Cuối cùng tôi không còn cách nào khác, ngoài việc ở lại và để ông Chúp đi về phố chợ một mình. Ông Chúp không nói năng gì nhưng lộ một vẻ khó hiểu về quyết định ấy. Phần tôi, tôi cũng cảm thấy ái ngại phải để ông Chúp ra đi như thế, dù toi hiểu ông không cảm thấy nỗi cô độc trên những dặm dài hoang vu. Ý thức về nỗi cô đơn chỉ là tâm bệnh của người thành thị. Còn với ông Chúp, núi rừng tuy đầy cạm bẫy như là khung cảnh quen thuộc và ông đi lại trong đó như cá bơi lội trong nước thênh thang. Nỗi lo ngại chính là chuyện mua bán, nhưng trong chuyến đi dài ngày vừa qua tôi đã có dịp sắp đặt những kẻ quen biết tiêu thụ hộ mình và ông già Chúp đã biết đầy đủ những liên hệ ấy.
- Ông cứ an tâm mà đi. Đừng mang quá nhiều ngà voi mà thêm khổ nhọc. Mọi sự mua bán, hãy ghé lại buôn Cà Đoi là có người quen chúng ta sẵn rồi. Ông mua cho tôi gạo mắm, thuốc men, và nhiều quần áo…
Mờ sáng hôm sau, ông Chúp lên đường. Tôi nắm tay ông, ân cần:
- Cố đi về sớm, nghe ông.
Ông nhìn tôi thật trìu mến rồi nói bằng giọng xúc động:
- Ông cứ yên lòng, tôi sẽ cố gắng đi mau.
Tôi đứng nhìn theo ông già cùng con ngựa thồ khuất dần sau đám rừng cây rậm rạp.
Khi tôi quay vào thì con Xà Niêng vẫn ngủ chưa dậy. Đã mấy hôm nay tôi cho thuốc ngủ khá mạnh để nó quên bớt đau nhức và khỏi nghe tiếng hú dài áo não của đồng bọn nó. Sự kêu gọi thường xảy ra về khuya, đôi khi vào sáng tinh sương hay chiều tà, hoàng hôn sụp xuống vội vàng trên chốn núi rừng. Chừng như vào những lúc ấy đồng bọn của nó mới thấy nhớ thương hơn hết, lo âu hơn hết về nỗi nó bị lạc loài. Tôi ngại con Xà Niêng sẽ xúc động khi nghe tiếng gọi thắm thiết vang dậy trong đêm và không dằn được tấm lòng nhớ bầy, nhớ chốn rừng xưa.
Nhưng chẳng lẽ bắt nó ngủ mê mệt như thế này mãi, khi các vết thương của nó bớt đau nhức rồi. Tôi đợi cho nó thức dậy, vào săn sóc nó, luôn miệng nói lời dịu ngọt và dùng cử chỉ ve vuốt nhẹ nhàng. Tôi muốn con Xà Niêng có ấn tượng là nó đang được thương yêu, đang ở giữa một loài thú rừng khác với tất cả loài mà nó đã gặp, đây là một loại thú rừng có được sức mạnh kỳ lạ nhưng cũng có sự dịu ngọt khác thường. Trong một tuần lễ con Xà Niêng mất dần những phản ứng hằn học, và sự e dè của nó cũng phai nhạt dần. Nó đã biết nhìn với một cặp mắt chăm chú mở rộng, cặp mắt trẻ thơ ngơ ngác như muốn khám phá thế giới bên ngoài để mà tìm hiểu không ngừng. Mỗi ngày, ngoài các công việc thường xuyên như hái củi, nấu cơm, bẻ các trái chín ngoài rừng, tôi dành thời gian săn sóc và hướng dẫn nó tập nói tiếng người. Những tiếng cụ thể hôm nào, đến nay con Xà Niêng vẫn nhớ rõ và hiểu dễ dàng, nhưng nó phát âm vẫn còn hết sức khó khăn. Sau những tiếng rời, tôi tập nó nói thành những câu ngắn, chẳng hạn bảo nó: “ngồi lên”, “đi tới”, “cầm cái ống nước”… lời nói luôn đi đôi với cử điệu, và tôi cùng nó lặp đi lặp lại nhiều lần trong ngày. Mỗi khi thấy nó có những dấu hiệu mệt mỏi, tôi ngừng ngay lại, chia nhau một trái cây chín hoặc ngụm nước suối và người bạn rừng của tôi biẻu lộ một sự xúc động thật rõ.
Điều tôi để ý là những lần tôi thay lớp áo quần cho cô bạn tôi, chạm vào người cô là bị phản ứng lập tức. Tôi không hiểu được vẻ cau có pha giận dữ xuất phát từ đâu, phải chăng bản năng tự vệ của loài thú rừng còn lại đậm đà hay tính thẹn thò nơi một loài vật giống cai chưa quen những nếp sinh hoạt thuần thành? Tất nhiên mỗi lần như thế tôi cố tránh mọi đụng chạm có thể gây nên hiẻu lầm. Tôi đã là kẻ làm ơn cho cô và không thể giúp đỡ người để hòng kiếm chác những sự đòi hỏi thấp hèn. Nhưng hễ khi nào sự đụng chạm ấy tình cờ hay là bắt buộc gặp phải những phần tương đối kín đáo ở trong cơ thể, thì cô Xà Niêng có một kiểu cách giận dữ khiến tôi nhiều lúc đến phải bật cười. Tôi phải vội vàng nói tiếng “xin lỗi” và cô ngước lên nhìn tôi với vẻ khó chịu đầy yự dò xét. Thật ra cô có những cảm nghĩ gì trong lòng tôi không hiểu nổi, nhưng tôi có ấn tượng rằng cô đang tìm hiểu về tôi. Cuối cùng tôi nghĩ nên tap cho cô mặc lấy áo quần. Ban đầu cô ta có vẻ hết sức lúng túng. Tôi ngồi yên lặng theo dõi từng cử chỉ một, thấy cô loay hoay cho cánh tay vào trong áo một cách suy tính. Đã một tuần nay tôi không bắt mặc áo quần trơ ngược như trước vì tôi thấy cô đã quen với sự ăn mặc, không cấu xé như lần đầu. Khi nhìn cô săm soi từng hột nút và từng khuy áo, rồi gài vào thật cẩn thận, tôi chợt nhận thấy chúng ta đã có một cái gia tài lớn lao và thật kỳ diệu về những phản ứng quen thuộc nhưng rất hữu ích làm nên sinh hoạt hàng ngày.
Kể từ hôm đó tôi khỏi bận tâm về công việc làm có thể gây nên hiểu lầm giữa tôi và cô bạn rừng, đó là việc mặc quần áo, nhưng tôi còn phải mất nhiều thì giờ để nhắc cho cô hiểu được lúc nào thì cần phải thay ra, và sau khi đó thì nên giặt giũ ra sao. Bất cứ việc gì cô cũng theo dõi cẩn thận, và nhìn vầng trán nhíu lại dưới mớ tóc rối loa xòa tôi tưởng thấy được những phần trí tuệ bắt đầu nảy nở và phát hiện lần trải qua cố gắng của sự làm việc. Chỉ có mỗi sự làm việc mới đem lại những hiểu biết thực sự và những cảm nhận hữu ích.
Tất cả những việc làm ấy đều có kèm theo lời nói, và lời nói cùng động tác dần thấm sâu vào tâm não cô gái Xà Niêng. Chính sự cố gắng của cô là một điều khuyến khích tôi, bởi nếu cô không nỗ lực như thế liệu óc tò mò có đủ là nguồn khuyến khích để tôi bền lòng mà hướng dẫn cô trong từng cử điệu, qua từng lời nói? Trường học giữa thiên nhiên ấy chỉ có mỗi một thầy dạy và mỗi học trò, và cái lớp học là một hang đá dài sâu, ám khói trong đó luôn luôn bập bùng một bếp lửa hồng soi rạng chung quanh.
Nhưng một buổi tối, đang ngủ, tôi bỗng nghe những tiếng động thật mạnh. Tỉnh giấc, tôi nghe tiếng hú rền rĩ từ xa và cô bạn của tôi đã ngồi chổm dậy có vẻ hoảng hốt một cách dị thường. Đã mấy ngày rồi tôi không cho dùng thuốc ngủ, và hôm nay đây tiếng gọi vẳng dậy một cách bất ngờ khiến cô bối rối.
Tôi nói to lên:
- Ngủ đi! Ngủ đi!
Nhưng lời nói ấy không có một tác dung nào. Đôi mắt trợn trừng như muốn nhìn vào trong khoảng đen dày hun hút sâu thẳm của cái hang đá về khuya, hai tay run rẩy, co giật liên hồi, vẻ mặt trở nên hốc hác như bị thu hút theo cái tiêng gọi kỳ quái vang dài, cung thân hình như sẵn sàng nhổm dậy phóng chạy ra ngoài.
Tôi hét to lên:
- Hãy nằm xuống đi!
Tiếng hét làm cô Xà Niêng hoảng hốt thêm lên trong sự căng thẳng cùng độ. Liệu người bạn rừng của tôi có chạy thoát khỏi đây không? Tôi nên cản lại, hay cứ để mặc?
Như trả lời những ý nghĩ của tôi, cô Xà Niêng đưa hai tay sờ soạng trên cúc áo. Có lẽ cô muốn rứt bỏ những áo quần này để về lại với họ hàng, về lại cuộc sống hoang dã triền miên giữa rừng núi sâu. Tôi bỗng ngồi nhổm dậy ngay và xách khẩu súng ra ngoài cửa hang. Tôi chong tai nghe lần nữa cho thật rõ ràng những tiếng kêu gọi khá thảm thiết ấy vọng lại từ phương hướng nào, rồi tôi nhắm ve hướng ấy lảy cò.
Tiếng nổ vang rền trong đêm như xé toang màn âm u đen dày chứa đầy đe dọa. Khi những dư âm của nó lắng xuống, tan loãng trong muôn ngàn tiếng mơ hồ khác lạ của núi rừng khuya, thì tôi không còn nghe những lời réo gọi kia vang dậy. Họng súng đã làm họ hàng Xà Niêng im lặng, ít ra cũng trọn đêm nay.
Tôi đứng ở ngoài cửa hang chờ đợi rất lâu, để nghe tiếng hú có thể vang vọng đâu đó hay không, rồi mới quay vào. Cô bạn rừng núi của tôi vẫn ngồi yên lặng, vẻ mặt đờ đẫn, như tiếc nuối lời réo gọi đã tắt lịm rồi. Đôi mắt thu hẹp dần lại nhớ tiếc trong tâm não, cặp môi mấp máy nhưng không nói được thành lời, cô ta ngồi đấy mà như lac lõng nơi đâu.
Tôi bước lại gần, đặt tay lên vai cô ta, và cô nhìn tôi ngơ ngác. Tôi nói:
- Ngủ đi! Hãy nằm xuống đi.
Tôi khẽ đẩy nhẹ cô ta ngã xuống trên nệm lá dày. Cô ngoan ngoãn nghe lời tôi nhưng trên vẻ mặt vẫn còn đọng lại đôi chút bàng hoàng. Tôi vỗ lên cánh tay người bạn rừng, vỗ nhẹ như một an ủi, và hát một bài hát cũ thuộc lòng tự thuở xa xưa trong thế giới đầy kỷ niệm huyền hoặc của tuổi ấu thơ.
Tôi đem những tình cam thật dịu dàng săn sóc người bạn rừng này vì chính tôi đang khao khát những tình cảm ấy. Lớn lên và chịu nhiều nỗi dày vò của cuộc sống này, tôi thèm muốn những ý tình dịu ngọt như kẻ đói lả bên đường thèm một chén cơm. Tôi đã gặp cô Xà Niêng hoạn nạn lạc loài khi tôi gần như cô độc, ở đây, và tôi dành hết những gì có thể gọi là chăm sóc ngọt ngào cho người bạn đó.
Ít nhất trong cuộc sống trơ trọi và buồn bã này tôi có bên mình một người bạn nhỏ để cùng chia sớt phần nào những mối cảm nghĩ không lấy gì làm phấn khởi, và khiến cuộc sống không còn quá mức trần trụi đến độ thê lương. Hơn nữa, điều tôi biết chắc là người bạn rừng không hề biết đến phản bội, và tôi có thể tin cậy nơi sự thành thật của người bạn đó, dù chỉ là sự thành thật hết sức đơn giản như những đá núi, cây rừng.
Khi cô Xà Niêng đã nằm yên lặng, đôi mắt nhắm lại, tôi vẫn còn ngồi một bên mà hát một điệu trẻ con như thế cho đến lúc tôi nghĩ rằng cô ta đã ngủ say rồi, và rón rén tôi ngồi dậy đi ra phía ngoài. Nhưng được ít bước, quay đầu nhìn lại, tôi thấy người bạn rừng đã mở mắt nhìn theo. Trong vùng lửa đêm bập bùng cặp mắt óng ánh trên khuôn mặt nhỏ đã bị tóc rối làm cho nhỏ bé hơn lên. Tôi nói:
- Khuya rồi, cô nên ngủ đi. Ngủ đi…
Và người bạn tôi khẽ nhắm mắt lại. Tôi biết cô ta chưa ngủ nhưng tôi không thể thức hơn được nữa. Thoáng trong ý nghĩ tôi muốn tiêm liều thuốc ngủ cho cô khỏi bị khuấy động về lời réo gọi bên ngoài, nhưng tôi xóa bỏ cái ý định ấy. Tới mức độ này hãy để cho cô lựa chọn, tôi sẽ gắng hết sức mình giành lấy cô ta, không phải bằng sự trói buộc mà bằng cuộc sống thực sự của người, bằng những hấp dẫn về một cuộc đời cao hơn, để thoát khỏi những sinh hoạt thấp kém, nặng nề giữa núi rừng sâu.
Tôi ra nằm gần cửa hang kề cận đống lửa bên ngoài nghe gió rít dài trong đêm, và thấy cuộc sống của mình có một vẻ gì quái lạ. Sự tách rời khỏi xã hội loài người, khỏi những liên quan gần gũi nào đó, làm cho chúng ta trở nên kỳ dị và nhiều lúc tôi cảm thấy xa lạ với mình một cách đáng sợ. Cô bạn Xà Niêng là gạch nối giữa tôi với thiên nhiên, và ông Chúp là gạch nối giữa tôi với xã hội. Chỉ có hai cái gạch nối cô đơn, cuộc sống hóa nên bé nhỏ lạ lùng.
Ba ngày tiếp theo, tiếng réo gọi kia không thấy vẳng lại. Họ hàng Xà Niêng đã đi xa rồi? Liệu chúng có rời xa hẳn vĩnh viễn hang đá này không? Thật không có gì quả quyết được điều ấy cả. Những loài thú rưng có một trí nhớ kỳ lạ và giống Xà Niêng là loài vật rừng cao hơn bất cứ loài nào thì trí nhớ ấy có thể sâu sắc hơn nhiều. Biết đâu sự im lặng này không chứa đựng một cạm bẫy, và không gì có đoan chắc chúng chịu bo mặc một kẻ đồng bọn.
Phần cô bạn rừng của tôi tuy đã trở lại bình tĩnh song thỉnh thoảng vẫn có những phút giây ngơ ngác đến độ sững sờ. Núi rừng vẫn còn quanh đây và tiếng réo gọi vẫn còn âm thầm đâu đó. Trước khi cho cô một sự tự do chọn lựa, tôi nên cố gắng đưa cô về với loài người, về với cuộc sống mà tôi tin rằng sẽ làm lợi ích cho cô.
Để tránh tiếng kêu hú kia bắt đầu réo gọi trở lại, tôi phải rời xa núi rừng bọc vây thung lũng Mả Voi và đi về một miền khác có thể yên ổn nhiều hơn cho bọn chúng tôi.
Ông Chúp đi đã mười ngày. Ông có quay trở về đây cũng còn khá lâu, sớm nhất cũng hai tháng nữa. Tôi sẽ đưa người bạn rừng của tôi tới mạn Cà Đum, gần cái sông lớn làm cái biên giới ngăn cách mạn rừng phía dưới với những núi cao rừng thẳm trên này. Nơi bờ sông đó, tôi sẽ chờ ông già Chúp. Chúng tôi đã quen ngừng nghỉ ở một hẻm núi bên sông gần như là đường độc đạo dẫn về ngả này. Phải về nơi đó để tránh xa bớt bao nhiêu đe dọa bên mình, và có thể rứt khỏi sự kêu gọi có thể càng ngày càng thành ám ảnh kinh hoàng đối với cô bạn của tôi.
Qua sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm chuẩn bị cơm nước rồi dồn tất cả những gì không thể mang theo vào trong lòng hang, đoạn tôi cùng người bạn rừng dùng bữa cơm sáng. Xong tôi mang một gùi lớn chứa thức ăn và vật dụng, bỏ ít đồ đạc trong cái gùi nhỏ đưa cho cô nàng:
- Mang xem.
Sau phút ngần ngừ nhìn tôi với vẻ dò xét, cô bạn người rừng tròng vào vai mình. Tôi nói:
- Đi thôi.
Rồi tôi đi trước, quay lại ra dấu cho cô đi theo. Cô ta yên lặng bước đi, nhẹ nhàng qua những bờ đá nhấp nhô, qua những cây cối gai góc lan tỏa trên đường. Tôi lặng yên đi suốt ngày như thế, không thể trao đổi với cái vốn liếng ngôn ngữ ít ỏi của bạn đồng hành, song cảm thấy không đến nỗi cô quạnh như là ngày nào. Phần cô bạn rừng chiếc gùi không làm cho cô nhọc mệt thêm một chút nào, và chân cô vẫn thoăn thoắt, vẻ mặt đọng lại trong sự bất động lầm lì. Bây giờ tôi mới cảm thấy lời nói thật là cần thiết, vì thiếu trao đổi con người bỗng nhiên trở thành rời rã một cách thảm thương.
Buổi trưa, chúng tôi nghỉ bên bờ suối và nấu ăn xong tôi nằm dưới một bóng cây cố tìm giấc ngủ. Cô bạn ngồi dựa vào một bờ đá, yên lặng, cặp mắt mở rộng nhìn lên vòm xanh như không cảm thấy chút xa lạ nào trong sự di chuyển vừa qua.
Buổi chiều, tôi cố gắng đi thật mau cho gặp căn lều bỏ lại hôm nào, trước khi trời tối. Đây là nơi tôi lần đầu nghe những tiếng lạ giữa khuya, khi cùng ông Chúp ngồi chờ trời sáng và bị cơn mưa dội xuống xóa sạch dấu vết khả nghi của chốn rừng già.
Trời vừa sụp tối thì đến căn lều. Cô bạn Xà Niêng có vẻ bỡ ngỡ khi nhìn mái lá dột nát và cô hít thở một cách khác thường. Tôi bảo:
- Ta vào trong thôi.
Nhưng cô kêu lên như một tiếng rít, bước lùi, một tay bám chặt vào tôi kéo giật trở lại. Tôi hiểu trong lều không được an toàn, rọi đèn bấm vào quét sáng, đồng thời rút súng phòng hờ. Liền đó tôi nghe tiếng động trong lớp lá khô và sự kéo lê sàn sạt qua những lá cành. Ánh đèn cho tôi kịp thấy màu da láng mướt ửng sáng của một con trăn cỡ lớn đã vào chiếm ngụ chiếc lều hoang phế lâu nay.
Chúng tôi vào lều, sắp đặt chỗ nằm, chuẩn bị lửa đêm cùng ăn cơm tối. Số củi dự trữ ngày xưa còn nhiều và cái dấu bếp hoang tàn chứng tỏ ông Chúp trong chuyến trở về vừa rồi đã không ghé ngủ lại đây. Có lẽ ông đi quá vội, đã vượt khỏi lều trước khi trời tối.
Tôi đốt lửa lên, lấy phần cơm còn từ trưa chia cho người bạn rừng rú. Chúng tôi ngồi ăn yên lặng, nghe những tiếng động âm thầm vây bủa xung quanh. Đôi lúc tưởng như rừng đêm siết lại, ôm chặt lấy tôi như những cánh tay man rợ khổng lồ. Về khuya gió núi lồng lộn rú qua thung lũng dưới kia và tiếng xào xạc liên hồi ở trên mái lều ru dần tôi vào giấc ngủ say sưa.
Một lúc nào đó, trở mình, tôi lại nhìn thấy cô bạn Xà Niêng vẫn ngồi yên lặng, y như vào lúc ban trưa. Tôi bảo:
- Ngủ đi! Hãy ngủ đi nào!
Nhưng cô Xà Niêng có vẻ không nghe lời tôi vừa nói. Mắt cô hướng vọng ra ngoài đêm dày, như chờ đợi tiếng réo gọi bất thần sẽ hiện lên một nơi nào, vào giữa đêm khuya.
Buổi sáng thức giấc, tôi đã thấy cô bạn ngồi trước lều, vẻ mặt bình tĩnh. Có lẽ đây là biên giới cuối cùng của người Xà Nieng và tôi hy vọng rời khỏi nơi đây chúng tôi sẽ không bao giờ bị quấy phá nữa. Tuy nhiên, đoạn đường phải đi còn khoảng chừng năm ngày nữa mới tới bờ sông Ra Mun, nơi tôi hy vọng có thể sống an toàn hơn. Trong năm ngày dài trước mắt tôi sẽ thực hiện một số công việc để chuyến đi tránh được sự buồn nản vừa làm rút ngắn đoạn đường mà tôi muốn đưa người bạn rừng kia về với sinh hoạt của người.
Tôi sẽ dạy cô Xà Niêng nấu cơm, đun nước, dạy cô hái củi, nhúm lửa về đêm, và giúp cô hiểu biết thêm ngôn ngữ của người. Như thế, những nỗi vất vả của chuyến đi này dễ được xua tan và ngày như đêm sẽ được trôi qua một cách nhẹ nhàng.
Chúng tôi tới sông Ra Mun vào một buổi trưa nắng gắt, mặt nước phản chiếu chói chang như những vũng bạc mênh mông. Ở đây có nhiều tảng đá, chúng tôi tìm nơi quen thuộc đã đựơc lựa chọn từ xưa làm cái quán trọ lý tưởng cho mỗi chuyến đi, chuyến về. Dấu vết than củi và lá lót nằm cho thấy ông Chúp đã ghé lại đây, đôi bãi phân ngựa đã khô lưu chút gì về con vật được trao cho tôi một cách lạ lùng. Tôi bảo cô bạn:
- Chúng ta ở đây và chờ ông Chúp. Bây giờ hãy lo sửa soạn cuộc sống mới này, và làm thế nào để cho hang đá chúng ta được dễ chịu hơn.
Sau một ngày nghỉ, chúng tôi bắt tay vào việc dọn dẹp chỗ ở. Cô bạn Xà Niêng giúp tôi quét sạch từ trong ra ngoài, và chúng tôi mở một con đường rộng từ chỗ hang đá ra đến bờ sông. Bây giờ tôi có thể giao bếp lửa và chỗ ở cho người bạn để mỗi buổi sáng vào sâu trong các thung lũng kiếm các con mồi. Buổi đi đầu tiên, vừa quay trở về tôi không tìm thấy cô ta. Chờ đợi lát sau vẫn bặt tăm hơi. Một nỗi ngờ vực thoáng hiện trong óc… Có lẽ cô Xà Niêng đã từ giã nơi đây để quay về chốn rừng sâu bát ngát rồi chăng? Nếu thế, sao cô ta chẳng trở về từ khi vừa rời chốn cũ mà phải chờ đến hôm nay? Tôi không tin cô đã bỏ tôi để về rừng. Nơi cô chưa diễn biến nào chứng tỏ có ý định ấy. Cô gái Xà Niêng không có kiểu lối che đậy tình cảm của người văn minh, và sự buồn vui nơi cô đều là trạng chứng trung thực của tâm hồn. Tôi không thể đoán gì hơn về sự mất dạng thình lình của người bạn đó. Bị ném trả lại bất thần vào nỗi cô độc tôi cảm thấy mình choáng váng, một điều mà tôi không sao nhận thấy từ xưa, trải qua bao tháng năm dài đắm mình trong chốn rừng già. Tôi leo lên một tảng đá thật cao, hy vọng có thể nhìn thấy bóng dáng người bạn ở nơi nào đó, nhưng chung quanh tôi chỉ là màu xanh ngút ngàn vây phủ và sự im lặng dày đặc nhấn chìm tất cả dấu vết. Tôi bỗng nghĩ đến đoàn người Xà Niêng họ hàng của cô gái đó… Có thể là họ vẫn đi theo tôi, vẫn đi lặng lẽ âm thầm như thế bên cạnh chúng tôi để mà dò xét, đặng tìm dịp tốt mang về cô gái lạc loài… Nếu thế, lần này không chắc gì cô trở lại, và tôi chỉ còn có mỗi công việc là đợi chờ thôi. Dù sao cô đã hiện đến với tôi một cách ngẫu nhiên và sự quay lại lần trước cũng thật bất ngờ. Khó lòng chờ đợi những sự bất ngờ kỳ lạ tái diễn liên tiếp trong cuộc đời mình.
Nhưng tôi không phải chờ lâu. Chỉ vài phút sau, khi rời tảng đá, tôi đã nhìn thấy cô bạn Xà Niêng lóp ngóp bò lên từ một chỗ vực sông sâu. Thân hình ướt đẫm, cô trồi lên khỏi mặt nước với mấy con cá khá lớn giữ chặt trong tay. Tôi vội chạy lại. Và cô bạn rừng nhìn tôi với một nụ cười, đúng hơn là một nhếch mép nhẹ nhàng ma tôi suy đoán như một niềm vui. Cô trao những con cá ấy cho tôi và tôi cầm lấy, cảm động trong lòng. Cô đã tự nguyện góp phần với tôi trong cuộc sống này. Khi tôi lặn lội săn tìm thú rừng trong núi sâu kia, cô cũng lan lội dưới dòng sông sâu tìm cá. Đã chẳng từ giã ra đi cô còn chung tay duy trì cuộc sống của chúng tôi nữa. Sau cái giây phút tưởng là xa cách vĩnh viễn, bây giờ gặp lại tôi cảm thấy một niềm vui thật lạ. Tôi muốn noi với người bạn một tiếng cảm ơn, nhưng tôi hiểu cô không thể nào hiểu những kiểu cách đó.
Buổi tối hôm ấy bữa cơm chúng tôi thật là vui vẻ. Thịt rừng, cá sông nướng chín tỏa mùi ấm áp nồng nàn trong hang đá rộng. Tôi cầm lụi thịt đã được ướp muối thêm vào chút vị ớt hiểm nhan nhản trên núi rừng này, nướng trên than hồng trong khi cô bạn Xà Niêng loay hoay đặt những con cá đã chín trên những chiếc lá rừng lớn. Bây giờ cô như đã mat bớt vẻ rừng rú và tôi có cảm tưởng như đang sống với một thiếu nữ nào đó, tuy không có được nhan sắc bình thường của người đàn bà nhưng có một tâm hồn bạn thật dễ hòa hợp.
Tôi tự nhủ rằng:
- Thôi thế cô ta sẽ khong quay về rừng nữa. Chắc là cô sẽ bằng lòng sống mãi ở đây.
Nhưng tôi cũng tự hỏi mình: làm sao tôi có thể sống mãi mãi thế này trong chốn hoang vu? Làm sao tôi lại phải cứ dấn thân trong cõi bất trắc quạnh hiu, trong chốn mênh mông buồn nản thế này? Dù tôi có nuôi ý định một ngày nào đó sẽ mua những mảnh vườn ruộng sống với ông Chúp, bằng những hoa lợi thâu hái do những nỗ lực của mình, điều này cũng còn là một mơ tưởng. Cuộc đời có bằng lòng để cho ta hưởng sự yên ổn vắng lặng đó không, ông Chúp có chịu rời những nhà sàn bám tận sườn non để tìm nhàn rỗi trong chốn đồng bằng xa lạ?
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.
|