợ ấy, dù bằng một cử chỉ nhỏ, và moi trao đổi với người dẫn đường phải tự kiểm soát chặt chẽ để khỏi gây những phản ứng bất lợi. Tôi phải cố quên thực trạng của mình để người bạn già quên đi những mối lo âu. Sau bữa cơm tối, chúng tôi kiểm điểm trở lại tất cả đồ vật để sáng hôm sau lần lượt di chuyển đến bờ thung lũng.


Tôi có hai khẩu súng săn và hai hộp đạn. Hai hộp đạn ấy chỉ vừa đủ nặng cho một đầu gánh và đầu gánh kia ông Chúp sẽ đeo túi gạo đủ cho chúng toi ăn một tháng trường. Đúng ra nếu ăn mỗi ngày hai bữa thì chúng tôi chỉ đủ dùng trong hai tuần lễ là nhiều. Nhưng chúng tôi sẽ kiếm thêm vào đó những củ mài rừng, những củ môn núi, nhiều món thịt săn và các loại rau tươi tốt mọc đầy ven suối. Chăn đắp, áo quần cùng những thuốc men và các vật dụng cần thiết đã choán một ba lô đầy, đủ làm nặng trĩu đôi vai của tôi trên bước đường dài. Dao rựa, dây thừng, một trăm thứ lặt vặt khac cần thiết cho sự nấu nướng, cho sự dựng lều, hạ trại giữa chốn rừng sâu đã khiến chúng tôi phải chuyển ra làm hai đợt mỗi khi có sự di động về một nơi xa. Tôi có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống giữa rừng già và biet loại bỏ những gì thật không cần thiết để chỉ giữ lấy những món không sao thiếu được.


Khi chúng tôi đặt lưng xuống sàn lều, mồm bì bập điếu thuốc lớn để chờ giấc ngủ, tôi mới nhận thấy là nỗi lo sợ đã ám ảnh tôi gần một tuần nay không sao có thể xua đuổi dễ dàng. Về phần ông Chúp, rõ ràng là ông đang sống trong mối lo ấy. Ông vẫn nằm ngang cửa lều như mọi đêm, nhưng hơi né vào bên trong. Chiếc dáo đặt vừa tầm tay, và cái rựa trành bén ngọt ở sẵn trên đầu. Đống lửa được nhóm to hơn và kéo dài ra ở trước cửa lều đủ làm một cái rào cản lợi hại ngăn các kẻ thù xông xáo. Nếu chúng tôi dựng một cái nhà sàn có lẽ chúng tôi sẽ yên tâm hơn. Nhưng đây chỉ là trạm nhỏ trên con đường dài. Chúng tôi đã tìm chọn một đỉnh cao và ngoài ít bụi cây rậm phía sau làm cái bình phong thiên nhiên chắn bớt sức mạnh của ngọn gió Tây thường thổi ào ạt về khuya, căn lều đươc dựng gần nhiều tảng đá mấp mô, tiếp một triền đất ủ dày lá mục kéo xuống thoai thoải. Với vị trí đó, nằm ở trong lều chúng tôi có thể quan sát bốn bề một cách dễ dàng, và với thính quan tinh nhạy của ông già Chúp chúng tôi có thể bắn hạ các loài thú dữ trước khi chúng theo triền dốc tiến sát bên lều. Nếu không có sự xuất hiện kỳ quái vào ngay cái đêm chúng tôi vừa dựng xong lều, có lẽ chúng tôi đã di chuyển xong đồ vật đen bờ thung lũng từ mấy ngày trước. Nhưng chúng tôi phải mất tiếp năm đêm chờ đợi vô ích, để lại bắt gặp sự xuất hiện ấy vào đêm vừa qua.


Đáng lẽ sau một ngày dài vất vả bây giờ đặt lưng nằm xuống trong cái cảm giác no đủ, yên ấm, chúng tôi có thể tìm được giấc ngủ dễ dàng. Nhưng ông Chúp vẫn thao thức. Trong ánh lửa đêm, mỗi lần quay nhìn, tôi vẫn bắt gặp cặp mắt sáng quắc của ông long lanh như đang chăm chú chờ đợi. Phần tôi, co nhiên là tôi không thấy buồn ngủ chút nào. Chính nỗi lo sợ vừa qua và cái niềm vui đã tìm gặp được chỗ thung lũng ấy khiến tôi tỉnh táo lạ lùng. Tôi phà một khói thuốc dài, quay hỏi ông Chúp:


- Thung lũng ban sáng chính là Mả Voi đấy hả? 


Tôi nhớ đã hỏi câu ấy hồi chiều hôm nay ba bốn lần rồi. Và ông Chúp vẫn ôn tồn trả lời:


- Nó đấy.


- Chúng ta có thể lầm không?


- Không. Không thể lầm đâu.


Ông Chúp cũng đã xác nhận với tôi như thế nhiều lần trong chiều hôm nay, và không thể nào nghi ngờ lời nói của ông. Tất cả kiến thức của ông ở chốn rừng xanh, một khi xác quyết thì vững vàng như đá núi. Và cái thung lũng khuất lấp như hoang đường này, ong Chúp đã có nhìn thấy một lần trong cuộc đời ông, khi ông là một đứa trẻ lên mười.


Hồi ấy, ông Chúp đang sống trong cái buôn nhỏ bám trên một sườn núi lớn thì bị một đám người ở buôn khác vây đánh, đốt sạch cả lang, giết hết những người già cả, trai tráng, dẫn đi một số phụ nữ và những trẻ con. Ông Chúp bấy giờ ở tuổi lên năm lên sáu, chưa biết gì nhiều. Người mẹ của ông cõng ông trên lưng theo đám người kia. Họ đi nhiều ngay rồi đến một vùng núi rậm có một buôn nhỏ sống cô độc giữa rừng già. Điều mà ông còn nhớ rõ là buôn rất thưa thớt người, và gần như không có được mấy người phụ nữ. Sau này, trong cái quãng đời lưu lạc của ông giưa chốn rừng xanh, ông cũng gặp nhiều hiện tượng lạ lùng như thế. Có những buôn dần mất hết đàn ông, chỉ còn phần nhiều là những đàn bà. Một thời gian sau, những buôn như thế dần dần biến mất, đã tàn lụi đi chậm chập như những loài cây không thể sinh sản giữa chốn thiên nhiên phá hoại không ngừng. Cũng có những buôn tấp nập con người, thế mà vừa thoáng gặp đấy thì ít lâu sau trở lại, ông Chúp không tìm gặp được dấu vết một người hay một căn nhà. Trên cái mảnh đất nhẵn nhụi ngày nào, có thể bắt gặp dây bí, dây bầu chĩa những cành lá tươi xanh nhởn nhơ một cách lạc loài, làm cái dấu vết buồn thảm của những sinh hoạt con người, ngoài ra không con dấu vết nào khác có thể nhắc nhở rằng ở nơi ấy đã có những kẻ sinh sống, thương yêu, khóc than rầu rĩ hoặc là cười hát nô đùa. Có thể họ đã kéo đi nơi khác, tìm về một mảnh đất tốt xa hơn, có thể họ đã bị một cơn bệnh ngặt nghèo tận diệt trong một đôi ngày và cũng có thể họ bị núi rừng gặm nhấm lần hồi như con sóc kia gặm nhấm quả rừng cho thành mảnh vụn để khoét sạch hết cái nhân sự sống bên trong. Cái buôn ông Chúp đã đến, cơ hồ như tan rã rồi nếu không có sự tiếp lực của các đoàn người mà họ chiếm đoạt ở nơi buôn ông, sau khi loại trừ tất cả những gì xét thấy nguy hiểm hay là thừa thãi. Ở cái tuổi ấy, còn bám vào được lưng mẹ, cậu bé tên Chúp chưa biết buồn rầu. Cậu cũng được họ chiều chuộng, vì những đàn ông ở nơi buôn này chăm sóc những đám trẻ con bắt về như chính con cái của mình. Nhưng rồi ngày tháng qua mau, cậu bé lớn lên rất chóng. Đến nam lên mười, Chúp đã quên đi tất cả những gì thuộc về dĩ vãng và sống thảnh thơi trong cái buôn mới như chính quê hương của mình. Nhưng có những người trí nhớ không thể phai nhòa một cách dễ dàng, nhất là trí nhớ của người đàn bà đau khổ. Ở nơi buôn ấy lại có quá nhiều đàn bà như thế và sự nhắc nhở lẫn nhau kỷ niệm ngày xưa khiến họ khó lòng quên được kẻ thù đang thành người thân hàng ngày.


Tuy nhiên cũng có những người đàn bà muốn quên rất chóng dĩ vãng của mình. Vốn sợ đau khổ, họ quay lưng lại đau khổ, thiết tha bám vào cuộc sống trước mắt như những dây leo bám trên sườn dốc chênh vênh. Một số đã bị bệnh tật giết chết, một số đã không thể song lâu hơn vì thời tiết xấu và những khó nhọc kéo dài. Cuối cùng, khi Chúp lên mười thì trong số những đàn bà bị bắt về buôn còn độ năm người muốn tìm về một cõi khác, hơn là chung sống với những kẻ đã gây ra đau khổ cho họ. Họ đã âm mưu với nhau không biết từ bao năm rồi, Chúp không được rõ, nhưng đến một ngày mùa xuân tươi tốt dân buôn say vùi bên những chum rượu thì họ dắt díu lũ con, chỉ những đứa con ở nơi buôn cũ mà thôi, lẩn trốn vào rừng. Họ đã kéo đi như thế không biết bao nhiêu ngày trời, trải qua bao nhiêu gian khổ và nhiều người đã bỏ mạng giữa đường. Rốt lại chỉ còn hai người đàn bà và năm đứa trẻ. Đoàn người nhỏ bé lại đi lang thang nhiều năm, và đó là thời kỳ cậu bé Chúp học được nhiều nhất trong những trang sách rừng già. Thung lũng Mả Voi là một trong những địa danh mà Chúp vẫn còn nhớ lại giữa những kỷ niệm mơ hồ ngày xưa.


Đã năm mươi năm qua rồi, ông Chúp vẫn còn có thể trở lại những nơi chốn cũ đi qua mà không lạc lối bao giờ. Trí nhớ của ông như một chất đất quánh dẻo có thể hằn sâu dấu vết mà không bao giờ bị những năm tháng xóa nhòa. Suốt thời gian chung sống giữa núi rừng, chưa lần nào tôi bắt gặp ở người dẫn đường một sự thiếu sót hay một nhầm lẫn.


Đêm đã về khuya, thấy ông Chúp vẫn thao thức, tôi quay lại hỏi:


- Ngày xưa, ông đã lội vào thung lũng ấy chưa?


Ông Chúp trả lời:


- Chưa đâu.


- Sao lại không vào?


- Chỉ có những người đàn bà đau ốm và những đứa trẻ bệnh hoạn, vào thế nào được?


Những tiếng trao đổi rì rầm trong đêm không soi sáng thêm cho tôi được gì. Mả Voi vẫn nguyên là một bí mật. Và chúng tôi sẽ bắt đầu tìm hiểu cái bí mật ấy trong vài hôm nữa.


Tôi nằm lơ mơ cố gắng hình dung miền đất huyền bí mà chúng tôi sẽ bước vào. Tôi sẽ tìm gặp ở đấy kho tàng vĩ đại ngà voi lăn lóc tren một vạt đất mênh mông, nghĩa địa bao đời của giống voi rừng. Viễn tượng một cảnh giàu sang huyền hoặc đã làm cho tôi không thể chợp mắt. Nó lấn át hẳn ý nghĩ ban đầu của tôi là tìm quên lãng trong sự phiêu lưu.


Nhưng sự tưởng tượng dù cố gắng dến mức nào cũng không dẫn tôi đi xa hơn nữa trong cõi mịt mù sâu thẳm của chốn rừng già. Tôi không thể thấy gì hơn ngoài những dây leo chằng chịt, thác nước ì ầm. Cuối cùng, giấc ngủ theo cái âm điệu muôn thuở của chốn núi ngàn len vào xâm chiếm lấy tôi, nhấn chìm tôi trong đêm dài tưởng như vô tận lúc nào không hay.


Khi tôi thức giấc, trời đã sáng tỏ. Ông Chúp dậy từ bao giờ, đang ngồi nấu một ấm trà trên bếp lửa hồng. Nồi cơm đã chín đặt ở cạnh đấy. Mùi thịt nai khô nướng thơm làm cho khứu quan của tôi khích động và cả người tôi cũng tỉnh táo theo.


Sau một đêm dài yên tĩnh không bị phá quấy bởi những tiếng động dị thường, ông Chúp có vẻ vui hơn là mấy ngày qua. Ông ngước nhìn tôi, ánh mắt không còn tối lại mà long lanh vẻ sáng quắc của một người già khỏe mạnh. Hai khóe môi ông không sụp xuống nữa, trong cái dáng điệu sẵn sàng đón nhận những nỗi thê lương mà đã nhếch lên, chuẩn bị cho một câu nói nhẹ nhàng hay một tiếng cười. Trong lúc tôi đem ống nước lại ngồi rửa mặt trên một tảng đá thì ông chăm chú vấn những điếu thuốc lá dài dành sẵn cho cuộc hành trình sắp tới.


Bữa cơm sáng diễn ra trong yên lặng đượm một chút gì phấn khởi hơn những ngày qua. Xong rồi, chúng tôi đốt thuốc, mang đồ lên vai, theo con đường cũ đi về thung lũng Mả Voi. Hành trình gian khổ này đa quen thuộc và không có gì đáng nói. Thú dữ, chúng tôi đã gặp nhiều rồi và đã quen rồi. Thỉnh thoảng, sau một lùm cây nào đó, khuôn mặt vằn vện của một con hổ rình mồi hiện ra như nỗi đe dọa bất thần nhưng rồi chính no biến mất trước khi chúng tôi nghĩ đến một cách đề phòng. Loài hổ ở miệt này chưa quen nếm vị thịt người, nên không đáng sợ. Trái lại, ít khi gặp người lai vãng nơi đây chúng có vẻ ngán loài vật đi bằng hai chân khá la lùng này. Giữa chốn rừng già nỗi lo sợ không nhằm vào những giống vật lớn. Con người tìm giết cọp, voi chứ chúng ít khi tìm hại con người, trừ trường hợp cần tự vệ do chính con người dồn đuổi chúng vào. Nỗi lo sợ nhất chính là những loài vật nhỏ, những giống sên, vắt tràn đầy trên các lá cành và trong mặt đất ủ mục lá dày lưu cửu bao đời. Nỗi lo sợ còn là các loài rắn độc lẩn khuất ở trong muôn ngàn hang hốc, nép giữa lá cành, nam bên bờ đá, vụt hiện vụt biến, và tấn công vào những lúc ta không chờ đợi mảy may.


Nhưng loài rắn độc bao nhiêu cũng vẫn có thuốc phòng ngừa. Ông Chúp biết cả hàng trăm thứ lá chống trừ nọc độc, và ông nghe được mùi da của rắn, tiếng động của rắn từ xa. Tôi có thể sống bên ông như sống bên một vị thần hộ mạng giữa núi rừng này. Thiên nhiên dù có ác độc bao nhiêu vẫn không vượt qua được sự khôn ngoan, kinh nghiệm của những con người.


 


 


 


 


 


 


 


 


 




 


 


 


 


 


 


Hôm sau, chúng tôi quyết đinh đi vào thung lũng. Ông Chúp dặn dò:


- Coi chừng các loài sâu bọ từ trong phân bã loài voi. Mặc áo quần dày, hòa ít thuốc hút vào nước mà xoa khắp cả mặt mũi tay chân.


Tôi nghe theo lời, cả hai hì hục sửa soạn để lên đường. Mặt trời đã cao, khí núi lạnh lẽo tan dần. Dưới xa, trong chốn thung lũng rậm dày mênh mông trải giăng ngút mắt, bóng tối hẳn được xóa nhòa.


- Ta đi.


Ông Chúp bập từng hơi thuốc lá dài, gọn gàng đứng lên. Những nỗi lo âu bây giờ đã không còn đọng từng vệt hằn sâu trên mặt người già cả ấy. Tôi cũng nhanh nhẹn đứng theo, và hai chúng tôi kẻ mang cung nỏ, người mang súng dài, tay cầm rựa bén từ từ đổ xuống sườn dốc chênh vênh.


Đi bộ hai tiếng đồng hồ thì tới được lưng chừng dốc. Hơi lạnh từ dưới bốc lên từng luồng. Ông Chúp dừng lại, kéo tấm dồ lên che phủ kín mình, khẽ nói:


- Còn lạnh nhiều lắm, hút một điếu thuốc đã nào.


Sau khi rít những khói dài, chúng tôi cố nhìn bao quát một lần sau chót vùng xanh ngồn ngộn trước mắt để tiến sâu vào lòng nó.


Càng đi vào trong, cây cối càng rậm dày hơn, nhiều thân cây cao vút thẳng, che rợp bóng xuống thâm u, lá cành đều mọc một lớp lông dài để chống khí lạnh quanh năm bốc tỏa từ trong thớ đất ẩm ướt tuôn đầy lá mục. Một chát meo mốc quánh dẻo đóng váng bên ngoài làm cho hình dáng cây cối trở nên cổ quái, dị kỳ.  


Chúng tôi nghe hơi bốc dậy từ lớp lá mục vừa hôi, vừa nồng làm cho lồng ngực nghẹn tức như bị một sức đè nén lạ lùng. Hai thanh rựa bén phát tung liên hồi hai bên, dạt các cành gai ra ngoài để mở một lối khó nhọc cho chúng tôi bước chậm chạp, len lách qua những bụi rậm mỗi lúc một sum sê hơn.


Khi mặt trời đã lên cao, hơi ngả về Tây, chúng tôi mới đi được một quãng ngắn. Đồng hồ chỉ một giờ rưỡi. Trên ba tiếng rưỡi đồng hồ mới đi được khoảng ba cây số đường rừng. Tôi bảo người dẫn đường đã lộ vẻ mệt nhọc:


- Dừng lại, chúng ta dùng miếng cơm trưa.


Ông Chúp có vẻ bằng lòng về lời nói đó. Chúng tôi leo lên mọt tảng đá lớn rêu xanh mọc dày như bọc nhung êm và lấy cơm vắt, cá khô ra dùng. Hai người yên lặng nhai cơm, không ai muốn nói với ai lời nào. Sau khi uống nước trà nguội trong ống lồ ô, và đốt mỗi người một điếu thuốc lớn, tôi hỏi ông Chúp:


- Thế nào? Chúng ta tiếp tục đi chứ?


Ông Chúp đảo mắt nhìn quanh:


- Đi thêm một chặng đường nữa xem sao.


Chúng tôi lại tiến sâu vào thung lũng càng lúc càng sâu hun hút, khí lạnh vẫn còn bốc tỏa ngùn ngụt. Có lẽ ở đây không có một giờ nào thật ấm áp, bởi cái địa thế trũng thấp hứng chiu hơi đá từ các dãy núi chung quanh và chất đất ẩm từ ngàn đời rồi mang các thứ lá lưu cửu mục dày giữ được sức lạnh dài lâu. Đôi rựa trên tay chúng tôi đã nghe rời rã và chúng tôi lau không ngừng những giọt mồ hôi tuôn dài từ trán xuống mũi, xuống môi.


Đi thêm được hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi bỗng thấy xuất hiện những con ba vỏ le xè chấp choá bay liệng trước mặt. Loài ba vỏ chỉ lớn độ phần ba con ruồi, cánh màu vàng hoe, sinh hóa từ nơi phân bã loài voi chuyển dịch một cách chậm chạp, song khi đã bám vào da thịt người thì chuyền ngay một nọc độc mà nếu không kịp thời nặn chất máu ra ngay thì trong thoáng chốc chỗ vết cắn sẽ tím bầm, tròn như nút áo và sinh ngứa ngáy. Vài ba giờ sau, nơi đó trở thành nhức nhối rồi sưng vù lên một cách quái dị.


(Còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »