1.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần xây nền độc lập.
Nguyễn Trãi. 1428
Chắc chắn phải có khoảng trống giữa các con chữ. Từ Triệu, Trưng, Lý, Trần xây nền độc lập? Là một nhà Nho Nguyễn Trãi có xem trọng Trưng Trắc và Trưng Nhị không? An Nam chí lược, quyển sách sử đầu tiên của người Việt Nam còn lưu giữ được đến ngày nay xem bà Trưng là giặc: Năm Kiến vũ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang Vũ, có người đàn bà Giao Chỉ tên là Trưng Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai Mã Viện qua đánh dẹp yên, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.
Có một nhà văn đã vô tình nhưng hùng hồn, phát biểu gián tiếp qua nhân vật, bằng miệng lưỡi và tâm địa của một kẻ thực dân: “Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó”. Cô đỏ mặt vì trí tưởng tượng nghèo nàn của mình. Đồng trinh? Sách Xuân Thu của Khổng Tử hơn hai ngàn năm trước gọi tổ quốc cô là khuyết địa, là đất trống. Sách Lễ Ký lại bảo nơi này toàn bọn xăm trán, vẽ mình.
Hậu Hán Thư ghi nhận cuộc chiến quyết định giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện diễn ra năm 42 sau Công nguyên tại Lãng Bạc. Lãng Bạc ở đâu? Có phải Hồ Tây như nhiều sách sử Việt Nam thường quả quyết không? Rõ ràng là không! Theo những nghiên cứu địa lý mới nhất, thời ấy mực nước biển khá cao so với ngày nay, phần lớn đồng bằng hai bên sông Hồng từ Sơn Tây trở xuống đều ngập nước. Nói Lãng Bạc là Hồ Tây thì không sai. Nó chính xác như một chiếc đồng hồ hỏng, hai lần chỉ đúng giờ mỗi ngày. Đó là thảm cảnh của lịch sử chưa được khoa học soi rọi.
***
Mênh mang trời nước Lãng Bạc. Vài con thuyền độc mộc quây quần tung lưới ven bờ. Những cánh đồng xăm xắp thủy triều, loáng thoáng dăm ba đôi trâu đang cày ải, xúc phèn. Dáng người Âu Lạc nhỏ bé song rắn rỏi. Đầu họ cúi thấp xuống đất mẹ như những gié lúa trĩu nặng, cần mẫn và lao khổ, nhưng đượm hương mùa mới. Đó hẳn là tinh cốt, túy chất của cuộc sống thanh bình giữa thôn xóm hiền hòa, xã hội nguyên sơ.
Dãy núi đằng Tây mờ ảo như một nét vẽ sơn thủy phóng khoáng và bao dung. Ngọn Tản Viên lừng lững bước khỏi khung tranh, trìu mến ngắm đàn con bé bỏng của mình đang mải mê mưu sinh.
Tiếng hát ngọt ngào đằm thắm, loang trải trên những gợn sóng lăn tăn, óng ánh đùa nắng. Ca từ phi thời gian day dứt như một dấu hỏi thấm đẫm nước mắt:
Ơ… hớ… hơ…
Lãng Bạc là Lãng Bạc nào
Biển hồ sóng dậy cồn cào lời ca
Lãng Bạc là Lãng Bạc xa
Sông Đà núi Tản cha qua mẹ về
Ngàn năm non nước nguyện thề
Không dung giặc cướp, không mê bả quyền
Mê Linh trên bến dưới thuyền
Trưng vương tuẫn tiết…
Ai quên hận này…
Khổ thơ đầu dào dạt tình cảm, nhắc nhớ một thời người Âu Lạc gọi núi Tản là mẹ, sông Hồng, sông Đà là cha. Tục bắt rể nên cha phải qua. Người mẹ đi đâu rồi cũng trở về. Quê cha đất mẹ là vậy.
Khổ thứ hai nhịp rời, nhanh và dứt khoát. Bi tráng đến tột độ rồi buông lơi một câu hỏi, có thể làm rơi nước mắt ngàn đời.
Ai đang hát? Hay đó là hơi thở đất nước, truyền gửi cho người phụ nữ M’linh kiêu dũng sứ mạng mở đường lịch sử? Trưng Trắc nghe thấu tất cả. Bà đứng bên bờ Lãng Bạc đỏ quạnh, đau đáu nhìn về phía đông nam. Màu máu uất hờn trải tận chân trời. Có thể bà biết, dưới mặt nước ấy, hơn ngàn năm sau, phù sa bồi lắng cộng với biển lùi sẽ tạo nên mỏm cù lao phong thủy kim qui trường tồn. Con cháu bà sẽ mở ra một triều đại mới, thời đại mới, độc lập và tự chủ. Họ sẽ gọi nơi ấy là đế đô Thăng Long. Hình ảnh rồng bay tượng trưng cho Đại Việt, thoát thai từ tôtem Giao long, cá sấu, từng được đúc trên đồ đồng của văn minh Đông Sơn.
Điều làm nặng lòng Trưng Trắc là sự có mặt của Tô Định và sứ đoàn của y tại Long Uyên. Tô Định được Hán Quang Vũ tấn phong làm Thái thú Giao Chỉ năm 34 sau Công nguyên, song thực ra y chỉ vừa mới đến Long Uyên mấy năm nay thôi. Trước đó, khi mẹ cả Man Thiện chưa trao quyền cho bà Trưng, bên mép nước phía hạ lưu biển hồ Lãng Bạc, Tích Quang đã xây dựng một bến thuyền và dãy nhà tạm. Họ gọi vống lên đấy là thành Rồng cuộn (Long Uyên). Đến thời Đường, vì kỵ húy tên tục cao tổ Lý Uyên nên nó được đổi ra Long Biên. Đúng ra nhiệm vụ thám sát ôn hòa vùng “khuyết địa” phía nam nhà Hán của Tích Quang đã đặt nền móng cho kế hoạch thực dân, nếu không có loạn Vương Mãng làm chậm trễ.
Mùa Xuân năm 38 Tô Định và đoàn tùy tùng dăm trăm người của y cặp bến Long Uyên. Mệnh lệnh xấc xược đầu tiên của Tô Định là tập họp tất cả Lạc tướng xung quanh Long Uyên để nghe “thánh chỉ”.
“Dưới gầm trời này, đất ở đâu cũng là đất của Thánh thượng, dân ở đâu cũng là dân Đại Hán – Tô Định gầm lên – Các người có biết đây là quận Giao Chỉ đã được Hán Vũ Đế xác lập không?”.
“Tích Quang cũng từng nói như ông – Trưng Trắc nhỏ nhẹ nhưng dõng dạc – Từ Mẹ tổ, chúng tôi chỉ biết gọi nơi mình sinh sống là Âu Lạc. Âu là đất. Lạc là nước. Âu Lạc là xứ sở của chúng tôi, không phải của người phương Bắc”.
“Khá khen cho Trưng Trắc già mồm. Ngươi nên biết sách Vũ Cống đã có từ Nam Hải. Sách Xuân Thu chép rằng nước Sở đã gồm thu Nam Hải thuộc Hoa Hạ. Cổ thư Sơn Hải kinh tiên Tần nói Tây Giang đổ vào Nam Hải. Cả biển nam này là của Đại Hán, rẻo đất trâu đầm Âu Lạc lý nào lại ở ngoài Đại Hán…” Tô Định biện luận ra vẻ rất hùng hồn.
Trưng Trắc cười vang nhờ Lữ lạc tướng tiếp lời họ Tô: “Người Trung Quốc trăm năm trước cứ thấy sông rộng, nước nhiều liền gọi là biển. Nam Hải ở Vũ Cống và Xuân Thu là Trường Giang vậy. Nam Hải trong Sơn Hải kinh rõ ràng là Tây Giang chảy qua Phiên Ngung. Vua Kiến Đức và tể tướng Lữ Gia của triều đình Nam Việt lên thuyền ra sông lớn ngoài Phiên Ngung lập chiến khu, Lộ Bác Đức tấu về triều bảo họ vào biển Tây. Tô Thái thú lẽ nào chưa đọc những dòng ấy?”
Mặt Tô Định tái như gà cắt tiết.
Trong khi đó Lạc tướng Chu Diên nhìn Trưng Trắc bằng đôi mắt ngưỡng mộ và nể phục. Thật không uổng phí khi bà gửi gắm con trai mình đến M’linh làm chồng người phụ nữ hùng dũng và đảm lược kia.
Ban đầu, không Lạc tướng nào chịu tập họp theo lệnh Tô Định. Tuy nhiên Trưng Trắc đã cho sứ giả đến nhiều nơi thuyết phục. Bà muốn họ tận mắt chứng kiến dã tâm của những kẻ tự nhận là bề trên, là văn minh hơn người bản xứ. Bà muốn tương kế tựu kế, dùng chính diễn đàn của Tô Định để vạch rõ dã tâm của hắn. Trưng Trắc tin rằng với những luận cứ rạch ròi bà sẽ dễ dàng bẻ gãy luận điệu ngang ngược của tên Thái thú xấc xược này.
M’linh không xa Long Uyên, do đó các biện pháp trấn áp của Tô Định gây ảnh hưởng ngay lập tức đến đời sống và sinh hoạt tại M’linh. Phản ứng quyết liệt của Trưng Trắc biến bà thành cái gai phải nhổ trong mắt Tô Định.
Tô Định và các thuộc hạ đã chiêu dụ được không ít cư dân chung quanh Long Uyên làm tay sai. Những kẻ phản trắc, quên cội nguồn đã quay lưng lại với nền văn hóa của tiên tổ, a dua theo người Hán để cười vào tục bắt rể và chế độ mẫu quyền. Họ nghênh ngang ỷ thế vào những ông chủ mới có thuyền to, giáo sắt dài, ăn mặc bóng bẩy, lụa là xa hoa.
Gần đây, Tô Định lại ra lệnh cấm đánh cá suốt một dải Lãng Bạc và những vùng nước phụ cận. Nếu có chiếc thuyền độc mộc nào của dân Âu Lạc dám mạo hiểm buông câu, tung lưới thì lập tức bầy lâu thuyền buồm cao, cột lớn sẽ lao đến như bầy dã thú hung tợn nhất.
Trưng Trắc hiểu rõ rằng, nếu không tìm cách hóa giải kiểu “tằm ăn lá dâu” này, Tô Định sẽ dần dần nuốt trọn hồ Lãng Bạc mênh mông, gồm thu sông Hồng, sông Đà và sông Lô. Rồi sẽ đến ngày bọn hùm sói kia cũng sẽ sục mõm tới cả rừng cao núi xa của tổ tiên bà. Thử hỏi khi ấy, còn con dân Âu Lạc nào có thể sống yên ổn được chăng?
Tô Định làm gì, nghĩ gì với toàn bộ Âu Lạc, đều dựa trên nhãn quan và ứng xử trước Trưng Trắc và M’linh. Vô hình trung, M’linh vượt lên tuyến đầu kháng Hán. Lạc tướng Trưng Trắc và phó tướng Trưng Nhị đã được lịch sử giao trọng trách như thế.
Lịch sử không nên xét nét đúng sai ở trường hợp này. Người ta chỉ có thể tiếc rẻ. M’linh là điểm trũng của văn minh Âu Lạc, nơi chế độ mẫu quyền còn hiện hữu và vai trò của người đàn ông chưa được đặt đúng chỗ.
***
Trưng Trắc cảm thấy cô độc. Ban ngày chồng bà, A Thi, vẫn phải về Chu Diên. Đến đêm chàng mới là người của M’linh, của gia tộc Lạc tướng nhà bà. Trăm công ngàn việc rối như tơ nhện nên Trưng Trắc lại càng mong sớm có tin vui. Một đứa trẻ sẽ tạo lý do cho bà qua Chu Diên báo tin mừng và xin Lạc tướng thể tất để thường xuyên cho phép A Thi có mặt ở M’linh vào ban ngày. Hơn nữa, Trưng Nhị em gái bà dù sao cũng vẫn còn trẻ người non dạ. Trưng Trắc cần lắm một nam giới mạnh mẽ giúp sức bên cạnh.
Ngàn xưa đến nay trong phong tục Âu Lạc, trách nhiệm giáo dục và nuôi dưỡng con trẻ đều do một nhóm các bà mẹ đảm trách. Nó tự nhiên và nguyên thủy như gà mái ấp trứng chăm con, như hình ảnh hươu cái đa phu trên Trống Đồng. M’linh là xã hội lấy đại gia tộc bên đàng gái làm hạt nhân, chưa chia tách thành những gia đình qui mô nhỏ nhưng linh hoạt để bình đẳng và nâng cao vai trò người đàn ông. Trong môi trường trọng nữ, ý tưởng của Trưng Trắc đã có thể xem là cách mạng.
Nông nổi và lạc quan vốn có của tuổi trẻ Trưng Nhị luôn cho rằng chỉ cần vài buổi là có thể quét sạch mấy mống Hán quân tại Long Uyên. Trống đồng đã được trang bị khắp các buôn làng. Khi tiếng trống cái tại nhà sàn Lạc tướng gióng lên gấp ruổi, mọi quan Lang sẽ đáp lời. Ngàn mặt trống gọi sấm sẽ hòa vang thành lời hiệu triệu xuất quân rung chuyển non sông. Hổ sẽ gầm. Voi sẽ giậm chân. Hàng trăm thuyền độc mộc mang hình hài Giao long sẽ bủa lưới lửa xuống quân xâm lược đang đồn trú tại Long Uyên.
Trưng Trắc không sợ Tô Định. Bà nhìn xa hơn Trưng Nhị. Biết bao nhiêu đồng đã được dành dụm để đúc trống? Nhưng dù có thừa đồng đi nữa, gươm giáo bằng đồng làm sao sắc bén như đồ sắt? Lao tre, tên trúc dẫu bịt đồng, đâu thể đâm thủng được giáp dày khiên lớn của đại quân Hán từ biển sẽ tràn vào tiếp cứu Tô Định. Hình như Trưng Trắc đã lờ mờ hiểu rằng bà thua người Hán tự nền tảng. Mọi quan Lang trong M’linh của bà, xứ sở của bà, có thể luôn đoàn kết, nhất lòng đứng dưới mái nhà sàn cao vút của Lạc tướng M’linh. Nhưng Trưng Trắc không chắc rằng các Lạc tướng và quan Lang ở Chu Diên, Câu Lậu, Luy Lâu, An Biên và nhiều vùng khác, có hết lòng ủng hộ bà không? Dạo Tích Quang qua đây, nhiều Lạc tướng đã biết ở phương Bắc người ta tôn một người lên làm chúa thượng, thống lĩnh trăm họ, quyền lực tuyệt đối, vạn nhà trung thành. Áp dụng hình thức ấy người Âu Lạc mới có thể tập hợp sức mạnh, chống lại bất cứ kẻ thù nào.
Trưng Trắc tin tưởng bà có thể làm vua phương Nam. Song bà hiểu địa linh thì thiếu gì nhân kiệt. Nhà vua phải là người khiêm tốn, cao thượng, trong sạch, có tâm, có đức, có tài, sống vì dân mà chết cũng vì dân. Sức dân muôn thuở là vô địch, nhà vua phải sáng suốt vận dụng chân lý giản dị ấy trong mọi hoạt động xã hội, nhất là việc trị dân giữ nước. Nghe đâu cuối thời Tây Hán, vua quan Trung Nguyên cấu kết đè đầu cưỡi cổ nhân dân, sưu cao thuế nặng, cướp bóc tham nhũng, ăn chơi xa xỉ. Hậu quả là Vương Mãng đã soán ngôi Hán đế, thiên hạ loạn ly, đất trời nổi giận, tai ương dồn dập. Người chết kể đến ức, triệu.
Trưng Trắc luôn ghê tởm sự hèn nhát. Tỉ như mới đây thôi, bà Lạc tướng Khúc Dương đã thân chinh đến giao thiệp, cầu xin Tô Định cho phép đánh cá trên ngã ba Đuống. Hàng chục thuyền độc mộc của họ bị Lâu thuyền Hán đâm thủng, đánh chìm, cướp cả nguồn sống và sinh mạng ngư dân. “Phải mạnh mẽ và kiên quyết hơn đó chính là phẩm giá làm người.” – Trưng Trắc khẳng định như thế. Song song với việc kịch liệt phản đối Tô Định bà còn cử một số Giao long thuyền có vũ trang đến bảo vệ toàn bộ khu vực tây bắc biển hồ Lãng Bạc. Ngư trường ngàn đời nay của M’linh là vùng nước ấy. Sông Hồng chảy vào Lãng Bạc tại đây, Chếch xuống phía nam là sông Đáy luồn lách giữa một vùng đầm lầy mênh mông. Nơi sông Đáy nhận nước từ Lãng Bạc thường được gọi là cửa Hát vì trong các lễ hội trên mặt hồ, nam nữ hay chống sào dừng thuyền ven bờ và ca hát đối đáp với nhau bằng những giai điệu dân dã đầy sức sống, đậm chất phồn thực, ngày này qua ngày khác.
Cửa Hát cũng là nơi linh thiêng, gần như biên giới của trần thế và cõi âm. Giới thượng lưu M’linh và Chu Diên khi trăm tuổi, sẽ được khâm liệm vào chiếc quan tài hình thuyền, tái hiện chân thực Giao long thuyền mà họ từng sử dụng. Đoàn đưa tang phải khép một vòng trước cửa Hát, rồi mới đi sâu vào đầm lầy ven sông Đáy, chọn những gò nổi khô ráo để an táng người quá cố.
Hôm trước bà Lạc tướng Chu Diên có ghé thăm M’linh. Bà bảo với Trưng Trắc là thế giặc mạnh quá. Càng gần Long Uyên càng nhận ra sức ép kinh khủng. Bà cảm thấy hoang mang và bất lực.
“Giặc lúc nào chả mạnh. Không mạnh thì sao chúng có thể coi trời bằng vung, chuyên làm những việc trái đạo nghĩa. Vậy thì để tự vệ, Âu Lạc không được yếu. Làm yếu nước là có tội, là rước giặc vào nhà, đem voi dày mồ mả tiên tổ. Giặc đến, đầu tiên là lỗi ở ta. Ta không yếu giặc nào dám mạo phạm? Ta không sợ, mọi đe dọa chẳng có đất sống”. Trưng Trắc khẳng khái nhận định.
“Nghe nói trên núi, Lạc tướng Bắc Đái, Kê Từ vẫn thản nhiên, ngày ngày ngả thịt thú rừng, uống rượu, ca hát nhảy múa. Họ bảo dẫu cùng là một Âu Lạc nhưng họ không thích ăn cá, không quan tâm đến biển hồ Lãng Bạc”. Lạc tướng Chu Diên còn dẫn thêm nhiều bằng chứng để Trưng Trắc thấy rằng không phải nhất nhất người dân Âu Lạc đều có ý thức cảnh giác trước vận mệnh Âu Lạc.
“Tôi ước sao A Thi sẽ làm vua Âu Lạc. Chúng ta cần thay đổi rồi mẹ chồng à”. Trưng Trắc rút ruột nói – “Không theo kịp thời đại, đất nước nào cũng sẽ hèn yếu. Cổ hủ, bảo thủ và hài lòng trong sự ổn định cũ rích này, chúng ta đang thoái hóa và tự cô lập đấy. Nữ quân làm sao mạnh mẽ bằng nam quân. Tổ tiên ta không phải không biết điều này. Ngày hội đua thuyền rồng tế mẹ trời, trai tráng cầm chèo lúc nào cũng vượt trước một phần ba vòng đua”.
Gương mặt Lạc Tướng Chu Diên bỗng nhiên tối sầm lại. Trong một khoảnh khắc bà thấy Trưng Trắc nói rất có lý và bà cũng thấy mình đã phạm tội ngay khi hiểu ra những lời ấy. Về nhà, Lạc tướng vội giết gà tạ tội với quỷ thần về những ý nghĩ quá mới mẻ kia. Bà yêu A Thi nhưng bà sẽ không thể đánh đổi tình yêu ấy với bất cứ truyền thống nào.
***
Ở một thái cực khác, bà Lạc tướng Khúc Dương lại muốn xa lánh Trưng Trắc. Bà đến xin Tô Định thương tình, đừng cản dân chúng đánh cá. Bà làm như thế không phải vì bà yêu họ mà vì bà không muốn mất địa vị, quyền lợi và quyền lực hiện nay bà đang được hưởng. Bà sợ nỗi căm tức của nhân dân đối với Tô Định có thể bất ngờ quay ngược lại bà. Bao đời nay mẹ truyền, con nối, cháu chờ sẵn, gia tộc bà ăn trên ngồi trước đã quen. Bà chỉ lo gió giao mùa, bà không muốn vật đổi sao dời. Bà tin mỗi giọt máu trong người bà đã mang sẵn mầm di truyền cao quí, thiêng liêng và bất khả xâm phạm.
Tô Định khéo léo che giấu sự man trá trên gương mặt khi tiếp kiến Lạc tướng Khúc Dương. Y rất cần bọn đầu đen phản chủ xum xoe cầu cạnh, nhưng đấy mới chỉ là những vẩy ghẻ ruồi trên cơ thể Âu Lạc. Tô Định mong chờ những người như Lạc tướng Khúc Dương đã lâu. Họ là nội thương, là ổ bệnh vô phương cứu chữa của xứ sở này. Sự nghiệp của y thành hay bại phải nhờ lũ hèn hạ ấy chăng? Thoáng một chút tự mâu thuẫn trong đôi mắt lươn của Thái thú. Lạc tướng Khúc Dương đã nhai giập miếng trầu, khóe mép nhăn nheo của bà dần dần hiện lên những tia nước bọt đỏ như máu. Một con quỷ tởm lợm – Tô Định nhủ thầm. Y đang tự phỉ nhổ vào tinh thần thượng võ mà người Trung Nguyên hay rêu rao. Nhưng hết cách rồi, y phải dùng mọi thủ đoạn để hòng đạt được mục tiêu Quang Vũ giao phó. Từ nay trở đi, mãi mãi Tô Định sẽ cảm thấy mình lép vế và là tiểu nhân trước đối thủ chính của y, Lạc tướng M’linh Trưng Trắc.
Canh cánh bên lòng nỗi nhục của trang nam nhi tri chí, Tô Định đâm ra bực bội và hay cáu bẳn với tay chân. Càng hành động tàn ác, y càng sợ sệt hùng tâm của người Âu Lạc kết tinh trong con người Trưng Trắc.
Trưng Trắc nắm chắc những diễn biến thuận lợi cho bà đang sục sôi tại Long Uyên. Là một người khôn ngoan, bà thừa biết chính nghĩa tất mang lại sức mạnh. Đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Bà nên đem lẽ phải của người Âu Lạc đến mọi mái tranh, vách nứa, sưởi ấm từng trái tim quả cảm của lương dân. Lẽ phải sẽ thôi thúc những con người thụ động nhất và sẽ đánh động lương tri những kẻ vô tâm nhất... Lẽ phải đó sẽ thăng hoa thành tinh thần bất khuất của toàn bộ xứ sở này. Đó là vũ khí bách chiến bách thắng muôn năm của người Âu Lạc trước ngoại xâm, bất kể hôm nay hay mãi mãi về sau.
Chiều muộn, gió lên, biển hồ Lãng Bạc nhấp nhô những cơn sóng uất hận. Chúng chồm lên cả mây thấp và đẩy mặt trời nhanh lặn. Từng đoàn thuyền nối đuôi nhau về bến. Các khoang cá hắt lên ánh nắng xiên khoai rực rỡ. Niềm vui trào dâng trong từng lời chào hỏi của ngư dân dành cho vị thủ lĩnh yêu quý của mình. Có người còn mạnh dạn bưng đĩa trầu cánh phượng đến mời Trưng Trắc. Thái độ hàm ơn và tôn trọng của họ khiến Trưng Trắc ấm lòng. Bà đưa tay ra hiệu cho các tùy tùng cùng thưởng trầu. Mùi trầu vôi cay nồng rạo rực khắp bến sông. Các nữ tướng cười vang, môi họ đỏ như máu, má họ hồng như vừa uống rượu cần nhưng ánh mắt không hề xao nhãng.
Hộ hậu ngư dân là mấy chiếc thuyền rất to, mũi cong vút, khắc chạm hình tượng Giao long mạnh mẽ. Đuôi thuyền là bánh lái trang trí đầu chim Lạc. Giữa mỗi Giao long thuyền đều có bệ không cao lắm, tiền thân của lầu gác ở thuyền Hán. Cừ súy Âu Lạc thường đứng đó chỉ huy, có cung thủ hỗ trợ. Sàn thuyền, phía mũi đặt một chiếc trống đồng không tai, viền trống đính bốn đôi cóc đang giao hoan, chầu mặt trời trung tâm theo chiều ngược kim đồng hồ.
Giao long thuyền vừa cặp bến, Trưng Nhị nhảy thoắt lên bờ cấp báo những diễn biến đáng lo ngại cho chị cả:
“Tô Định vừa hạ thủy thêm hai Lâu thuyền mới mà Bọn Khúc Dương đã lén lút cung cấp gỗ quí để chúng dụng mộc. Các thuyền chiến của ta giả trang thương buôn đã báo lại với em như thế. Cơ cấu chiến binh của Tô Định bắt đầu có sự thay đổi. Y pha trộn nhiều tay chèo Âu Lạc vào đội ngũ Hán. Đám này chưa quen nếp áo sống phương Bắc nên thường mặc quần Hán nhưng lại cởi trần khi xuống thuyền. Vì là dân bản xứ điều đáng lo ngại nhất là chúng rất rành rẽ sông nước Lãng Bạc để chỉ điểm lập công với Tô Định.”
“Hôm nay em có bị gây hấn gì không?” Trưng Trắc hỏi, ngữ âm của bà rất trầm.
“Có lẽ chúng bất ngờ với lực lượng của em nên còn ngại ngần, chỉ lảng vảng xa xa. Khi em đánh trống xua đuổi thì lũ Hán đực đứng bên mạn Lâu thuyền vạch quần đái thành cầu vồng để khiêu khích”.
“Khốn nạn đến thế ư?” Trưng Trắc bực dọc – “Thái độ rất nguyên sơ và lỗ mãng ấy chứng tỏ chúng quyết chiếm trọn Lãng Bạc bằng mọi giá. Cảnh đầu rơi máu đổ không còn xa nữa đâu. Chúng đã giở đến trò bỉ ổi cuối cùng rồi”.
“Em không sợ chết. Em chỉ sợ không được một trận sống mái với lũ xâm lược ngạo mạn và gian tham này.” Trưng Nhị cao giọng nói với Trưng Trắc.
“Tối nay A Thi qua, chị sẽ bàn thêm với tất cả mọi người. Ai mà chẳng chết. Dòng dõi trâm anh chúng ta sẽ chết cho vinh quang Âu Lạc. Chết để tinh thần bất khuất trường tồn, muôn đời con cháu noi gương thì chẳng có gì mà phải đắn đo.”
Trưng Nhị sóng bước bên chị gái trở về hành dinh Lạc tướng. Lén nhìn dáng đi và nét mặt phúc hậu nhưng quyết đoán của Trưng Trắc, cô thấy ấm áp và an toàn quá đỗi. Nếu không có gì thay đổi, Trưng Trắc sẽ tổ chức đại lễ rước chồng cho cô vào cuối năm nay. Nghĩ đến đây hai má Trưng Nhị chợt ửng lên, cử chỉ mất hết tự nhiên. Trong hàng chục chàng trai tuấn tú đã hát đối với cô ở lễ nghinh xuân vừa qua, không biết mẹ cả và Trưng Trắc đã chấm ai. Hình như mọi người quá bí mật về chuyện này. Mấy năm nay mùa màng thuận lợi, Lạc tướng đã chuẩn bị cả một kho rượu cần cho sự kiện lớn của gia tộc. Chắc chắn đó sẽ là chuỗi ngày vui chưa từng có ở M’linh. Chín vò rượu hay chín mươi chín vò rượu sẽ được dùng cho cuộc chào rượu giữa hai họ? “Phép quân không bằng tuần rượu” là luật tục ngàn đời nay. Xong chào rượu sẽ đến chào cơm. Nhất định phải chín mươi chín mâm chứ không thể ít hơn!
“Nhà trai sẽ đem lễ vật gì đến nhà gái nhỉ?” Trưng Nhị thầm hỏi. Cô biết huyền thoại cổ xưa về voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao chỉ là vẻ đẹp của trí tưởng tượng siêu phàm. Một thiếu nữ đương thì phơi phới như cô ở M’linh thường mong mỏi được nhận thóc giống tốt, hạt mẩy, gạo mới thơm nức, một bộ váy thổ cẩm không có bất cứ tao chỉ nào bị nối và mấy món trang sức giản dị.
Trưng Nhị đột ngột trở nên thực tế, cô nhìn thấy chín chiếc gùi chứa toàn vũ khí bằng đồng được đoàn đưa hôn nhà trai đem qua, đặt dưới ngôi nhà sàn Lạc tướng M’linh. Đất nước đang có giặc, giấc mơ đôi lứa của cô phải cụ thể như thế mới xứng đáng với liệt tổ. Có lẽ cô nên đề nghị đánh trống đồng cáo bố giặc dã thay cho tục giã cối đón chồng.
Nhìn vào mắt em gái, Trưng Trắc chợt thấy nhói lòng. Bà thấu hiểu tất cả vì trong thiên tính lãnh tụ của bà có một đường thông nối với tiềm thức từng cá nhân Âu Lạc. Thiên tính đó sẽ truyền những lời nói của bà đến muôn dân với sức mạnh động viên và cuốn hút không thể hiểu nổi.
“Lạc tướng của em. Chị đừng quá lo lắng thế”. Trưng Nhị nhẹ nhàng an ủi Trưng Trắc. Hình như chị cô sinh ra là để hy sinh cho một cái gì đó lớn lao hơn cả thời đại của chính bà. Cái chết sẽ là phương tiện để bà đến với cõi bất tử chăng? Trưng Nhị tin tưởng rằng cô có thừa can đảm gạt qua một bên giấc mơ cá nhân nhỏ bé để luôn sát cánh với chị cả và anh rể của mình trong trận chiến một mất một còn với quân thù.
Nguồn: Hận Lãng Bạc. Tiểu thuyết lịch sử của Trương Thái Du. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |