Như thế, không biết tôi đã giết chết bao nhiêu là bọn Ký Tam, Trần Hải ở trong rừng già. Còn bao nhiêu kẻ phản bạn, lừa thầy khác nữa, bao nhiêu những bọn buôn dân bán nước khác nữa, còn bao nhiêu lũ gian manh xảo trá đều được tôi nã những phát súng lớn vào đầu, và sau đó tôi xẻ thịt, lột da không chút ngại ngùng.
Nhưng tôi chỉ diệt được một số loại Ký Tam, Trần Hải ở trong rừng già nhung nhúc thú dữ, còn lại Ký Tam, Trần Hải thực sự vẫn phây phây sống ngoài đời. Chúng vẫn tiếp tục làm giàu, tiếp tục no đủ, chúng vẫn không ngừng xây dựng những thứ gọi là hạnh phúc, yên vui cho chúng trên những khổ đau chồng chất của biết bao nhiêu đồng loạt.
Tuy vậy, tôi chưa bao giờ nã phát súng nào vào một thú rừng gọi là Diễm Tuyết. Dầu sao tôi cũng không nỡ gọi người đàn bà ấy là ác thú, nên tôi không thể chĩa súng, nổ đạn vào nàng. Tôi đã lành khỏi căn bệnh si tình khá trầm trọng ấy và tôi không còn nghĩ ngợi gì về nàng nữa. Vì tôi thấy rằng những người đàn bà dù phải biết chịu trách nhiệm về các lỗi lẫm của mình, thì ở trong xã hội này nguyên nhân các lỗi lầm ấy chính là ơ người đàn ông.
Cho đến một lúc tôi mới thật rõ các tên Ký Tam, Trần Hải còn quá đông đảo ngoài đời, như trong rừng thẳm chúng còn ẩn hiên không biết bao nhiêu. Không thể diệt chúng với một khẩu súng, không thể xoá bỏ được những hành động xấu xa của chúng với sự cố gắng của một con người. Giữa lúc thật chán nản đó, câu chuyện Mả Voi đã đến với tôi như một rọi sáng kỳ lạ. Tôi sẽ đi vào nơi thung lũng ấy, một chốn vẫn còn âm u, bí mật từ ngàn đời rồi, và tôi sẽ làm chủ một kho tàng vô giá gồm các ngà voi chồng chất qua lớp bụi mờ thời gian.
Chúng tôi đã nghỉ hai ngày để lấy lại sức sau cuộc hành trình vất vả vừa rồi. Coi như phần chính đã giải quyết xong, bây giờ chỉ còn lo việc vận chuyển khối ngà voi đó ra khỏi thung lũng. Ông Chúp bảo tôi:
- Đi về phía mặt trời lặn coi xem thế nào. Theo nguồn suối chảy, tìm có cái buôn nào không.
- Kiếm phương cách khác rồi đi tìm, có lẽ tiện hơn. Lỡ đi không gặp, lại mất thêm nhiều ngày giờ.
- Không cách nào khác. Ở gần con sông, con suối, ta còn có thể kết bè. Nhưng trong thung lũng chỉ có những dòng nước nhỏ.
- Nếu cái buôn ta tìm đến không có voi, ngựa thì sao?
- Ta sẽ mua một đôi trâu hay một cặp bò. Chúng sẽ giúp ta chuyên chở được khá nhiều đó.
Đợi mặt trời lên khá cao, chúng tôi khởi hành, men theo một dòng suối lớn đi về phía mặt trời lặn.
Suốt ngày hôm đó chúng tôi lên dốc xuống nương, vạch lá, đạp cây, những mong tìm gặp nơi chốn có người sinh hoạt. Nhưng rừng già vẫn mênh mông, và sự im lặng ngút ngàn trở nên thăm thẳm chứa đầy đe dọa.
Chúng tôi đã trèo lên những ngọn cây thật cao dò hơi bóng khói, đã vượt tới những đỉnh đá chót vót để tìm đâu đó một màu vàng sẫm của những nóc nhà. Nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy dấu vết nào của đồng loại.
Chiều đến, chúng tôi dừng lại trong một hốc đá nằm bên bờ suối. Trong lúc ông Chúp đốn củi chuẩn bị lửa đêm, tôi lo cơm nước. Chúng tôi cẩn thận đốt ngoài cửa hang một ngọn lửa lớn và nằm quay đầu vào trong để có thể nhìn ra ngoài một cách dễ dàng. Sau một ngày đường mệt nhọc, tôi chìm sâu vào giấc ngủ rất mau. Khi tôi bắt đầu lơ mơ tiến vào cõi mộng, tôi thấy ông Chúp đang còn trằn trọc phập phèo một điếu thuốc dài.
Giữa lúc thấy mình quay về làng cũ với những kỷ niệm xa xưa tôi bỗng nghe nhói bên vai mặt. Tôi mở choàng mắt, thấy ông Chúp đã ngồi lên, vẻ mặt hoảng hốt. Tôi cũng vội ngồi thẳng dậy, tay chụp khẩu súng.
Ông Chúp đưa một bàn tay nắm lấy vai tôi, lắc nhẹ ra dấu bảo tôi im lặng. Chúng tôi ngồi im, chong mắt nhìn ra phía ngoài. Qua nhứng ngọn lửa bập bùng yếu ớt trên đám than hồng rừng rực thỉnh thoảng lèo xèo các giọt sương khuya từ các vòm lá rơi xuống tôi chỉ nhìn thấy bóng đêm dày đặc mênh mông.
Lát lâu, tôi nghiêng mình sát ông Chúp, hỏi nhỏ:
- Gì vậy?
Ông Chúp thì thầm:
- Những tiếng động cũ… Tôi nghe tiếng kêu và tiếng kéo những thanh củi lạt sạt. Tôi giật mình dậy, thay chúng lố nhố bên ngoài, đông lắm.
- Nhìn có rõ không?
- Không được rõ lắm. Chúng nhanh như biến.
- Phỏng chúng đông chừng bao nhiêu.
- Mười hay nhiều hơn. Không phải là vật mà cũng không phải là người.
Tôi thấy sự hoang hốt lại hiện về trên mặt người đẫn đường. Tôi bèn lựa lời an ủi:
- Không có gì đáng sợ cả. Chúng ta không chọc phá nó, nó phải để cho ta yên. Trong rừng không thiếu những loài vật lạ. Có thể đó là một loại dã nhân.
Ông Chúp vẫn ngồi yên lặng, vẻ mặt tụ những lo âu như hôm đầu tiên bắt gặp những tiếng động ấy. Những lời an ủi của tôi đã không còn tác dụng nữa.
Bỗng nhiên ông già rùng mình. Ông nói:
- Ta quay về thôi.
- Sao lại quay về?
- Ta đã lạc vào miền đất của những người khác, họ không muốn ta bước đến.
- Núi rừng là của mọi người, đâu của riêng ai?
- Có những khu vực mà ta không thể bước vào. Có những khu vực cấm kỵ.
Ông lại tram ngâm, mặt đầy những nét cương quyết của người đã tin chắc điều mình nghĩ, dù điều nghĩ ấy chỉ là những thứ chấp nhận mơ hồ, đôi khi quái đản, về những hiện tượng lạ lùng của chốn núi rừng.
Ông Chúp nói rõ hơn nữa ý nghĩ của mình:
- Chắc họ đã thấy chúng ta từ khi bước đến miền này, và đã tìm cách cho ta biết đừng bước thêm vào nữa từ những đêm tối đầu tiên.
- Lấy gì làm chắc?
- Ông coi, ta đi xuống miền thung lũng Mả Voi nào gặp gì đâu? Nhưng lên miền này, lại thấy bọn họ.
- Có thể là sự tình cờ…
- Không, không phải là tình cờ đâu.
Ông Chúp lại ngồi im lặng, đôi mắt nhấp nháy chói sáng ánh lửa chập chờn. Tôi cũng ngồi im định bụng đợi ngày mai đến sẽ nhờ ánh sáng mặt trời hỗ trợ cho tôi thuyết phục ông ta.
Chúng tôi đang ngồi đờ đẫn như vậy bỗng ông Chúp thẳng người dậy, đôi tai như vểnh cao lên:
- Nó đấy…
- Ở đâu?
Tiếng ông thì thầm:
- Đang đến gần chúng ta kìa.
Tôi chong tai nghe, vẫn không nhận được cái gì khác lạ ngoài tiếng gió thổi rạt rào, tiếng thác rì rầm xa lạ, tiếng loài thú dữ tìm mồi kêu vẳng trong bóng đêm dày.
- Đâu nào? Tôi có nghe thấy gì đâu?
- Im! Nó kìa…
Tôi cố nhướn mắt nhìn xa, qua ánh lửa sáng bập bùng. Khúc củi còn tươi bốc khói dày đặc, bị gió tạt vào làm cho đôi mắt của tôi cay xè. Qua khoảng đêm đen chập chờn ánh lửa, tôi thấy bóng người lố nhố mỗi lúc một đông. Tôi hồi hộp nói:
- Thấy rồi…
- Bây giờ chúng còn đông hơn trước nhiều.
- Hãy im, con vật lớn nhất đang cầm lấy thanh củi cháy…
Một con vật lớn, đúng hơn, đó là một người cao lớn, đang chồm về trước kéo mọt cây cui đang cháy ra ngoài. Rồi cánh tay dài lông lá vung cây củi lên, ném ra ngoài rừng. Cứ thế con vật liên tiếp kéo tới những cây củi khác, ném ra chung quanh. Một số con khác, ban đầu tỏ vẻ dè dặt, đã thấy bắt chước làm theo.
Ông Chúp bảo tôi:
- Chúng sẽ phá hết đống lửa để xông vào trong hang này.
Tất nhiên là chúng tôi không thể bắn. Thú rừng thường hóa hung dữ gấp mười lần hơn khi bị khiêu khích, đổ máu. Kẻ ở trước mắt đông quá và trong đêm tối không ai có thể ước lượng chúng là bao nhiêu.
Ông Chúp đã cầm cung nỏ đứng lên, cố nén một sự hoảng hốt cùng cực. Phần tôi tuy nỗi lo sợ làm rối ruột gan nhưng đã tự trấn tĩnh được. Và kể từ khi bước vào trong cuộc phiêu lưu giữa chốn rừng già tôi không bao giờ quên nghĩ rằng có một lúc nào đó mình sẽ là miếng mồi ngon cho loài ác thú.
Chúng tôi đứng nhìn lớp quái vật kia vất tung củi lửa xung quanh thêm một lát nưa. Rồi khi quá hơn phân nửa đống củi bốc cháy đã bị phân tán đây đó ngoài rừng thì tôi không dằn lòng được, chĩa họng súng lên bóp cò.
Tiếng nổ chát chúa vang dội ở trong hốc đá, toé lửa lên đầu đám quái vật kia khiến chúng lặng im như những thân cây trơ trọi. Ông Chúp nhìn tôi lo lắng. Nhưng tôi đã không tự kiềm chế nỗi và cho nổ liền phát súng thứ hai. Tôi đã cẩn thận bắn lướt trên đầu của kẻ đầu đàn để khỏi gây nên thương tích. Lần này, sau khi âm vang tiếng nổ tắt lịm ở trong rừng sâu thì cả đám người kỳ dị kêu lên một tiếng quái gở rồi người đầu đàn quay mình chạy vào trong các bụi lùm. Lập tức, cả đám lố nhố theo sau, ríu rít, líu lo, bien rất nhanh trong đêm dày.
Ông Chúp và tôi thở dài nhẹ nhõm nhưng vẫn ngồi im như thế rất lâu. Ngoài ra, không còn một tiếng động nào khác lạ. Tất cả bầy quái vật đó đã biến đi rồi, có lẽ đi xa hay còn lẩn quất đâu đây. Rừng khuya vẫn sống âm thầm với những tiếng động quen thuộc. Gió lùa rào rạt qua những vòm lá, thác nước tuôn xuống ì ầm vẳng lại từ một dòng suối gần kề. Lâu lắm, tôi mới cất tiếng:
- Ta ngủ đi thôi.
Ông Chúp ngồi im, không trả lời lại. Tôi cố gắng thoát khỏi sự bất động mỗi lúc như vây chặt mình, tiến tới chỗ đống củi dồn quanh hang ôm một mớ lớn bồi tiếp vào đống than hồng thoi thóp chực tàn.
Ngọn lửa dần dần bùng lên, hơi ấm lại lan toả khắp hang hốc. Trong khi tôi lặng lẽ nằm trở xuống, ông Chúp vẫn còn ngồi im như thế ở trong ánh lửa chập chờn.
Buổi sáng khi vừa choàng dậy, tôi hơi hoảng hốt như sẽ chứng kiến một sự bất thường sắp đến với mình. Liệu ông Chúp có bỏ tôi mà chạy đi chăng? Nhưng không, ông vẫn ngồi đấy, trầm ngâm với điếu thuốc dài, đôi mắt lờ đờ phóng nhìn ở ngoài rừng xa còn tỏa sương mờ. Có lẽ ông già không dám ra đi lẻ loi giữa chốn rừng sâu với những bóng hình đe dọa vừa rồi. Ông đã mất hẳn niềm tin nơi mình, mất hẳn cả sự bình tĩnh quen thuộc, từ khi bầy quái vật kia trở lại xuất hiện trong đêm.
Tôi bèn dọ ý:
- Thế nào? Chúng ta sẽ tiếp tục đi nữa chứ?
Ông Chúp lắc đầu:
- Ta trở về thôi.
- Bỏ cuộc hay sao? Đâu có dễ dàng vậy được, ông bạn già ơi. Hãy cố gắng đi thêm một ngày nữa xem nào.
Ông Chúp lắc đầu:
- Không thể đi nữa.
Giọng nói nhẹ nhàng của ông có đủ quyết liệt để tỏ thái độ dứt khoát. Tôi biết ông Chúp không phải người có thể làm khác một cách dễ dàng những gì mình đã phát biểu. Nhưng tôi, con đường rộng mở trước mắt không cho phép tôi thụt lùi:
- Ông ở lại đây chờ tôi. Tôi sẽ đi một mình vậy.
Ông già ngước mắt nhìn tôi, có vẻ kinh ngạc:
- Ông không thể đi một mình. Tôi không thể ở một mình.
- Chẳng có gì phải sợ cả, tiếng nổ đã xua bọn chúng đi xa.
- Không thể tìm thấy cái buôn đâu mà. Ông đừng liều lĩnh.
Tôi không liều lĩnh nhưng tôi đã nhất quyết rồi. Không có lối thoát nào khác là phải tiến tới. Sau bữa cơm sáng, tôi gói gọn đồ, chia cho ông Chúp ít gạo cùng thức ăn khô và giao cho ông một khẩu súng săn. Tôi bảo:
- Này ông Chúp ơi, ông đừng buồn nhé. Ngày nào tôi còn sống giữa rừng già là còn nhờ sự giúp đỡ của ông. Nhưng nay ông đã không muốn tiếp tục đi nữa thì chỉ còn mỗi một cach là tôi phải đi một mình. Ông hãy chờ tôi ở hang đá này. Tôi chỉ đi độ hai ngày, nhiều lắm là ba ngày thôi. Ông cứ yên lòng nằm chờ đợi đây, đừng buồn lòng nhé.
Ông Chúp lộ vẻ băn khoăn, nhìn tôi không nói nên lơi. Tôi biết ông phải khổ tâm vì để tôi đi một mình. Một người dẫn đường không chịu dẫn dắt đường đi, còn có sự xấu hổ nào lớn hơn nữa đâu? Nhưng ông sẽ không thể nào theo tôi. Một khi mang nỗi sợ hãi trong lòng, ông sẽ là mối trở ngại cho tôi trên quãng đường dài khó nhọc. Tôi an ủi ông:
- Tôi biết ông Chúp không muốn tôi đi một mình, nhưng tôi lại thích như thế, hãy chiều tôi nhé.
Ông ta ấp úng:
- Nhưng mà… tôi… tôi…
- Được rồi, ong cứ chờ tôi ở đây. Hãy yên tâm đi. Nếu gặp được buôn hay không, tôi cũng gắng về đúng hẹn.
Tôi đặt tay lên vai ông, nắm chặt với niềm thân mật rồi lắc nhẹ để tạm biệt. Ông vẫn chưa hết ngỡ ngàng, nhìn tôi chăm chắm, mãi khi thấy tôi sắp sửa quay đi mới cất tiếng nói:
- Này ông, hãy theo con nước mà đi, về hướng ngả mặt trời lặn. Chừng một ngày thôi, không gặp cái buôn thì nên trở về.
- Tốt lắm, cám ơn ông Chúp.
Tôi bước nhanh ra ngoài rừng, men theo con suối, nhiều lúc dòng nước quanh co khiến tôi phải mất thì giờ theo nó, đôi khi dừng lại rất lâu vì nó chui vào một dãy rú rậm hay luồn sâu vào lòng đất. Tôi đi suốt ngày hôm đó không có đieu gì đáng nói. Tôi cũng bắt gặp đôi con hươu nai, vài đàn gà rừng, trâu núi, và qua các kẽ lá dày ẩn hiện thấp thoáng màu lông vằn vện của chúa sơn lâm. Tuyệt nhiên không có một buôn nào cả. Núi rừng càng đi lên cao càng thêm lạnh lẽo và vắng vẻ hơn. Con người có lẽ không thể tìm nơi trú ẩn nơi miền đất này.
Buổi tối hôm đó tôi nghỉ chân lại bên bờ suối vắng, trong một hang đá. Tôi cũng cẩn thận dừng chân trước khi mặt trời lặn xuống sau dãy non xa và bố trí nhiều củi lửa cho một đêm dài. Rồi tôi ngủ vùi như chết không còn hay biết gì khác. Sáng ngày, ngủ dậy quan sát xung quanh tôi hiểu rằng đêm vừa qua không hiện tượng nào xảy đến quanh tôi. Bây giờ tôi nên tiếp tục đi nữa hay là trở về? Tôi chưa tìm thấy buôn nào và sự bình yên trong đêm vừa qua khuyến khích tôi tiến bước thêm. Tôi cũng đã để thức ăn đủ cho ông Chúp năm ngày, và nếu tôi phải kéo dài hơn số ba hôm đã định thì thì ông Chúp sẽ chờ tôi thêm đôi ngày nữa. Hẳn ông chưa dám quyết định gì hết khi còn chờ đợi. Và chỉ khi nào thật sự tuyệt vọng về tôi ông mới ra đi, quay về buôn cũ, để chắc không bao giờ còn dám nghĩ đến chuyện phiêu lưu trong cõi rừng già quá xa khuất này.
Tính toán như thế tôi đổi hướng đi, xuôi về các miền đất thấp, và thêm một ngày ròng rã vẫn không gặp được buôn nào. Buổi chiều hôm ấy, ngồi trên một tảng đá lớn nhìn khắp chung quanh núi rừng đang chìm dần trong hoàng hôn tôi nghe nỗi niềm tuyệt vọng dâng lên tràn ngập trong hồn. Định quay trở về hốc đá, tôi bỗng ngạc nhiên thấy cách chỗ tôi không xa có một ánh lửa le lói.
Tôi đứng thẳng lên, trố mắt mà nhìn. Rõ ràng đó là sự thực chứ không phải là ảo tưởng.
Tôi vội choàng đồ lên vai, rời khỏi tảng đá, bươn bả đi rất nhanh về phía đó. Tới nơi, trời đã tối sẫm, tôi thấy một chòi tranh dựng cheo leo trên sườn núi. Bên bếp lửa đỏ một người đàn ông cùi lở đang ngồi sưởi ấm, thảm thương, bất động. Tôi gọi mấy lần anh ta mới quay nhìn về phía tôi, hỏi tiếng Mơ-nông bằng giọng phều phào.
- Ai đó?
- Tôi đi lạc đường, xin vào nghỉ lại.
- Vào đi.
Tôi leo lên cái căn nhà xiêu vẹo. Người đàn ông khó đoán tuổi, rách rưới, lở lói, ở một mình giữa núi rừng, thật là một điều quái lạ. Tôi hỏi:
- Sao anh lại ở một mình?
Gã ngước nhìn tôi, không đáp. Tôi ngồi xuống một bên lửa, cố tránh nhìn vào hình dáng khủng khiếp của con người đó. Tôi giở nắm cơm đã nấu từ trưa, xén một phần nửa chìa về phía gã:
- Mời ăn với tôi một miếng cơm nào.
Gã chỉ lắc đầu.
- Sao ở một mình?
Tôi lặp lại câu đã hỏi. Gã vẫn nhìn tôi, cặp mắt mệt mỏi, rồi đáp lửng lơ:
- Bệnh mà.
- Có buôn nào gần đây không?
- Có.
- Gần hay xa?
- Gần lắm, nhưng đã xa rồi.
- Sao vậy?
- Cách đây vài cái vòng rựa có một buôn nhỏ. Nhưng họ mới dời đi xong.
- Đi đâu?
- Không biết. Chắc đi xa lắm.
- Anh cũng ở trong buôn đó phải không?
Gã khẽ gật đầu.
- Sao không đi theo?
Gã ngước nhìn tôi, buồn bã. Rồi nói:
- Khong đi theo được. Người ta bảo tôi đau ốm, phải ở trong núi một mình. Người ta đem cơm tới cho tôi ăn, múc nước tới cho tôi uống. Rồi hai ngày qua, không ai đến nữa. Cha tôi, mẹ tôi không đến. Anh tôi, chị tôi không đến. Khong ai đến hết.
Gã dừng lại thở, rồi tiếp:
- Tôi đói, tôi khát, tôi trở về buôn. Không còn ai nữa. Buôn đã bị đốt cháy rồi. Người ta đốt nó để đi nơi khác. Tôi lên ngọn cao nhìn khắp, không thấy bóng khói nơi nào. Họ đi xa lắm. Tôi vào trong các rẫy cũ tìm có gì để ăn không. Không còn gì nhiều. Đôi trái bắp già sót lại. Tôi nhớ có một vườn bí nhiều trái và tôi tìm tới. Tôi thấy Hơ-Reo là người cùng buôn đang chất bí lên lưng ngựa. Tôi cố chạy đến nhưng nó đã vội nhảy lên lưng ngựa phóng đi. Tôi đuổi theo nó nhưng chạy không kịp. Rủi cho nó quá, con ngựa phóng mau qua khe, bị sụp một chân vào kẽ đá lớn, ngã khụy, hất ngã Hơ-Reo xuống nước. Thế là nó chết. Nước cuốn xác nó đi rồi. Tôi tới cứu đỡ con ngựa đưa nó về đây. Tôi biết mình cũng không sao sống được.
- Con ngựa còn à?
- Cột ở ngoài vườn.
Nỗi chua xót về số phận của người trước mặt làm tôi không dám nghĩ tới niềm vui trong sự hy vọng mua được con ngựa của gã.
Ăn xong, tôi vấn hai điếu thuốc dài, chìa mời gã một. Gã nói:
- Tốt lắm.
Rồi đưa mấy ngón tay đã cùn mòn, lở lói, kẹp lấy điếu thuốc. Tôi lân la hỏi:
- Bây giờ anh định sống như thế nào?
- Tôi à?
Rồi gã lắc đầu, im lặng.
- Thế anh đổi lại con ngựa cho tôi.
- Đổi lấy cái gì?
- Đổi lấy cái gì anh muốn.
Anh ta ngó tôi, ngờ vực. Tôi tiếp:
- Tôi cần đi xa mà không có ngựa đỡ chân. Nếu anh muốn đổi cái gì mà tôi sẵn có, tôi xin nhường ngay.
Anh ta làm thinh, không nói. Một lát, anh ta bảo tôi:
- Người ta đã bỏ tôi đây là muốn cho tôi chết giữa cái rừng. Tôi không thể đi đâu nữa. Con ngựa chẳng giúp gì tôi, vì tôi không thể cưỡi nó. Coi tay chân tôi, đã hư hỏng rồi.
Anh ta dừng lại, chìa tay và chân cho tôi thấy sự tàn hoại của mình. Tôi cố ngồi im, chịu đựng cảnh đó mà không dám biểu lộ một chút gì gớm ghiếc.
Giay lâu, không thấy anh ta nói gì, tôi hỏi:
- Vậy anh định sao?
- Cho con ngưạ đấy.
Câu nói bất ngờ làm tôi mừng đến choáng váng. Tôi ấp úng nói:
- Thật à?
Anh ta nhìn tôi, như không bằng lòng về câu hỏi ấy. Tôi tiếp:
- Anh đánh đổi vật gì đi. Này, có muốn lấy chiếc mền không? Thuốc không? Hay các thức ăn này đây…
Anh ta mỉm một nụ cười méo mó, và đáp:
- Chẳng có gì trên người anh đổi được con ngựa ấy cả. Trừ cái khẩu súng. Nhưng tôi biết anh không thể đổi khẩu súng đâu. Nó là cái hồn của anh.
Anh ta dừng lại để rít hơi thuốc rồi tiếp bằng giọng hụt hơi, khàn khàn:
- Tôi biết anh tốt. Anh có khẩu súng, anh lại khỏe mạnh mà anh không giết hại tôi để đoạt con ngựa, anh muốn trao đổi. Tôi cho anh đó. Tôi không nuôi nó làm gì. Nó sẽ đi hoang và thành ngựa rừng, nếu không bị cọp ăn thịt.
Gã không nói nữa, nằm xuống cạnh lửa. Tôi nói:
- Cảm ơn anh lắm! Cảm ơn anh nhiều!
- Không. Chẳng ơn gì hết. Ngủ thôi, ngày mai cứ lấy con ngựa mà đi.
Rồi gã nhắm đôi mắt lại. Tôi nhìn gã chìm vào trong giấc ngủ, khêu thêm ngọn lửa, rồi cũng nằm xuống cố ngủ cho lấy lại sức.
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.
|