tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
13.10.2009
Trương Thái Du
Hận Lãng Bạc

Mười tám cặp thuyền đua đã gặp nhau, điệu múa giao long hợp hoan đang ở thời điểm tưng bừng nhất, cuối trời bỗng xuất hiện những cánh buồm đen. Bảy Lâu thuyền của Tô Định đang hung hăng chém sóng sấn tới lễ hội của người Âu Lạc. Trưng Trắc cho chuyển điệu trống cảnh giác. Người dân hoang mang, thuyền khán giả sôi như ong vỡ tổ. Tuy nhiên trật tự mau chóng được tái lập. Trống lệnh sẵn sàng ứng chiến phát ra. Chín Giao long thuyền của các Lạc tướng tạo nên đôi cánh che chở cho lương dân. Một số thuyền vũ trang trực sẵn trong bờ cũng lao ra, giáo nhọn tua tủa, cung được lắp tên, sẵn sàng ứng chiến.


 


Ý thức rõ ràng về chủ quyền Âu Lạc, Trưng Trắc chỉ gián tiếp bắn tin cho Long Uyên về lễ hội Đoan Ngọ này. Bà coi đó là việc làm khôn khéo và mềm dẻo, không mất mát oai linh lãnh tụ và chính nghĩa của Âu Lạc. Nhưng Tô Định lại xem đây là hành vi coi thường y. Khi Giao long thuyền và Lâu thuyền tiến đến sát nhau ở khoảng cách có thể khẩu đàm, Tô Định hằn học:


 


“Khá khen thay cho M’linh Lạc tướng. Lệnh cấm của ta ở vùng nước này đã bị các ngươi xúc phạm. Ta bị xúc phạm nghĩa là Thánh thượng đại Hán của ta đã mang nhục”.


 


“Tô Định, ngươi không được hỗn xược.” – Giọng nam trầm đầy tự tin của A Thi rắn rỏi vang lên như thép. Ông chỉ thẳng về phía Hán quân – “M’linh đã có trống cái. Trời đất đã trao cho Trưng Trắc sứ mệnh của Lạc vương huyền thoại. Ngươi phải quì xuống nếu muốn nói chuyện với vua bà một nước độc lập, như từng phải quì trước bệ rồng Lạc Dương của Hán đế nhà ngươi”.


 


Gương mặt mất ngủ của Tô Định dài ra, tái dại. Y đảo mắt xung quanh một lượt, ước lượng nhanh tình thế. Y tự kìm nén, tránh thúc đẩy căng thẳng vượt tầm kiểm soát.


 


“Người Hán cút đi. Người Hán cút đi…” – Không ai bảo ai, biển người Âu Lạc thét vang. Hán quân xanh mặt. Tô Định nổi da gà. Y biết nếu y thốt ra một lời nữa thôi, chín chiếc Giao long thuyền gắn giáo nhọn trên mũi sẽ xông vào xé xác đoàn Lâu thuyền Hán. Hàng ngàn cung thủ sẽ tưới mưa tên vào Hán quân. Lao dài, giáo nhọn sẽ xiên Tô Định như xiên cá.


 


Tô Định đứng cao hơn A Thi và Trưng trắc vì Lâu thuyền là một phương tiện thực dân đồ sộ để đi biển lớn, đến xâm lăng chiếm đóng những mảnh đất giàu có và hiền lành như Âu Lạc. Nó khác hẳn Giao long thuyền mộc mạc hiền hòa, chỉ dùng đối phó với sông nước bất trắc, chứ không phải đối đầu với bọn lê dương man rợ.


 


Song, độ cao vật lý chỉ là tương đối. Tô Định thấy mình nhỏ bé và quá hèn mọn trước Trưng Trắc, A Thi hoặc bất cứ chiến binh Âu Lạc nào. Nếu có phép thuật, có lẽ y đã biến thành một con kiến, nhảy xuống biển hồ Lãng Bạc, bám vào cọng rác nào đó để trốn chạy về Long Uyên.


 


Trưng Trắc dễ dàng đọc được nét mặt thất thần của Tô Định. Tuy vậy, bà không muốn thấy máu chảy trong ngày sinh nhật mẹ tổ cao quí. Bà tin rằng một thủ lãnh khôn ngoan là người biết tránh xung đột khi chưa cần thiết. Bà mong mỏi hóa giải sức mạnh của đế quốc Hán, hơn là quan tâm đến chiến thắng nhỏ nhoi trước mắt.


 


Do đó, cái nhìn của Trưng Trắc hướng về Tô Định vừa mạnh mẽ kiên quyết, vừa dịu dàng hòa hoãn. Tô Định cố bấu víu vị thế vượt trội của Hán tộc trong ý thức chủ quan của y. Vẫn chưa hết run sợ cùng với đám Hán quân đang run rẩy sau lưng, Tô Định đành bất lực khoát tay ra hiệu Lâu thuyền quay bánh lái rút lui.


 


Khi đoàn Lâu thuyền chỉ còn là những chấm nhỏ cuối tầm mắt, mặt biển hồ Lãng Bạc vẫn dội lên lời hờn căm: “Bọn xâm lược Hán cút đi… Bọn xâm lược Hán cút đi…”.


 


5.


 


Với cô thuật ngữ “người Giao Chỉ” là một điều sỉ nhục. Thuật ngữ này lúc nào cũng gợi lên trong cô những ác mộng truyền kiếp, di căn, trong đêm đen Bắc thuộc. Anh tuyệt đối thông cảm và thấu hiểu nỗi lòng cô. Từ Hàn Phi Tử, Hoài Nam Vương đến Tư Mã Thiên, họ đều ghi nhận thời tối cổ (Thần Nông, Nghiêu Thuấn, Thương Ân); đến cận cổ (Thương Chu, Tần Hán), lãnh thổ Hoa Hạ phía nam giáp Giao Chỉ, chứ không bao gồm Giao Chỉ. Trên bản đồ khảo cổ học Trung Hoa, đất đai tiên Tần chỉ là khu vực nhỏ hẹp hai bên trung lưu Hoàng Hà. Do đó Giao Chỉ rất dễ hiểu, chính là khái niệm nói về vùng đất phía nam của Hoa Hạ và không thuộc Hoa Hạ. Giao Chỉ sẽ dịch chuyển dần xuống phương nam, dưới gót sắt các đoàn quân đế quốc, thực dân. Không khó nhận ra Giao Chỉ thời Tây Chu là vùng Đan Dương nước Sở; Giao Chỉ Đông Chu tuột xuống bờ nam Trường Giang; Giao Chỉ thời Tần là Lĩnh Nam.


 


Lịch Đạo Nguyên ghi lại lời Hán Vũ đế muốn mở mang Giao Chỉ làm Cơ Chỉ (cơ sở, nền móng) cho con cháu, là căn cứ xác đáng để kết luận tên của nước Sở gần như đồng nghĩa với Giao Chỉ, vì Cơ Chỉ có thể gọi là Cơ Sở. Chữ Sở trong Cơ Sở đồng âm và chỉ khác chữ Sở tên nước một bộ Thạch trong cách viết chữ Hán. Hán Vũ đế gộp chín quận phía nam nước Hán (có quận Giao Chỉ trong đó) thành Giao Chỉ bộ. Do đó quận Giao Chỉ nhiều khả năng mang tính khái niệm và đại diện, hơn là địa danh đã chiếm đoạt. Khi tiêu diệt Nam Việt, các đoàn quân Hán đã dừng lại ở Phiên Ngung, và sau đó hàng trăm năm, không có bất cứ một Thái thú nào được bổ nhiệm tại quận Giao Chỉ.


 


Anh đã bị thuyết phục bởi lý lẽ mạch lạc cô đưa ra nhưng rất tiếc anh không phải là một sử gia chính thống có quyền năng và tiếng nói. Anh tin xứ sở của Hai Bà Trưng đã có độc lập hoàn toàn trước khi Mã Viện nam chinh. Nhâm Diên, Tích Quang và Tô Định chỉ cầm đầu những nhóm sứ đoàn nhỏ lẻ, không đánh giá hết sức mạnh của Âu Lạc, muốn cưỡng chiếm nó bằng cái giá rẻ mạt nhất. Họ thất bại là tất yếu.


 


***


 


Sau cuộc chạm trán ngày Đoan Ngọ với Trưng Trắc, Tô Định vừa đau, vừa nhục và cảm thấy bế tắc hơn bao giờ hết. Dã tâm của y đã lộ rõ đối với tất cả con dân Âu Lạc. Tô Định tiếc nuối vì không tham khảo kỹ lưỡng hơn nữa sách lược thâm hiểm mang gương mặt khai hóa của Nhâm Diên và Tích Quang.


 


Giờ đây, chỉ có bạo lực mới duy trì được bạo lực và tội ác Tô Định đã thi hành. Y chợt nẩy ra một ma mưu quỷ chước mà nền chính trị Hán thường áp dụng thành công trong nhiều tình huống đó là tách bó đũa ra để bẻ gãy từng chiếc một. Tô Định vẫn còn tưởng bở rằng Âu Lạc chỉ là một chiếc đũa yếu ớt do đó y vẫn còn hy vọng vào kế sách thâm độc này. Cùng lúc đó chế độ mẫu quyền chậm tiến Âu Lạc không thể ngày một ngày hai chuyển đổi lập tức dưới tiếng trống đồng Trưng Trắc. Sức ỳ và tâm lý bảo thủ là rất hiển nhiên, Tô Định tự nhủ rằng y cần khoét sâu thêm thói ích kỷ và tư lợi cố hữu của một bộ phận quí tộc Âu Lạc.


 


Cận công viễn giao là con bài tẩy Tô Định bắt đầu sử dụng.


 


Với những vùng đất xung quanh Long Uyên, y hành quân, càn quét, cướp phá, giết chóc liên tục. Thậm chí có làng, Hán quân hầu như chém giết tất cả trẻ em, ông già bà cả, phụ nữ đã có chồng con, chỉ chừa đàn ông trung niên, nam thanh nữ tú vừa chớm trưởng thành. Bằng cách vạch ra những tử huyệt trong chế độ mẫu quyền, Tô Định không ngừng tuyên truyền, lôi kéo người Âu Lạc đến với văn minh phụ hệ Hán tộc. Chẳng hạn cha con người Âu Lạc không có tình thân vì từ bé đứa con không được cha nuôi nấng dạy dỗ, nó chỉ thuộc về họ ngoại. Lớn lên, đứa bé nhiều khi rất vô tư thuê chính cha mình làm kẻ hầu hạ, nếu chẳng may người ấy nghèo khổ, không chốn nương thân. Không ít đàn ông Âu Lạc thật thà, cứ tưởng Tô Định hết lòng bênh vực, đứng về tầng lớp bần cùng nhất trong xã hội. Họ rủ nhau đầu quân cho Tô Định ngày càng nhiều.


 


Với những vùng xa xôi hẻo lánh, chưa biết đến sự dã man của Tô Định, y dùng chiến lợi phẩm để mua chuộc, kết giao và hứa hẹn quyền lợi kinh tế và thương mại. Y lại giả vờ đề cao văn hóa bản địa, những ưu việt của chế độ mẫu quyền, nhằm khai thác mâu thuẫn giữa Trưng Trắc đang chủ trương tinh thần cách mạng, đổi mới, tôn trọng nam quyền, và những người bị trói buộc, giam cầm trong luật tục xưa cũ của Âu Lạc.


 


Bất kể gần xa, Tô Định vỗ về yêu quí những Lạc tướng, quan Lang tham lam, thích ăn chơi sa đọa và đối xử khắc nghiệt với chính thuộc dân của họ. Y chuốc và làm mê ngủ bọn gian tham ấy với rượu mạnh của người Hán, lụa trơn từ Giang nam, ngọc quí Hợp Phố, sơn hào hải vị Nam Hải. Đặc biệt Tô Định hứa sẽ trang bị vũ khí sắc bén bằng sắt thép, trui rèn tận phương bắc cho bất cứ quí tộc bạo tàn Âu Lạc nào xem nhân dân thấp cổ bé miệng như kẻ thù đối với quyền lợi của họ.


 


Chế độ mẫu quyền đã bị Tô Định hiểm độc tiêu diệt bằng cách ly gián như thế. Thôn tính đất đai và con người chưa đủ, một cuộc cưỡng chiếm rất khó nhận ra và tác hại vô cùng to lớn của nó, trong bất cứ chiến dịch thực dân nào, đó là xâm lăng văn hóa. Sử học ghi nhận rằng, chỉ sau vài thế hệ sống dưới ách nô lệ người Hán, nhân dân Âu Lạc nói chung đã không còn biết Đoan Ngọ là sinh nhật mẹ tổ của họ, là ngày cực dương, nực nội nhất trong năm. Các lễ hội đua thuyền vẫn diễn ra, sông nước vẫn là nơi người ta tụ họp để mong nóng bức dịu đi phần nào. Các loại bánh nếp nguội buộc chỉ ngũ sắc vẫn được gói, dâng lên bàn thờ hoặc làm quà cho nhau; mô hình Giao long thuyền vẫn được chế tác, đem cung nghinh thần thánh và linh hồn tiên tổ, hoa trái vẫn được đặt lên bè lá và thả xuống sông, hồ, để cầu an, khấn nguyện. Nhưng… một chữ nhưng rất lớn, đầy ẩn nghĩa. Nhưng nguồn gốc Đoan Ngọ đã bị khoác lên những cái tên xa lạ với xứ sở này. Nào là viếng Khuất Nguyên nước Sở trầm mình ở Mịch La, ghi nhận Ngũ Tử Tư chết thảm tại Ngô, hay tưởng nhớ Câu Tiễn luyện binh… Nền văn hóa Hoa Hạ đã thống trị văn hóa các nước giáp biên Trung Hoa một cách tinh vi như vậy, nó làm cho cơ hội độc lập thực sự của họ trở nên rất mong manh và mờ nhạt.


 


Mùa hạ sau tiết Đoan Ngọ năm 40, trời đất có lẽ cũng nổi giận với Tô Định tham tàn. Âu Lạc hạn hán nặng. Ruộng đồng khô cằn. Mặt đất nứt ra từng mảng. Dịch bệnh tràn lan. Mực nước biển Đông xâm nhập đến tận hạ lưu biển hồ Lãng Bạc, tôm cá chết trương nổi lềnh bềnh khắp Long Uyên.


 


Phải chăng lòng người oán thán vì Âu Lạc chưa có ai đứng lên phất cờ đuổi giặc, quét sạch bất công?  Phải chăng ý chí các anh thư liệt nữ đã bị lung lạc? Sự thật là Trưng Trắc đang ốm nặng. Lao tâm, lao lực suốt tháng ngày, Trưng Trắc đổ bệnh trong khi mọi người đang chờ bà phát lệnh cho ba quân thẳng tiến đến Long Uyên. A Thi thay vợ gánh vác rất nhiều việc, nhưng lòng người Âu Lạc vẫn chưa thông. Có Lạc tướng cổ hủ đến nỗi còn khẳng định rằng chỉ hội quân chống giặc xâm lược Hán khi Trưng Trắc dẫn đầu!


 


Cuối cùng Trưng Trắc cũng phải cố sức gượng dậy, cùng Trưng Nhị tuyên cáo sẽ lập đàn cầu mưa, hỏi mẹ trời căn cớ. Bà ước sẵn, bất kể mưa hay không, đại quân của bà cũng tiến về Long Uyên hỏi tội Tô Định. Bà cần lý do tập hợp binh lực khắp nơi, mà không gây kinh động, làm giật mình con cọp dữ Tô Định đang nghiến ngấu xé xác người Âu Lạc làm gỏi.


 


Đàn cầu mưa cao chín trượng, dựng ở cù lao nhìn ra cửa Hát. Bốn đội trai tân, mỗi đội mười tám người thay nhau khấu đầu quì lạy liên tục mỗi ngày. Ba mươi sáu ngọn đuốc cắm trên đàn, cháy suốt nhờ mỡ rái cá. Bảy mươi hai con thuyền Giao long của các dũng binh nối đuôi nhau kết thành một vòng tròn giữa sông. Mỗi canh giờ, sau điểm khắc của trống đồng, lính tráng bịt miệng, giả làm tiếng cóc kêu chín mươi chín tiếng. Bình minh và hoàng hôn hằng ngày, Trưng Trắc bước tám mươi mốt bậc thang lên đàn, hướng mắt về mặt trời van nài: “Mẹ tổ ơi, chúng con cần mưa!”.


 


Mãi đến ngày thứ ba, xế chiều, hình như các lời cầu khấn đã đánh động lòng trời, đột nhiên gió đông mát rượi thổi tới. Cóc trong mọi hóc ngách, bờ bụi Âu Lạc bắt đầu nghiến răng kèn kẹt. Đến tối muộn thì mây đen không biết từ đâu ùn ùn kéo về. Sấm nổ liên hồi. Chớp giật nhoáng nhoàng, sét đánh vỡ và cháy bùng một chiếc Lâu thuyền của giặc Hán tại bến Long Uyên. Đang hò hét quân lính dập lửa, Tô Định bỗng nghe lồng lộng trong gió, trong mưa, tiếng trống mẹ Âu Lạc gấp ruổi, dồn dập phát lệnh xung trận. Cuối trời tây, ánh đuốc đỏ thẫm một vùng.


 


Tô Định chợt hiểu sự nghiệp của y đã đến ngày tiêu vong. Chỉ còn mỗi mạng sống để níu giữ, y run sợ líu ríu khép đùi giấu vết nước đang loang ướt đáy quần và sai tên lính hầu ném lọng che mưa đi. Tô Định mong càng ít quan binh nhìn thấy cảnh tượng hèn mạt sợ hãi đến nỗi vãi đái ấy càng tốt.


 


Tô Định quẫn cuống, không thể kêu gào lính tráng lên thuyền bỏ chạy, nhưng không ai bảo ai, Hán quân hiểu chúng phải làm gì. Chạy, chạy thục mạng, chéo lái, chéo sóng, chéo buồm để Lâu thuyền đi xiên gió. Ba, bốn, năm… càng nhiều người càng tốt vận một tay chèo, cật lực đua ra biển.


 


Khi đại quân của Trưng Trắc đến Long Uyên thì lửa đã trùm kín doanh trại Tô Định. Dân thường Âu Lạc xung quanh Long Uyên đã nổi dậy, tràn vào bắt ngụy quân và châm lửa thiêu cháy tất cả. Nghe tiếng trống mẹ bên tai, người người chạy đến bến nước hô vang “Lạc vương vạn tuế. Trưng Trắc vạn tuế”.


 


Không dừng lại, Trưng Trắc chỉ hướng cho đoàn Giao long thuyền tiếp tục đuổi theo quân Hán. Mưa ngày càng nặng hạt. Sấm một lúc một to. Các thủy binh vẫn không ngừng tay trống. Thuyền của họ nhỏ, tốc độ không cao bằng Lâu Thuyền nhưng âm thanh luôn tìm đường đi ngắn nhất. Cuối cùng Tô Định cũng chạy thoát, nhưng tiếng trống đồng Âu Lạc đã làm y mất ngủ cả đời, bạc hết râu tóc trong chốc lát. Hán quân về đến Hợp Phố, điểm danh thì thấy có đến một phần ba đã chết vì sợ vỡ mật.


 


6.


 


Tất nhiên chồng Trưng Trắc không phải tên Thi Sách, mà là Thi. Các sử gia thế kỷ 20 đã chứng minh được việc nhầm lẫn tai hại này. Người Âu Lạc hình như không có họ, cho nên Trưng Trắc nhiều khả năng là chức danh, chứ không phải tục danh của Lạc tướng M’linh. Cô và anh đã đi đến thống nhất ý kiến về điểm này.


 


Họ đã tham khảo rất kỹ lưỡng nhiều tư liệu lịch sử nhưng không thể chấp nhận cách giải thích cho rằng tên gọi Trưng Trắc và Trưng Nhị là xuất phát từ nghề dệt lụa truyền thống Việt Nam. Điều này thật khó được giải thích là cách gọi trại đi của trứng chắc, trứng nhì là hai loại tổ kén sâu tằm. Trong các mộ táng, mộ thuyền thời Hai Bà Trưng, người ta chỉ thấy các loại vải bông, gai, đay. Dấu vết của lụa tơ tằm chưa xuất hiện như một sản phẩm phổ thông bản địa vào thời Hai Bà Trưng.


Truy lục tài liệu dân tộc học của người Minangkabau ở Indonesia và Malaysia, cô phát hiện một điều rất lý thú. Nền văn hóa của tộc người này mang bản sắc độc đáo và riêng biệt. Họ vẫn theo chế độ thị tộc mẫu hệ. Quyền thừa kế nằm hết ở giới nữ. Tuy nhiên trưởng tộc lại là nam giới. Lãnh thổ chung của họ chia thành những vùng tự trị có tên là Luak (Lạc?). Người đứng đầu vùng tự trị cũng là nam giới, do các trưởng thị tộc bầu lên gọi là Luak Undang (Lạc tướng?). Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik (Trưng Trắc?), tất cả các em gái bà này nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi (Trưng Nhị? Tiếng Bahasa Indonesia lần lượt đọc là t'run ch'chik và t'run nhi).


“Cái lý thú của lịch sử là ở những chi tiết chông chênh như thế. Nó chẳng khẳng định và cũng sẵn sàng chờ đợi những phản bác hợp lý. Nó treo lửng lơ. Nó chỉ dành cho những người thực sự yêu thích và khát khao khám phá quá khứ để tìm hiểu sự thật”. Anh động viên cô. Thời Hai Bà Trưng, hiến sử gốc còn lưu lại không đầy một ngàn chữ, chia cắt rải rác ở hàng chục quyển sách Hán văn. Không thể không tìm hiểu Hai Bà Trưng trong tâm thức dân gian, giữa những truyền kể đời này qua đời khác, song phải luôn cảnh giác với cảm tính dân tộc, những lệch pha nhận thức giữa các thời đại và trên hết là cái bẫy của ngôn ngữ phụ hệ trong cả Việt lẫn Hán sử.


“Khảo cổ Việt Nam đã phát lộ không ít mộ nam thủ lĩnh ngoài khu vực Mê Linh, nó có mâu thuẫn với giả thiết về chế độ mẫu quyền không nhỉ?”  Anh hỏi cô.


“Trong xã hội mẫu quyền, quyền lực chính trị và ưu tiên thừa kế đều được nắm bởi nữ giới, ngoại tộc. Phát triển tiếp lên, nội dung mẫu hệ không mâu thuẫn với sự có mặt của nam thủ lĩnh, nữ giới chỉ còn duy trì lợi thế thừa kế. Sau rốt là phụ hệ, sự chuyển giao toàn bộ hai nội dung đặc thù trên, có lẽ không thể diễn ra ngày một ngày hai. Tình trạng xôi đậu, cài răng lược trong cơ cấu xã hội giữa các vùng miền Âu Lạc là khó loại trừ. Do đó giả thiết chế độ xã hội mẫu quyền ở M’linh sẽ chưa thể bị các phát hiện khảo cổ Việt Nam cho đến nay đánh đổ”. Anh hoàn toàn nhất trí với lập luận mạch lạc của cô.


***


Chiến thắng nhanh như chẻ tre, dễ dàng như trở bàn tay, với Trưng Trắc nói riêng và người Âu Lạc nói chung, rõ ràng là chứng giám của lòng trời cho khát vọng tự do và chính nghĩa của họ. Trên tột đỉnh vinh quang, Trưng Trắc bỗng phân vân ngẫm nghĩ đến nhiệm vụ cấp bách đã trù dự. Thương nhân Âu Lạc từ phương bắc trở về vui mừng bảo rằng chưa đợi vua ra lệnh, Hán quan đã vội đóng chặt cửa biên giới. Ở nhiều vùng xung quanh sở trị Hợp Phố, tiếng vang trống đồng Âu Lạc đã khích lệ họ nổi dậy, đánh đuổi kẻ cai trị tàn bạo.


 


Lúc đang bị Tô Định đe dọa, ai cũng chia sẻ với Trưng Trắc quyết tâm bằng mọi giá cải tổ cơ cấu xã hội Âu Lạc. Người người tuyệt đối tin tưởng khi thực thi cải cách, đổi mới, sức lực và trí tuệ nam giới Âu Lạc sẽ có cơ hội được giải phóng, sẽ thành hạt nhân kháng thể thực dân, vun đắp sự trường tồn và thịnh vượng của đất nước. Tiếc thay, chiến thắng Long Uyên cuối mùa hè năm 40 đã làm cho quí tộc Âu Lạc tự mãn. Những người từng ủng hộ A Thi chấp chính có lý do trù trừ. Những người phản đối A Thi thì hả hê. Một đế quốc lớn vào bậc nhất gầm trời nhân loại đã bại vong dưới tay họ, cho nên họ bỗng trở nên thủ cựu và ngạo mạn một cách dễ hiểu. Các thầy cúng dưới sự chỉ đạo của Già Mị, mật truyền với từng người dân về sứ mệnh mà mẹ tổ đã trao cho Trưng Trắc, và chỉ Trưng Trắc mà thôi. Họ giản hóa chiến thắng trước Tô Định là của riêng cá nhân Trưng Trắc, là cơ sở chính thống vĩnh viễn của bà.


 


Con người tiến bộ phải thần tượng chân lý, xem chiến thắng là chân lý để gìn giữ. Ngược lại, ở đâu có thần thánh hóa một cá nhân, ở đó sự bảo thủ sẽ lấy thân mình bẻ bánh lái con thuyền lịch sử. A Thi ước ao chế độ vương pháp mẫu hệ. Phái nam trong gia tộc nên điều hành nền chính trị của vương quốc. Có thêm phụ hệ thì tốt, giải phóng sức lao động và phân chia hợp lý tài sản xã hội khiến nhà nhà giàu có hơn, đất nước hưng vượng hơn. Triều đình Âu Lạc phải là nơi tập hợp sức mạnh muôn dân, là biểu trưng cho ý nguyện độc lập của cả một dân tộc. Nếu A Thi không phải chồng Trưng Trắc, có thể ông đã làm binh biến. Nói cho cùng, mỗi nền văn minh thoát thai, quốc gia nào chẳng phải đổ máu! Tiếc là Trưng Trắc không có em trai và chưa có con trai để A Thi ủng hộ. Ông yêu bà hơn hết thảy nên đành bó tay. Ngày ngày ông cay đắng nhận chìm bi kịch của mình trong đời sống chớm xa hoa của tân đô M’linh, trong rượu chè và những trò chơi vương giả.


 


Sau rốt, chiến thắng Long Uyên đã trở thành gánh nặng cho người Âu Lạc. Càng ảo tưởng về sức mạnh của mình, càng kiêu ngạo quá lố, người Âu Lạc càng sa mãi vào chiếc bẫy của chính họ.


 


Mùa thu năm 40, Trưng Trắc tự xưng là Lạc vương. Lạc tướng khắp Âu Lạc quay đầu về M’linh bái vọng vua bà. Hợp Phố và An Biên cung tiến lãnh tụ mới của họ vàng bạc châu báu không biết bao nhiêu mà kể.


 


Trước đây người Âu Lạc nói chung không phải đóng thuế. Dân làng chỉ góp công sức và sản vật cho những hội hè lễ tiết do quan Lang tổ chức. Họ hoàn toàn được tự quyết định có làm thuê cho quan Lang hay không. Ắt phải có chèn ép, áp bức trong quan hệ giàu nghèo này, nhưng mức độ không đến nỗi trầm trọng để tạo thành một hệ thống “ăn thịt người”. Quan Lang tự nguyện nộp một phần rất nhỏ thu nhập của mình cho Lạc tướng. Bộ máy hành chính của Lạc tướng gọn nhẹ, gia tộc Lạc tướng cũng phải lao động như mọi công dân khác. Các Lạc tướng quan hệ bình đẳng, giao lưu, trao đổi mang tính chất hữu nghị.


 


Vương quốc Âu Lạc thành hình, Trưng Trắc phải duy trì lực lượng vũ trang nhất định đề phòng người Hán. Các chi họ trong gia tộc của bà chiếm nắm nhiều vị trí quan trọng trong triều đình sơ khai. Họ gây sức ép bắt Trưng vương đánh thuế thu tô, từ sông hồ biển cả đến rừng sâu. Người ta đánh đồng quốc khố với kho lẫm của một gia tộc, một phe phái, thậm chí một cá nhân. Dinh thự, công quán xa hoa, to lớn không cần thiết, được dựng lên vội vàng. Nhân dân Âu Lạc bất ngờ và chán nản, nhiều Lạc tướng lợi dụng danh nghĩa Trưng vương tận thu, tận gom của cải vật chất. Họ nộp lên thì ít, giữ lại cho bản thân thì nhiều. Tô Định bị đánh đuổi, nhưng nọc độc của y rơi rớt lại đã thấm vào tim gan không ít quí tộc Âu Lạc. Họ chuộng lụa, thích ngọc trai, rượu Hán, nên đã đè đầu cưỡi cổ dân thường, dùng sản vật đổi hàng xa xỉ với thuyền buôn.


 


Trưng vương gần như bơi trong vai trò mới, bà cảm thấy không đủ sức cai quản bộ máy quan liêu cồng kềnh,dễ dàng đẩy đưa con người đến tư lợi, tham vọng. Trớ trêu thay bộ máy này lại do chính bà đứng đầu. Bà đã từng nhất quyết không đội trời chung với ngoại xâm nhưng khi nội thù mang khuôn mặt ruột thịt thì bà cảm thấy thật nan giải.


Nguồn: Hận Lãng Bạc. Tiểu thuyết lịch sử của Trương Thái Du. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »