Ba chiếc trống đồng có tai treo được buộc lên thanh xà ngang ngoài hiên, phía Đông ngôi nhà rông có mái hình thuyền của Lạc tướng M’linh. Khi gà đã đi tìm chỗ ngủ được hơn một canh giờ, mẹ cả Man Thiện ra lệnh cho bọn lực điền vạm vỡ gióng trống triệu tập toàn bộ các quan Lang và bô lão. Kế hoạch uống rượu bên bếp lửa trong nhà rông để bàn quốc sự phải thay đổi, vì người đến đông như trẩy hội. Cuối cùng, một đống lửa cao ngất được nhen ngoài trời, vòng người rộng bằng một quãng ném dao.
Gia nhân Lạc tướng khệ nệ bê vào chiếc đầu trâu đực chồm ra khỏi mặt nia. Đầu trâu vừa mới cắt, máu tươi rói nhỏ từng giọt dài xuống đất với. Hai mắt trâu trợn ngược, mõm hất lên trời.. Trưng Trắc bắt đầu hành lễ tế cáo. Trước hết bà cảm tạ trời đất năm nay cho mưa thuận gió hòa, cá đầy thuyền, chái bếp nhà nhà đầy ngô, góc sàn chất không hết các gùi gạo tẻ, gạo nếp. Sau đó bà mời tiên tổ về chứng kiến cảnh nước nhà đang lâm nguy trước họa ngoại xâm.
Khi Trưng Trắc nhắc đến Hán quân, bốn bề quan quân bỗng im lặng như tờ. Tiếng lửa tre nứa tí tách bập bùng cũng giảm âm, bớt sáng. Khói đùn cay mắt cả những em bé còn ẵm ngửa nhưng chúng cũng không dám khóc. Chó cuối xóm thôi sủa, dơi treo mình trên cành cây, cú mèo nhắm mắt. Tất cả hình như ngưng đọng để nghe âm vang hùng thiêng sông núi vọng về.
A Thi đứng lên tuyên bố là người Chu Diên cũng đã sẵn sàng. Xung quanh Luy Lâu, Long Uyên, đến những vùng biên ải như An Định, Hữu Tu Quan đều nhất nhất chờ lệnh Lạc tướng M’linh, chờ lửa hiệu bên cửa Hát, chờ tiếng trống đồng đánh theo nhịp dồn, liên tu bất tận. Cả Âu Lạc sẽ ra trận, sẽ không đội trời chung với bè lũ xâm lăng Hán triều.
Trưng Trắc cảm ơn chồng, cảm ơn những sứ giả từ khắp Âu Lạc đã tụ hội quanh bà, cảm ơn các bô lão không quản tuổi cao sức yếu, trèo đèo lội suối đến động viên con cháu. Bà nói giết Tô Định không khó. San bằng Long Uyên lại càng dễ hơn, bà chỉ sợ lòng người không giữ mãi được quyết tâm. Sau khi xử lý xong Tô Định, bà cùng muôn dân phải bắt tay ngay vào việc xây dựng vương quốc Âu Lạc, phải chọn được minh quân và hiền tài để tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập, sống mái với quân Hán nhiều lần nữa vì chắc chắn chúng vẫn chưa hêt lòng tham, dã tâm và sẽ đem tinh binh sang rửa hận.
Đêm khuya dần nhưng những luận bàn, kế sách cứ đưa ra không ngớt. Mắt người người long lanh chong lửa, thổi bạt đêm đen. Các phương sách hành động được chia sẻ, người nào việc nấy. Trưng Trắc chưa định ngày xuất quân. Bà hiểu rằng, trước tiên, cần xây dựng thế trận lòng người. Bà còn phải đi khắp Âu Lạc, gặp gỡ hết thảy Lạc tướng để chỉ ra cho họ lợi hại, tham vọng vô lường của Tô Định cũng như đế quốc Đông Hán. Sau rốt, bà sẽ chứng minh cho họ, chỉ có hình thức triều đình như người Hán, người Hồ, mới cứu Âu Lạc thoát khỏi nanh vuốt của con sói đói Bắc phương. Căn cơ là ở đấy, sự nghiệp của bà cũng ở đấy. Bà không đeo giấc mộng bá vương cho riêng mình. Chế độ mẫu quyền lạc hậu ở Âu Lạc phải được cởi bỏ, để nhân dân và sức sống trường tồn của Âu Lạc được ngụp lặn, tắm rửa trong mạch nguồn văn minh.
Nhân vật đầu tiên Trưng Trắc tiếp xúc là Khúc Dương Lạc tướng, kẻ luôn đặt lợi ích dòng tộc cao hơn lợi ích Âu Lạc.
“Khi nào có trống mẹ hẵng dạy đời bà già này nhé Lạc tướng M’linh”. Nghe như thế Trưng Trắc cảm thấy như bị tạt ngay một gáo nước lạnh vào mặt – “Các người còn trẻ dại, biết đến đâu mà đòi trứng chọi đá”.
“Lão Lạc tướng à”. Trưng Trắc cố giữ bình tĩnh – “Đàn hươu kết sừng thành rừng chông thì sợ gì sói dữ. Bà chưa tin tưởng, chúng tôi vẫn cứ đợi bà. Chỉ mong bà đừng tiếp tay cho quân thù, hại người Âu Lạc”.
“Ta chỉ muốn yên ổn. Ta mua yên ổn cho con dân của mình, cớ chi lại gọi là tiếp tay cho quân thù”.
“Tại sao chúng ta phải mua sự yên ổn trong chính ngôi nhà của mình?”. Trưng Trắc vẫn mềm dẻo – “Bà hãy lập đàn cúng hỏi Mẹ Tổ, xem người trả lời ra sao. Bà nghĩ rằng tên Hán quan vô lại Tô Định giết hết chúng tôi rồi sẽ để yên cho bà và dòng tộc bà chăng?”
Nghe đến tên Thái thú tàn bạo Tô Định, Lạc tướng Khúc Dương rùng mình. Nỗi khiếp nhược trùm phủ khuôn mặt già cỗi của ả. Trưng Trắc bất lực và không thể hiểu nổi. Trăm trứng của mẹ tổ đã có vài quả ung, quả thối chăng? Trưng Nhị uất quá, cô chỉ mặt lão Lạc tướng cảnh cáo trước khi ra về: “Bà sợ chết thì hãy ở yên đấy, trốn kỹ cuối hàng quân kháng Hán của chúng tôi và đừng dại dột bước qua đội ngũ bọn ăn cướp. Người Khúc Dương và dòng tộc bà sẽ xử bà mà không đợi đến chúng tôi đâu”.
Rất may, không khí nặng nề ở Khúc Dương mau chóng bị xua tan khi Trưng Trắc gặp Lữ Lạc tướng, hậu duệ của Lữ Gia, thừa tướng Nam Việt. Tưởng cũng cần nhắc lại, năm 111 trước Công nguyên, Phiên Ngung thất thủ, vua Kiến Đức và Lữ Gia xuống thuyền đến Thuận Đức phía tây Phiên Ngung tìm cách tái tập hợp quí tộc Nam Việt, xây thành đắp lũy định tiếp tục chống cự. Chẳng bao lâu sau, chiến khu bị bọn Việt gian dẫn quân Hán đến tấn công, Kiến Đức và Lữ Gia đều bị bắt sống. Gia tộc họ Lữ chạy thoát cũng nhiều, sau đó họ đến Phong Châu hòa mình vào cuộc sống nơi đất mới với người bản xứ. Gần 150 năm trôi qua, xã hội mẫu quyền dung hợp chế độ phụ hệ, tạo nên đặc thù mẫu hệ trung gian, quyền thừa kế thuộc nữ giới nhưng Lạc tướng luôn là nam giới.
Lữ Lạc tướng học rộng hiểu nhiều, ông có một đội thuyền buôn nhỏ chuyên hàng hải ven bờ xung quanh vịnh Bắc bộ, đôi khi cũng xuống cả Cửu Chân.
“Thưa Lạc tướng Trưng Trắc,” Lữ Lạc tướng nói – “Tôi nhiệt thành ủng hộ công cuộc kháng Hán của bà. Tiếc rằng Phong Châu người thưa thớt, chúng tôi huy động hết nhân lực cũng chỉ được ba ngàn quân, hơn trăm chiếc chiến thuyền, to nhỏ đủ loại”.
“Góp gió thành bão, Lữ Lạc tướng đừng khách sáo,” Trưng Trắc vui ra mặt.
“Nhưng bà đừng lo, tôi có quan hệ bán buôn khá tốt với An Biên và Cửu Chân”. Lữ Lạc tướng nói tiếp – “Quí ông Đô Dương ở Cửu Chân có thể tập trung hàng vạn chiến binh nhưng Giao long thuyền hơi ít”.
“Tôi sẽ đến tận nơi gặp hai người ấy. Ngoài ra ông còn có cao kiến gì không?” Trưng Trắc hỏi.
“Bà phải đúc trống lớn, tuyên xưng là Lạc vương mới có thể tập hợp nhân dân Âu Lạc bên mình. Đó là thuận theo truyền thống. Mặt khác bà nên cân nhắc trao quyền dần dần cho nam giới, bắt đầu từ quan Lang đến tướng lĩnh trực tiếp cầm binh. Sứ giả của tôi rất mừng trước ý định của bà. Tiến hành cải tổ tận gốc rễ xã hội Âu Lạc là việc nên làm”. Lữ Lạc tướng chứng tỏ ông đã suy nghĩ rất nhiều về vận mệnh Âu Lạc.
Hai chuyến đi tiếp theo của Trưng Trắc đến An Biên và Cửu Chân cũng gặt hái được những kết quả rất tốt đẹp. Sự đoàn kết đơm hoa đậu quả hơn cả dự định. Đô Dương đồng ý nhận tước Hầu, Lê Chân nguyện làm tướng, cả hai thề trung thành tuyệt đối với Trưng vương, dù bà chưa đúc trống mẹ.
Lãnh thổ Âu Lạc đã được tổ chức thành bốn trọng điểm quân sự dưới sự chỉ huy xuyên suốt của Trưng Trắc. Lạc hầu Đô Dương, tướng quân Lê Chân và Lữ Lạc tướng toàn quyền quyết định quân cơ khu vực xung quanh mình. Trước mắt, do lực lượng Hán quân còn mỏng, Trưng Trắc chưa cần huy động hết mọi người. Bà nhấn mạnh với đồng bào là họ nên chăm chỉ lao động sản xuất, tích cốc trữ lương, mài gươm đúc giáo, thao luyện sĩ khí, sẵn sàng cao độ, chờ tiếng trống mẹ của bà tập hợp khi đại quân của người Hán kéo sang.
Sự tồn tại của Tô Định ở Long Uyên chỉ còn tính từng ngày.
2.
Rất nhiều người Việt Nam hết mình yêu vẻ đẹp của kiến trúc thực dân tại Đà Lạt. Cô cũng vậy. Mỗi chiều mưa bụi rừng thông, tiếng dương cầm lẫn trong sương bay là là trên mái ngói rêu phong của ngôi biệt thự vườn xây theo kiểu Pyrénées và Basques, cô thường nghẹt thở. Hình như đó là một hội chứng đã được y văn ghi chép kỹ càng, mang tên một văn hào Pháp. Cô gọi đấy là nỗi nghẹn ngào thiên đường.
Cô đoán, anh sẽ cho rằng cô đồng bóng và nông cạn. Anh yêu Di Linh và Bảo Lộc hơn Đà Lạt bởi nó còn đọng nhiều dấu ấn bản xứ nguyên khai. Nói chung, nhìn vào lịch sử Lâm Đồng trăm năm trở lại đây, cô có thể suy đoán những gì đã diễn ra ở đồng bằng sông Hồng đầu Công nguyên. Djirinh và Blao đã được Hán – Việt hóa thành Di Linh và Bảo Lộc. Phải chăng Mi Linh trong Hán Thư, và sau đó là Mê Linh đã được người Hán ký âm từ M’linh? Ngôn ngữ của Hai Bà Trưng và ngôn ngữ người Thượng ở Tây Nguyên hình như cùng một nguồn Nam đảo. Bác sĩ Yersin chuyển ngữ Đaạ Lạch qua Dalat, sau đó tiếng Việt đơn âm tiết tách nó ra thành Đà Lạt như đang thấy. Đaạ cũng như Đak, Nác, Lạc và Đà trong sông Đà, nó chỉ sông, suối, địa bàn sinh tồn cốt tử của người Việt cổ. Người Mường cũng gọi nước là Đác. Từ cụ thể, tư duy phát triển đã trừu tượng hóa Đaạ, Đak, Lạc thành xứ sở, tổ quốc, quốc gia. Đaạ Lạch là xứ sở của người Lạch, cũng như Lạc Việt tương đương với Việt quốc.
Tư duy của nhân loại ở thảo nguyên và đời sống du mục lại hình tượng hóa đất, vùng đất, thành xứ sở, quốc gia. Đó là ý nghĩa của từ land trong quốc danh nhiều nước trên thế giới. Nằm nơi ngã ba của các nền văn hóa và ngôn ngữ, có lẽ trùng ngữ đất – nước là cách dung hòa, là dấu vết hợp chủng bắc – nam trong quá trình hình thành dân tộc Việt Nam. Phản đề của phân ly là tái hợp. Phải chăng truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con là ẩn ý sâu sắc, là nhắn nhủ đoàn kết, là lời răn dạy tương thân tương ái của tiền nhân Việt cổ. Nếu xét trên nhận thức tuyến tính, câu chuyện Âu – Lạc là bề phải của huyền thoại tháp Babel nổi tiếng trong Kinh thánh Thiên chúa giáo. Hay nói cách khác ngạo mạn và chia rẽ là một.
“Tại sao em yêu thích lịch sử?” - Anh hỏi.
“Hình như nó giải đáp được rằng chúng ta từ đâu tới. Còn ý nghĩa của tồn tại nữa chứ. Ở góc độ nào đấy lịch sử sinh động hơn triết học.” – Cô trả lời như một cái máy. Có lẽ anh không nhớ nhiều những kỷ niệm cô từng kể. Câu hỏi cứ lập đi lập lại, tuồng như anh chỉ nói cho riêng mình, để tạo nên một lý do suy tư. Cô cũng như anh, bàng hoàng đứng dưới chân Tháp Chàm ngạo hận. Thời gian im lặng. Vô biên và thoáng chốc. Khi anh định nhặt một viên gạch vụn làm kỷ niệm, cô gạt đi mạnh mẽ nhưng lại run rẩy hoài của. Cô bảo nếu mọi người đều suy nghĩ như anh thì Tháp Chàm đã tiêu vong. Lịch sử sẽ là một tập hợp hỗn độn vô nghĩa nếu ai cũng là sử gia. Với Tháp Chàm, cô chỉ muốn là du khách khát khao chiêm bái giá trị nghệ thuật xưa cũ và sự đánh bóng của năm tháng.
Cô rất tiếc năm nọ, khi thăm bảo tàng lăng mộ Nam Việt Văn vương ở Quảng Châu, lúc đó cô chưa quen anh. Xúc động lan tỏa đến từng chân tơ kẽ tóc. Cô bỗng tin vào linh hồn và những lời truyền kể thông qua tiềm thức của cả một dân tộc, một cộng đồng. Cô tin vào thứ lịch sử nằm ngoài những thẻ tre, các tờ lụa của sử quan. Và hơn hết, cô thấy tuyệt đối gần gũi với Văn vương Triệu Hồ.
***
Cô một mình đến Quảng Châu với mục đích duy nhất là thăm lăng mộ Triệu Văn Vương. Từ sân bay Bạch Vân cô về thẳng nhà nghỉ trường đại học Kí Nam. Sáng hôm sau, lên xuống mấy lượt xe buýt và tàu điện ngầm, cô đến cổng công viên Việt Tú. Đi bộ một thôi dọc phố Giải Phóng Bắc, băng qua đường bằng hầm, cô dừng trước bức tường mặt tiền cao ngất của viện bảo tàng. Thật mĩ mãn. Người Việt Đông chăm sóc di tích lịch sử rất khoa học.
Đêm. Ngồi ghế đá trong khuôn viên rợp cây xanh trước nhà nghỉ, khoan khoái tận hưởng không khí trong lành, cô tự hỏi “Hơn hai ngàn năm trước, đây cũng là lãnh thổ nước Việt ư?” Một ông lão râu tóc bạc phơ đi ngang, vừa cười vừa hỏi:
“Mai mi về Nam, sao hôm nay không tiện thể ghé ta chơi một chuyến?”
“Thưa… Ông là…”
“Ta là ông nội của Văn Vương.”
“Nhà ngài… À không, lăng mộ của ngài gần đây ư?”
“Trường đại học này xây dựng bên triền địa danh Ngung sơn trong sách xưa.”
Như có ma lực thôi thúc và mạnh mẽ hơn cả sự tò mò khiến cô líu ríu rảo bước theo Triệu Đà.
***
Lối vào mộ dốc và khá hẹp, dài tầm vài chục bước chân, vách đất dựng đứng. Theo lễ nhà Chu, chỉ thiên tử mới được làm đường khiêng quan tài vào mộ. Thời ấy ở Hoa Bắc, người ta đào mộ đạo rất rộng và sâu. Sau khi an táng, hai phần ba chiều cao mộ đạo được lấp cát và chèn đá hộc, một phần ba phía trên là đất nện. Nếu trộm viếng mộ, đào càng sâu thì chúng càng có nguy cơ tự chôn sống vì cát sụt lôi đá xuống. Thấy cô quan sát khá kĩ, Triệu Đà quay lại bảo:
“Ở đây cao và xa sông suối, không tìm được cát. Ta cho đào ngang, hút sâu vào lòng núi. An toàn không kém. Hai thiên niên kỉ có hề hấn gì đâu. Cửa nhà ta suốt bốn mùa và suốt ngày đều có thể nhìn thấy mặt trời”
“Ngài năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”
“Ta dọn về đây năm 137 trước công nguyên. Ta sinh năm 234 tại Chân Định, nước Triệu. Nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.”
“Sao Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên đời vua Lê Thánh Tông ghi nhận ngài thọ hơn trăm tuổi?”
“Mấy chú thư lại hậu sinh ấy nhầm khá nhiều. Sách sử sao đi sao lại, có người vì mục đích này nọ lại bịa thêm. Chỉ Sử kí của Tư Mã Thiên là chuẩn nhất, nhưng quá khúc chiết.”
“Ngài từng là phó tướng của Đồ Thư?”
“Bậy nào. Ta xuống Lĩnh Nam đợt hai, sau khi dân Tây Âu đã giết Đồ Thư. Tần Thủy Hoàng rất ghét nước Triệu, vì ám ảnh bởi tuổi thơ khó nhọc tại Hàm Đan. Nhiều người Triệu bị Tần Thủy Hoàng bức ép đi xây Trường Thành và bắt xung lính thú Lục Lương. Thuở bé ta con nhà tử tế, được học ít nhiều. Sẵn chí tiến thủ, sau vài năm chinh chiến ta thành Huyện lệnh Long Xuyên…”
Bước qua hai cánh cửa đá to và nặng, Triệu Đà chỉ cô ngồi xuống chiếc ghế cạnh một thạp đồng có hoa văn người chèo thuyền đặc trưng của đồ đồng Đông sơn.
“Chịu khó nhé. Nhà cửa chật hẹp vì mái lợp đá nguyên tảng, không thể dùng các tấm lớn hơn”. Sau khi đưa cho cô chén trà có ánh bạc, Triệu Đà yên vị vào chiếc yên ngựa bằng da nạm vàng, kê trên bó ngà voi rất to. Ông chậm rãi giới thiệu “nhà” mình:
“Đây là phòng khách. Phòng ngủ sát kề. Sau phòng ngủ là nhà kho. Có hai buồng chái tây và hai buồng chái đông. Ta đem theo hơn chục người tuẫn táng gồm lính gác, phục vụ, nấu bếp, nhạc công và mấy bà cung phi trẻ tuổi. Phải nói là dã man”. Triệu Đà lắc đầu - “Truyền thống nó thế…”
Gió nam mát rượi. Bộ quần áo ngọc may bằng chỉ tơ, treo trên móc áo gỗ chân đồng được chạm khắc tinh xảo. Văng vẳng và lao xao, dàn chuông buông lời âm u như những tiếng thở dài.
“Ban sáng, thăm mộ cháu ngài, tôi thấy chiếc ấn vàng “Văn Đế Hành Tỉ”, lại có ấn “Triệu Mạt” và ấn “Thái tử”. Nhưng Tư Mã Thiên ghi nhận Văn đế tên Hồ mà?”
“À, thằng này mẹ Việt, bà nội cũng người Việt. Ta đặt tên Hồ, nhưng trong hoàng gia hắn chỉ thích mọi người gọi hắn theo tiếng bản địa. Chữ Mạt dùng để kí âm, nghĩa là gì ngươi đoán ra không?”
“Người Tráng ở Quảng Tây đọc chữ Mạt này gần như Bột. Thời Trần, văn tự Đại Việt chép Bột Mạt là Trời, Phù Bột Mạt là Mặt Trời. Như vậy có không khả năng Bột Mạt là trùng ngữ do sự cộng sinh giữa hai ngôn ngữ khác nhau? Nghĩa là Bột Mạt = Bột = Mạt = Trời. Nó tương tự như Chia Ly = Chia = Ly. Đặc biệt là trong Nguyên sử, chương Ngoại di, phần An Nam có trích một lá thư của Nhật Huyên mang ngôn ngữ ngoại giao, gửi Trấn Nam vương. Thư ví Thoát Hoan là Mạt quang. Đây là lá thư của người Đại Việt viết bằng chữ Hán, không thể loại trừ khả năng từ Mạt quang được dùng với nghĩa Việt là “ánh mặt trời” trong tương quan ngữ nghĩa Hán và Việt nhất định, nhất là với ghi chú của sứ thần nhà Nguyên đã dẫn. Nếu nghiên cứu sâu sắc theo chiều hướng trên, có rất nhiều khả năng giải nghĩa chữ Mạt trong từ Triệu Mạt ý chỉ trời, ngôi vị thượng tôn của nước Việt cổ, mà biểu trưng rõ ràng nhất là hình ảnh ở giữa trống đồng Đông Sơn”.
Triệu Đà cười vang. Những bức tường đá nặng nề hút âm rất mạnh. Ông khen cô khéo suy luận.
“Thưa ngài, Triệu Hồ có phải là con Trọng Thủy?”
“Ừ, nhưng không phải con của Mỵ Châu đâu nhé. Thủy chết sớm. Hồ đĩnh ngộ, ta đúc cho ấn thái tử. Vì ấn thái tử cũ của Thủy là Kim ly hổ ấn (ấn vàng núm hình con lân), nên đành cho Hồ dùng Kim qui ấn (ấn vàng núm hình con rùa) theo đúng trật tự long – lân – qui – phượng.”
“Vậy còn chuyện An Dương Vương và nỏ thần?”
“Hình tượng An Dương Vương trong hiến sử Việt Nam là một tổ hợp phức tạp những ghi chú có chủ ý của sách vở Hoa Hạ và lời truyền miệng dân gian. Ngươi không thấy bóng dáng ta trong ấy sao?”
“Thế Tây Âu Lạc ở đâu?”
“Âu Lạc là kí âm của Đất nước, Xứ sở của người Việt bằng Hán tự. Người Việt ở Phiên Ngung, người Việt dưới mé sông Hồng, hay người Việt tại đất Mân đều gọi nơi mình sống là Âu Lạc. Cũng có thể xem Âu Lạc là tên bằng tiếng Việt của nước Nam Việt. Khi Tư Mã Thiên viết Tây Âu Lạc, ông ta hàm ý phía tây Phiên Ngung, tức vùng Nam Ninh Quảng Tây gần cửa biển Hợp Phố.”
“Vậy ông chưa từng đặt chân đến sông Hồng?”
Triệu Đà đứng lên lấy chiếc hộp bạc tròn đựng thuốc của người Ả Rập cổ đưa cho cô xem:
“Những thương nhân từ Ba Tư đi thuyền đến đây có kể ít nhiều về mảnh đất hoang vu bên một biển hồ mênh mông, đỏ quạnh phù sa. Nơi ấy nhiều đầm lầy, ẩm thấp, dân cư thưa thớt, mùa mưa ngập lụt triền miên. Ta từ nước Triệu, chỉ quen cưỡi ngựa nên không có kinh nghiệm xây dựng đội thuyền viễn chinh.”
“Còn thành Cổ Loa nữa chứ.”
“Dịch Hu Tống chết, nhân dân Tây Âu Lạc không chịu làm nô lệ đã quật khởi kháng chiến và giết được Đồ Thư. Dạo Lữ Hậu chuyên quyền, ta bắt đầu dòm ngó sang hướng ấy nhằm mở rộng Nam Việt, sẵn sàng chống giặc. Trước nguy cơ bị thôn tính, phải chăng quân trưởng An Dương Vương đã liên kết các bộ lạc Tây Âu Lạc, xưng vương và thành lập nhà nước sơ khai theo chế độ mẫu hệ. Lợi dụng địa thế núi non, An Dương Vương đắp thành đất, dựng lũy gỗ nhiều vòng men theo vách núi, nhìn xa như một con ốc biển khổng lồ. Đó phải chăng thành Cổ Loa? Quân ta nhiều lần điêu đứng với những mũi tên đồng này”. Triệu Đà chỉ vào bó tên màu vàng, cạnh chiếc nỏ dựng ở góc phòng - “Ta thu phục mãi không được. Hết cách, phải dùng kế li gián. Tay chân ông ta nhận của cải đút lót, đuổi đánh chủ. Vị thủ lĩnh kiêu hùng thất thế lên thuyền chạy ra biển, đem theo nhóm quí tộc thân cận.”
“Ý ông là, họ đến Đông Anh, Hà Nội ngày nay, đắp đê ngăn nước và sinh sống?”
“Có lẽ thế. Họ đem theo câu chuyện về Cổ Loa và những cuộc đụng độ với ta. Thời gian xóa nhòa tất cả. Sau này con cháu họ lầm tưởng vết tích Kiển Thành mà Mã Viện xây trên thân đê là Cổ Loa bên Quảng Tây”.
“Ông sáng tác kịch bản này nhằm biện minh hành động xâm lược?”
“Ngươi xem, trong nhà ta có chiếc trống đồng chiến lợi phẩm nào đâu. Vị vương mới ở Tây Âu Lạc cũng ít chịu nghe lệnh ta. Năm 111 Phiên Ngung thất thủ, ông ta định chống nhà Hán. Hoàng Đồng là người Phiên Ngung cử qua giám sát Tây Âu Lạc. Sử kí viết “Tả tướng cũ của Âu Lạc chém Tây Vu Vương”. Tây Vu nghĩa là vùng phía tây (Phiên Ngung), chứ không phải địa danh. Tây Vu và Tây Âu Lạc là một. Chữ Tây này vẫn tồn tại đến hôm nay trong tên gọi Quảng Tây, một tỉnh giáp ranh phía bắc Việt Nam”.
“Cổ sử liệu cực ít, thế mà người ta cứ lầm lẫn từ Tây Vu này là tên huyện,” cô thầm nghĩ. Ngôi chùa nào cũng gọi hai bên là Tả vu và Hữu vu. Tây Vu được nhắc đến hai lần, năm 111 trước Công nguyên ở Nam Việt và 43 sau Công nguyên tại Âu Lạc. Khả năng Tây Vu là tên của một huyện thấp đến vô cùng.
Nguồn: Hận Lãng Bạc. Tiểu thuyết lịch sử của Trương Thái Du. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |