Rạng sáng một ngày cuối xuân năm 42, hơn ba vạn chiến sĩ nam nữ Âu Lạc ngồi trên gần hai ngàn Giao long thuyền được lệnh tiến vào biển hồ Lãng Bạc. Vì dọ thám tốt, khi tiếng trống cái của Trưng vương phát tín hiệu xung trận thì Mã Viện đã sẵn sàng.
Lâu thuyền dàn đội hình thành chữ V xuôi, lợi dụng mạn thuyền cao định áp chế Giao long thuyền thấp hơn, hầu mong bao vây và nghiền nát quân Âu Lạc. Không có cảm tử thì sẽ không thể phá vỡ đội hình Lâu thuyền, A Thi cho vài mươi chiếc Giao long thuyền đã ngụy trang kỹ rơm rạ và chất dễ cháy, tự nguyện xông vào giữa hàng ngũ Hán. Khi chữ V khép lại, cảm tử quân châm lửa rồi bỏ thuyền lặn ra ngoài. Theo chiều nước và gió, hỏa Giao long thuyền trôi về cánh trái chữ V, đe dọa nghiêm trọng hàng trăm Lâu thuyền. Mã Viện hoảng hốt phất cờ hiệu và nện trống dưới ánh đuốc, cho phép Lâu thuyền tản ra nhưng hàng chục chiếc đã bị bắt lửa.
Như vừa nhận một cái tát vào mặt, Mã lão tướng giận run người. Y chuyển qua tấn công theo một cung tròn. Ở thế gần như mặt đối mặt này, máy bắn đá kém tác dụng, máng đá hai bên mạn vô dụng. Các Giao long thuyền tiên phong chia ra một đội năm ba chiếc tấn công một Lâu thuyền. Giao long thuyền gắn mũi giáo ngầm dưới nước lãnh nhiệm vụ đâm thủng mạn thuyền Hán và đốt thuyền mình làm mồi lửa. Các thuyền còn lại áp mũi và lái, vừa bắn tên lửa lên buồm và boong giữa Hán thuyền, vừa quăng móc câu, thang dây tràn lên cận chiến. Nỏ liên châu của Hán quân tuy sức công phá lớn nhưng thao tác chậm, bị cung Âu Lạc khống chế tốt. Ngược lại, kiếm sắt Hán khá lợi hại, nhiều móc câu, thang dây bị vô hiệu hóa chỉ bằng một nhát chém.
Thuyền Hán cháy đỏ góc trời tây Lãng Bạc, át cả ánh dương đang lên ở phía đông. Tuy vậy vì phải dùng nhiều Giao long thuyền mới hạ được một Lâu thuyền, thế trường trận đã thấy Âu Lạc sẽ đuối. Mã Viện phất cờ, đánh trống xếp lại đội hình chữ V, quyết bao vây toàn bộ Giao long thuyền Âu Lạc.
Đánh rắn phải đánh dập đầu. A Thi xếp đặt một đội thuyền cừ khôi do chính ông chỉ huy, chờ cơ hội tấn công soái thuyền của Mã Viện. Mười thợ lặn mạnh mẽ nhất Âu Lạc xăm khắp mình vẩy Giao long, bí mật xuống nước đục đáy thuyền. Rất tiếc vỏ thuyền làm bằng gỗ tứ thiết (cứng như sắt) tốt nhất Lĩnh Nam, các thợ lặn thất bại. Năm Giao long thuyền đầu gắn lưỡi giáo có ngạnh vận hết lực chèo lao vào, chúng đều bị máy bắn đá đập vỡ. Tên và lao vù vù xé gió, cắm lởm chởm trong ngoài soái thuyền, Mã Viện phải ra lệnh hạ hết buồm tránh bùi nhùi lửa.
Thấy chủ tướng bị áp chế, một số Lâu thuyền xung quanh ra sức ứng cứu. Chúng loại khỏi vòng chiến đấu hầu hết Giao long thuyền nhăm nhe áp sát mạn thuyền Mã Viện. Chỉ mỗi thuyền của A Thi tiếp cận được soái thuyền, nếu không kể hai thợ lặn quyết tử bám vào bánh lái, dùng rìu tước bỏ khả năng quay trở của nó. A Thi và ba võ sĩ giỏi nhất M’linh cuối cùng cũng trèo được lên boong soái thuyền. Nỏ liên châu đã đợi sẵn họ. Những mũi tên bọc sắt oan nghiệt đã xuyên vào lồng ngực phu quân của Trưng vương. Mặt trời đã chói chang trên biển hồ Lãng Bạc tự lúc nào.
Trống đồng Âu Lạc vẫn dồn dập dùi xung trận nhưng một trong những vị dũng tướng kỳ tài nhất của họ đã tắt thở. Mã Viện hậm hực chặt đầu A Thi treo trên cột buồm cao nhất của soái thuyền. Đôi mắt ông trừng trừng như muốn thu hết cảnh trận chiến đang hồi lâm nguy. Hán quân không dám nhìn ông. Người Âu Lạc lại thấy ở đó tia sáng động viên, khích lệ và lời nhắn nhủ phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Ánh dương đỏ rực cũng phải nấp sau đôi mắt A Thi.
Tin dữ vọng về. Trưng Trắc nuốt nước mắt. Nếu đang ở trên bờ, gia tộc bà phải gõ cối, nổi chiêng báo tang A Thi. Giữa biển nước, Trưng vương đành mượn dùi trống từ tay một người lính. Bà muốn tự khiển binh, tự gióng lên những tiếng căm hờn tận đáy lòng. Tiếng trống của bà vẫn đầy dũng khí, vẫn quyết liệt, vẫn mang mệnh lệnh tấn công không ngừng nghỉ. Chiến binh Âu Lạc cắn môi, trợn mắt, chắc tay chèo, vững tay lao, hết lớp này đến lớp khác xông ra tử chiến với Hán quân.
Chiến trận giằng co và dàn trải. Dân chài Âu Lạc khắp nơi nghe trống giục vội kéo đến tiếp sức. Bất kể già trẻ lớn bé, họ xung phong bằng tất cả những gì có thể nổi trên mặt nước trong đời sống sông rạch thường nhật của mình. Thuyền nan, thúng mủng, bè nứa tràn ngập một góc mặt biển hồ Lãng Bạc, tiếng hô giết giặc xao động Hán quân.
Khi Trưng Nhị nắm lấy cánh tay rã rời của Trưng vương, khuyên bà nhìn nhận rõ tình hình, nên tính kế bảo toàn lực lượng, trời đã ngọ. Các Giao long thuyền vẫn quây lấy Lâu thuyền, những cột khói từ thuyền giặc vẫn không ngừng mọc ra, tua tủa chĩa lên từ mặt biển hồ Lãng Bạc. Bỗng nhiên, từ phía đông, tiếng trống đồng của Lạc hầu và Lạc tướng vọng đến. Đô Dương và Lê Chân bị lạc vào bãi cạn trên đường hành quân, họ chậm hơn nửa ngày so với kế hoạch. Đến nơi, lập tức hơn một vạn quân đánh dốc vào Long Uyên.
Mã Viện quá lọc lõi. Y đã phòng bị kỹ lưỡng, năm ngàn quân tinh nhuệ tại Long Uyên không bị bất ngờ. Khói đen ngùn ngụt, khói trắng báo nguy trên hỏa đài giục Mã Viện thu quân.
Hán quân chết vô số kể. Chiến sĩ Âu Lạc bỏ mình cũng không kém.
Nước biển hồ Lãng Bạc đã chuyển hẳn sang màu máu. Máu tử sĩ, bất kể chiến tuyến, đều đỏ như nhau, hòa chung nỗi niềm chiến chinh ai oán. Máu Âu Lạc khắc khoải quê hương bị ngoại xâm dày xéo, bầm tím căm thù giặc dã. Máu Hán nhân hồng màu nhớ quê hương bản quán, đen nỗi uất hận bị đế quốc Hán ném vào vòng sinh tử vì lòng tham và dã tâm nô thuộc xứ người.
***
Được khích lệ bởi tiếp viện, quân Âu Lạc đuổi riết theo Mã Viện. Long Uyên dẫu bị kẹp bởi hai gọng kềm rắn rỏi nhưng vẫn cầm cự được. Thế trận giằng co đến tối mịt.
Đô Dương và Lê Chân đến vương thuyền bái kiến Trưng Trắc.
“Nước bắt đầu xuống. Nên chăng chúng ta kết tất cả Giao long thuyền lại về phía thượng lưu, quyết tung ra trận hỏa công cuối cùng”. Lê Chân hỏi Trưng vương.
“Không ổn. Long Uyên nằm bên bờ lở. Cách bến vài tầm lao có xoáy nước đẩy ra giữa dòng rất mạnh. Hỏa lực sẽ bị cuốn cả vào đấy rồi tản mát hết”. Trưng Nhị nói – “Tôi e rằng chúng ta phải kết thúc cuộc tấn công giữa đêm nay, sức người sắp cạn”.
“Lạc hầu, ngài có ý gì không?”. Trưng vương hỏi Đô Dương.
Óc phân tích và tổng hợp nhạy bén của một nam thủ lĩnh đã cho Đô Dương kết luận rằng quân Âu Lạc càng rút lui sớm thì càng đỡ tổn thất. Người Âu Lạc phải tính đến một cuộc kháng chiến dài lâu. Nhìn gương mặt mệt mỏi, hết sức u buồn và tang tóc của Trưng vương, Đô Dương ngập ngừng, không đang tâm nói ra.
Trưng vương hiểu hết. Dù phải gồng mình với nỗi đau xé ngực, bà vẫn đủ tỉnh táo hoạch định chiến lược. Quyết định bỏ M’linh được ban ra. Toàn bộ quân chủ lực di chuyển lên căn cứ Cấm Khê. Trưng vương khuyên Lê Chân và Đô Dương lui ra biển. Tại An Biên họ phải chấn chỉnh binh lực, đóng thêm thuyền chiến, chiêu nạp lính mới chờ phản công. Trưng vương dặn dò họ rất kỹ, trong trường hợp bà tử trận, Đô Dương được nắm toàn bộ vương quyền Âu Lạc. Ông nhất thiết lui ngay về Cư Phong dựng cờ độc lập, tập hợp quí tộc Âu Lạc, giành lại tự do cho xứ sở.
Trưng Trắc giao trống mẹ thiêng liêng cho Đô Dương rồi lợi dụng bóng đêm di chuyển lên thượng lưu sông Hồng.
8.
“Tại sao kim đồng hồ quay từ trái sang phải? Tại sao kim đồng hồ luôn quay từ trái sang phải”. Cô đi tới đi lui, thì thầm tự hỏi không dứt. Anh cười ngất như đang xem một màn tấu hài ngộ nghĩnh. Thực ra chưa bao giờ anh đặt câu hỏi như vậy. Chắc chắn cô sẽ là con người của sử học, vì cô biết nghi vấn từ cái gần gũi, quen thuộc và na ná giống chân lý trở đi.
“Anh nhìn này” Cô chỉ ra sân, nơi một cây cau ta vươn thẳng lên trời. Bóng cau đổ xuống hướng tây bắc vì đang là buổi sáng. “Em giỏi chưa?” Cô hét lên. Anh ngớ người. Hóa ra bóng cau sẽ như chiếc kim đồng hồ, dịch dần từ trái sang phải nếu cô quay lưng về hướng nam. Chiều muộn bóng cau sẽ chỉ về hướng đông bắc. Nó du hành trên một cung tròn gần 180 độ góc.
Đúng rồi, xưa thật xưa con người dùng bóng nắng để đo thời gian. Với những vùng đất nằm cao hơn chí tuyền bắc, vĩ độ 23 độ rưỡi trở lên, bóng nắng luôn luôn nằm ở phía bắc các cây cột chỉ thị. Mặt trời di chuyển từ đông sang tây, bóng nắng thì ngược lại. Chiếc kim đồng hồ hiện đại có nguồn gốc như thế.
Anh bỗng nhớ lại những bài học thiên văn của một người đi biển. Bóng nắng kia nói lên rất nhiều thứ. Này nhé, giữa trưa bóng nắng luôn chỉ hướng chính bắc. Bóng nắng giữa trưa ngày Hạ chí ngắn nhất, ngày Đông chí dài nhất. Ở những vĩ độ khác nhau, độ dài ngắn của bóng nắng giữa trưa cũng khác nhau. Nếu dùng các cây cột chỉ thị cùng độ cao, người ta có thể tính ra khoảng cách hai nơi, sau khi ghi chép và so sánh bóng nắng trong một quãng thời gian đủ dài.
“Vậy… vậy thì…” Cô lắp bắp – “Phải chăng chiếc cột đồng của Mã Viện là cột chỉ thị đo bóng nắng để tính khoảng cách giữa kinh đô Hán và Âu Lạc? Nó được người Hoa Hạ chế tạo từ thời Chu, có tên là Thổ khuê”. Sự nghiêm túc của cô mới đáng quí làm sao. Hai ngàn năm rồi, sách vở thất lạc, khoa học thiên văn bí truyền nhưng có nhiều thành tựu của người Trung Hoa đã mai một. Khám phá của cô rất khó được khẳng định chắc chắn nhưng nó sẽ là một giả thuyết mới mẻ đáng nêu ra mỗi khi nhắc tới cột đồng Mã Viện. Nghiên cứu kỹ các thiên Địa lý chí của Sử ký, Hán thư và Hậu Hán thư, so sánh chúng với bản đồ thực địa hôm nay, ta sẽ thấy độ chính xác của các khoảng cách Nam – Bắc bao giờ cũng ấn tượng hơn Đông – Tây. Đo khoảng cách Nam – Bắc dễ hơn vì chỉ cần mặt trời giữa trưa. Đo khoảng cách Đông – Tây phức tạp lắm, phải chọn mặt trời bình minh và hoàng hôn hoặc quan sát các chòm sao ban đêm.
***
Bẽ gãy được quân chủ lực Âu Lạc, phá hủy rất nhiều Giao long thuyền, tuy tổn thất không nhỏ nhưng Mã Viện tự xem đã thắng lợi bước đầu. Lợi dụng thời cơ Trưng vương rút ra xa, Hán quân bắt đầu bình định các vùng xung quanh Long Uyên như Khúc Dương, An Định, Luy Lâu, Chu Diên và M’linh. Từng thôn xóm Âu Lạc chống cự quyết liệt. Quan Lang và các chiến sĩ gan dạ bị bắt làm tù binh rất nhiều. Không dụ hàng được thì Mã Viện giam lại, chờ ngày giải về bắc báo công. Rừng núi Âu Lạc mênh mông, gỗ quí bạt ngàn, Mã Viện nhanh chóng đóng bù hoặc đại tu tất cả những Lâu thuyền đã cháy và hư hỏng. Với bổ xung của ngụy quân, lực lượng Hán gần như phục hồi hoàn toàn.
Mã Viện áp dụng chính sách lấy người Âu Lạc trị người Âu Lạc. Một số quí tộc cũ của triều đình M’linh đầu Hán được bổ nhiệm làm tân Lạc tướng, được cấp ấn đồng đeo cổ. Đây mới chính là hơn nửa sức mạnh của Mã quân. Hàng vạn người phương bắc sẽ chỉ còn lại một núi xương vô hại, sau vài tháng ở Âu Lạc, vì lương thảo trữ dưới Lâu thuyền rất hạn chế. Cướp bóc trắng trợn chẳng thể bền, dân Âu Lạc sẽ bỏ hết lên rừng, để vườn không nhà trống cho Mã Viện. Mã Viện luôn khắc ghi lời dạy của vua Hán: chính thể nô lệ là đại kế, quí tộc nô lệ là trung kế, dân thường nô lệ là hạ sách, chẳng chóng thì chầy chúng sẽ nổi loạn. Trung kế của Mã Viện là mũi tên xuyên đến nhiều đích ngắm. Ngụy quan bức ép dân lành, cung phụng đầy đủ lương nhu cho Hán quân suốt hơn một năm, đến tận ngày Mã Viện hồi kinh.
Cấm Khê là vùng bờ nam sông Hồng, đoạn gần thượng lưu, tiếp giáp với cánh đồng dưới chân núi Ba Vì. Trưng vương đã chọn hành đô cho mình ở đây từ khi Mã Viện mới đến Long Uyên. Do địa thế đầm lầy, rạch hẹp chằng chịt, Lâu thuyền của Mã Viện rất khó tấn công. Nếu nguy biến, người Âu Lạc dễ dàng rút lui vào rừng sâu, vận động chiến tranh du kích.
Vấn đề nảy sinh là, cơ cấu quân sự Âu Lạc khá lỏng lẻo dưới ngôi vị Lạc vương. Trừ người M’linh trước sau vẫn theo Trưng vương, nhiều Lạc tướng không chịu nổi cuộc sống kham khổ trong chiến khu đã dần dần nhụt chí và tìm cách dẫn người của mình trốn về, khiến binh lực Cấm Khê hao hụt từng ngày.
Mã Viện một mặt tiến hành công cuộc thực dân dưới xuôi, mặt khác duy trì bao vây Cấm Khê. Không có một trận đánh lớn nào xảy ra mà chỉ là những cuộc càn quét rất giới hạn, hư trương thanh thế tối đa, tàn phá có tính toán các cơ sở kinh tế, hậu cần của chiến khu. Sách này Viện đã từng áp dụng cực kỳ thành công trước đó mười năm, tại vùng núi Bắc Sơn, Lũng Tây, đất nước của người Khương.
Sức cùng lực kiệt. Đầu năm 43 Trưng vương đành lên kế hoạch phá vây sau khi cố gắng liên lạc với Lữ Lạc tướng và Đô Dương.
Bà dự định đi xuống Cửu Chân, gầy dựng lại lực lượng cứu nước. Lữ Lạc tướng từ Phong Châu sẽ dùng bộ binh quấy nhiễu Luy Lâu, M’linh, Chu Diên nhằm thu hút sự chú ý của Mã Viện khỏi sông Hồng và biển hồ Lãng Bạc. Đô Dương cùng Lê Chân từ biển vào, vờ tấn công Long Uyên nhưng mục đích là nhập được đoàn Giao long thuyền của Trưng vương với mình.
Lữ Lạc tướng dẫn ba ngàn quân bộ xuyên rừng từ Phong Châu xuống đồng bằng. Ông áp dụng cách đánh du kích của Tây Âu, đã từng làm quân Tần thất điên bát đảo, lấy đầu chủ tướng Đồ Thư tại Hợp Phố trả thù cho quân trưởng Dịch Hu Tống. Quân Phong Châu được chia nhỏ thành những phân đội độc lập do các cừ súy dẫn dắt. Ban ngày họ hòa mình vào làng mạc Âu Lạc, đêm đến mới vận động đốt phá trại lính và cứ điểm của người Hán. Mã Viện rất đau đầu. Y điều chuyển một số ngụy Lạc tướng và ngụy binh tín cẩn đến các điểm nóng. Lũ bán nước thể hiện ngay lòng trung thành với chủ bằng cách tích cực làm chó săn, chỉ điểm. Du kích quân hoạt động mất hiệu quả thấy rõ, họ còn bị ngụy quân phục kích ngược, tổn thất khá nghiêm trọng.
Trước hôm Trưng vương rời Cấm Khê ra biển, Lữ Lạc tướng gom tàn quân gần ngàn người, đánh một trận cảm tử vào Luy Lâu. Ông giết ngụy Lạc tướng, đốt sạch hành dinh sở trị của người Hán. Mã Viện nắm sát tình hình, chỉ cử ba ngàn Hán quân từ Long Uyên đến phản công. Lữ Lạc tướng tử vong tại trận tiền, quân Phong Châu tan rã. Những người bị bắt, không một ai đầu hàng, họ chấp nhận bị đày đến Linh Lăng.
Hạ lưu Lãng Bạc, Đô Dương và Lê Chân khiêu chiến. Họ dùng thuyền nhỏ cơ động dụ Lâu thuyền đuổi theo đến những bãi cát ngầm. Lâu thuyền nào mắc cạn đều bị nướng thành tro. Nhìn cách đánh của Đô Dương và tình hình du kích trên bờ, Mã Viện đoán Trưng vương sắp mở cửa máu ra biển. Một mặt y vờ trúng kế Đô Dương, giả như tập trung hết lực lượng đối phó, mặt khác chuyển hết quân bao vây Cấm Khê về khu vực cửa Hát đón lõng Hai Bà Trưng.
Trưng vương lạc trong vòng vây của đoàn Lâu thuyền hùng hậu do chính Mã Viện chỉ huy tại cửa Hát, nơi sông Đáy thông vào biển hồ Lãng Bạc.
***
Hai Bà Trưng bỏ mình. Nhân dân Âu Lạc mất đi ngọn cờ chống ngoại xâm bất khuất. Các ổ kháng chiến lẻ tẻ khắp nơi nhanh chóng tan rã. Tháng Chín năm 43, Mã Viện tập trung hai ngàn Lâu thuyền, gần ba vạn quân đánh An Biên, giết Lê Chân. Sau đó y thẳng tiến vào Cửu Chân. Các cứ điểm của Lạc hầu Đô Dương như Vô Thiết, Dư Phát, Cư Phong lần lượt bị phá vỡ. Những người con ưu tú nhất, kiên cường nhất của Âu Lạc hết đường chống đỡ bạo quân. Họ đành thuận gió Đông bắc đã nổi, gương buồm lưu vong mãi về phương nam.
Nhằm tiêu diệt tận gốc rễ văn hóa bản địa và mầm mống phản kháng, theo đúng chính sách xuyên suốt của Hán triều, Mã Viện đã tịch thu hàng ngàn trống đồng trong các bản làng Âu Lạc. Y đập nát trống, nấu chảy đồng rồi đúc ngựa vừa để chơi, vừa gửi về Lạc Dương nịnh hót Thiên tử. Y dựng trụ đồng làm Thổ khuê đo bóng nắng, xác định chiều rộng, chiều dài mảnh đất vừa chiếm được và vẽ nó vào địa đồ Đại Hán. Cực nam Cửu Chân, Mã Viện cắm mốc đồng làm dấu biên giới mới, ngông nghênh khoác lác một ngày đế quốc Hoa Hạ sẽ làm chủ cả miền đất viễn nam, nơi nhà cửa phải quay mặt về hướng bắc để đón ánh mặt trời.
Mã Viện đã đốt phá không biết bao nhiêu ngôi nhà rông cao vút, có mái hình thuyền, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và chính trị đặc thù của xã hội bản địa. Y cấm mọi cuộc hôn nhân mẫu quyền, mẫu hệ. Y chuẩn bị lưu đày đến Linh Lăng hơn ba trăm thủ lĩnh, quí tộc đã nhất quyết không hàng Hán quân.
Ngày tiếp chỉ vua Hán phong tước Hầu, thực ấp ba ngàn hộ, Mã Viện ngả trâu mổ bò khao thưởng quân sĩ. Ngà ngà say Mã Viện bắt đầu khóc. Y nức nở: “Thế Du, em trai ta từng khuyên rằng kẻ sĩ ở đời, áo cơm vừa đủ là tốt. Xe chỉ cần loại nhỏ, ngựa nên chọn con gầy, làm một công chức tàng, giữ ấm hương khói mộ phần tổ tiên, hòa hợp với xóm làng, thế là mãn nguyện. Muốn hơn chỉ tự làm khổ tấm thân thôi”.
Trong cơn say, Mã Viện bỗng thấy cuộc đời y chẳng qua là một giấc mộng bẽ bàng. Còn trẻ, chăn dê nuôi ngựa ở thảo nguyên Bắc Địa, Viện từng tự đắc mình mang chí lớn, phóng khoáng. Gầy được gia sản hàng ngàn thú nuôi, y nghĩ đeo chúng hoài thành ra nô lệ vật chất, bèn chia hết cho anh em, họ hàng, rồi về Trung Nguyên theo binh nghiệp. Đến khi chua chát nhận rõ chân tướng tư tưởng “thay trời hành đạo” của Thiên tử nhà Hán, Viện hiểu mọi sự đã lỡ làng. Là tay chân của vua, đại tướng của triều đình, y lại âm thầm tiếc nuối cuộc sống vô lo và thanh bạch của một gã chăn dê. Mâu thuẫn quá sức và trái khoáy ấy, đã chụp xuống con người Mã Viện sự mệt mỏi, chán chường không lối thoát.
Chiến công lớn nhất của Mã Viện không phải là dẹp loạn, bình thiên hạ mà là xâm lăng, cưỡng chiếm, nô lệ và đồng hóa các dân tộc nhỏ xung quanh Trung Nguyên. Nếu ở Tây Khương y chưa nhận ra sự vô lý của chiến tranh thực dân, thì tại Âu Lạc, đứng trước gương tiết liệt của hai dũng nữ Trưng Trắc, Trưng Nhị; Mã Viện phản tỉnh và hiểu rõ sự vô nghĩa của sự nghiệp mình hằng theo đuổi. Một nửa quân số Hán đã bỏ mình nơi rừng thiêng nước độc vì bị người bản xứ giết hoặc dịch bệnh. Bao nhiêu gia đình ở hai phía tan nát, vợ mất chồng, con lìa cha. Một nấm mồ vĩ đại bị giấu dưới mặt nước Lãng Bạc âu sầu và lạnh lẽo, muôn năm không một nén hương sưởi ấm.
Chuyển biến lạ lùng của Mã Viện đã làm hết thảy Hán quân ngạc nhiên. Chủ tướng của họ ra lệnh chấm dứt giết chóc. Không những thế y còn cho lính tiến hành những công trình thủy lợi dân sinh lớn, như đào kênh dẫn nước, khơi thông rạch lầy, tháo úng đồng ruộng. Phải nói trước đây Mã Viện cũng từng sửa chữa thành quách, dẫn thủy nhập điền nhưng chủ yếu cho di dân Trung Nguyên tại Kim Thành, đất cũ của người Khương. Ở Âu Lạc, qui mô Mã Viện làm rất lớn, phục vụ luôn người bản địa. Quan quân Hán lao khổ, ca thán mãi không thôi.
Năm 44 Mã Viện trở về kinh sư. Ngoài chiến lợi phẩm và đặc sản Âu Lạc bắt buộc phải có để dâng vua Hán, y chất thêm mấy âu thuyền đầy hạt giống, cây trái, hoa quả quí hiếm phương nam. Từ Hợp Phố đến Ngũ Lĩnh chuyển qua đường bộ, Mã Viện bí mật thả bớt tù nhân. Y cấp lương thực, nông cụ và giống tốt để họ tùy cơ tìm về cố quốc, hoặc tái định cư trong cương vực văn hóa Lĩnh Nam không mấy xa lạ với người Âu Lạc. Đây là lí do một vài nơi tại Lĩnh Nam hiện nay vẫn còn một vài di tích đền thờ Mã Viện.
Cuộc chinh phục Âu Lạc là chiến dịch lớn nhất trong sự nghiệp của Mã Viện, xét theo qui mô động binh, thành quả đạt được. Có lẽ vì thẹn với liệt nữ, họ Mã đã không thổi phồng chiến tích và kể tỉ mỉ chi tiết như thói thường nơi quan trường Hoa Hạ. Hệ quả là truyện Mã Viện ở Hậu Hán thư đề cặp rất tiết lược các diễn biến Nam chinh, nó trở nên nhỏ bé khác thường với các ghi chép về chiến công trước và sau đó của Viện. Khi bạn cũ Mạnh Kí chúc mừng Mã Viện trở về từ Âu Lạc, y cúi đầu, nói cho qua: “Xưa Lộ Bác Đức đặt bảy quận, xét công chỉ phong mấy trăm hộ; nay ta thấp kém, công ít thưởng nhiều, sao có thể lâu dài đây?”.
Chăn êm nệm ấm Lạc Dương không làm Mã Viện nguôi ngoai, ác mộng Âu Lạc thường xuyên ám ảnh. Nghỉ chưa đầy tháng, nghe nói rợ Hồ cướp phá Phù Phong, Viện quyết xin vua ra trận nhằm khuây khỏa. Năm sau hồi gia, tâm bệnh cũ lại hoành hành, ai hỏi Viện cũng giấu. Phò mã Lương Tùng đến tận giường Viện thăm nom, y cũng chẳng thèm mở miệng, lại luận rằng Lương Tùng là bậc con cháu, phải giữ đúng tôn ti. Do đó họ Lương trở nên ghét cay ghét đắng Mã Viện.
Tận cùng nỗi đau cá nhân trước tên tuổi hai liệt nữ Trưng Trắc và Trưng Nhị, Mã Viện bỗng nhiên bị giáng một đòn chí tử từ nhận thức bản thân về nền chính trị bành trướng Hoa Hạ. Khởi đi từ lời dạy bảo “Tôn Chu nhượng Di” của Khổng tử, khởi đi từ trung tâm vũ lực Tần – Hán, vua chúa và quan lại Hoa Hạ mặc nhiên gán nhận mình là trung tâm đa giá trị của thế giới. Chủ nghĩa Hoa tâm khẳng định văn hóa Trung Nguyên là đỉnh tối cao giữa thiên hạ. Nó tự biên tự diễn một cách gượng ép và vô lý trong vỏ bọc lễ giáo phong kiến phụ hệ. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của các trung tâm văn minh khác, chủ nghĩa Hoa tâm khoác cho mình chiếc áo chính danh để hành ác, để nô dịch cả nhân dân Hoa Hạ trong những cuộc động binh xâm lăng không ngừng nghỉ.
Tần Thủy Hoàng xúc tiến và Hán Vũ đế đã hoàn thành cơ bản cuộc cưỡng chiếm văn minh Bách Việt. Ta là ai, nếu không phải tên đồ tể xấu xa được giao trọng trách đóng chiếc đinh sắt cuối cùng vào chiếc quan tài Bách Việt – Mã Viện trầm tưởng như vậy. Chủ nghĩa Hoa tâm chưa là mồ chôn văn minh Hoa Hạ, chỉ vì nó vẫn bí mật làm mạnh mình lên bằng huyết thống từ bọn “di mọi”, bằng biết bao cái hay cái đẹp mà nó vừa phỉ báng vừa thu lượm trên con đường đế quốc thiên lý của mình.
Khách quan mà nói, phải là một con người cao cả, có thiên tư và đạo đức mới đạt đến giác ngộ ấy. Chưa đủ hạo khí và đầu óc quang minh chính đại nhằm biến giác ngộ thành lẽ sống, Mã Viện chìm đắm trong bể khổ, chẳng khác gì một đứa con vừa hờn căm cha mình đã giết mẹ, vừa tìm cách chạy tội cho ông.
Với nhiều bộ não thực dân bẩm sinh của người Hán trong hàng ngũ Mã quân, hành động của Mã Viện là không thể hiểu được, nếu không muốn nói là phản bội lợi ích Hán tộc. Nhất thời, Mã Viện còn oai lực, uy tín, chưa ai dám đả động đến.
Năm 49, Mã Viện hơn sáu mươi tuổi lại đi về phương Nam. Phó tướng Cảnh Thư muốn theo đường sông đánh nhanh, giết nhanh, diệt chủng. Viện chần chừ rồi chọn thế núi đồn trú hy vọng kháng chiến quân tự tan rã, y sẽ bớt tội ác. Đêm nghe trống của người Lĩnh Nam, Viện dựng tóc gáy, mộng thấy Trưng Trắc rủa xả, ngã lăn khỏi chiếu. Giật mình tỉnh dậy, Viện nhớ tới những ngày khốn quẫn, lam sơn chướng khí tại Âu Lạc, đi mười trở về năm, sáu, thê lương chẳng bút nào tả hết. Lại thêm lo sợ nguy cơ thất bại, vua Hán trừng trị, công lao cả đời hoang phí một khắc, Mã Viện chẳng thiết ăn uống, người ủ rũ rồi nhiễm gió độc. Cảnh Thư nhờ tâm phúc đưa vua tấu thư tố cáo Viện dẫn Hán quân vào con đường chết, dịch bệnh hoành hành, tổn hao không biết bao nhiêu lê dương. Lương Tùng được lệnh đến trách mắng, phế chức thống lĩnh của Viện. Có người nhìn thấy đang đêm Mã Viện rủ tóc, đi chân đất, khổ sở đứng phân bua phải trái trước rừng trúc uyển chuyển lướt gió như một đoàn nữ quân. Mấy hôm sau Viện chết.
Đến lúc ấy Cảnh Thư mới cấu kết với phò mã Lương Tùng tố cáo Mã Viện phản quốc, tư lợi, giấu giếm chiến lợi phẩm chinh nam làm của riêng. Có thêm tướng cũ của Viện dẫn bằng chứng tha tù, đọa đày quân sĩ, Hán Quang vũ nổi giận thu lại ấn Tân Tức Hầu, tuyệt đường con cháu thừa tự. Gia đình họ Mã sợ quá, chỉ dám làm ma sơ sài, chôn tạm xác khô Mã Viện ở một chỗ hoang vu phía tây Lạc Dương, người quen kẻ sơ lo vạ chẳng ai dám viếng. Mãi đến năm 78, nhờ con gái họ Mã lên ngôi hoàng hậu, dăm lần bảy lượt khấu đầu xin xỏ, vua Hán bèn gửi cờ tiết phục chức Mã Viện, cho thụy Trung Thành Hầu.
9.
Lòng biển hồ Lãng Bạc, nơi Hai Bà tử tiết, hơn một ngàn năm sau được phù sa bồi đắp thành xã Đồng Nhân, Thanh Trì. Người ta truyền tụng rằng có hai bức tượng đá ngoài bãi Nhĩ Hà ban đêm thường cháy lên những ánh lửa rạng ngời. Lý Anh Tông nghe đồn, liền xa giá đến làm lễ cầu mưa, khấn niệm quốc thái dân an, lập tức được như ý. Vua vội vàng cung nghinh hai tượng đá vào bờ, dựng đền Trưng vương, bốn mùa hương khói.
***
Rạng sáng một ngày mùa xuân năm 43, đoàn Giao long thuyền của vua bà Âu Lạc lặng lẽ nép vào bờ nam sông Hồng, xuôi nước triều, dự định chia hai nhánh ra biển. Nhánh một rẽ xuống sông Đáy, đa số là thuyền nan nhẹ vì nước rất cạn. Nhánh hai liều lĩnh lướt nhanh qua Long Uyên.
Trưng Trắc và Trưng Nhị câm lặng ngồi bên nhau. Thuyền đã sắp đến cửa Hát giang. Mỗi người sẽ một ngã để tăng độ an toàn. Không phải sự bất trắc của chuyến đi làm họ kín tiếng. Rời xa nơi chôn nhau cắt rốn bao giờ cũng làm con người nôn nao khó tả. Khó tả hơn nữa là họ phải ra đi trong tình huống mất nước, sinh mạng ngàn cân treo sợi tóc. Ý chí quật khởi và niềm tin phục quốc chưa bao giờ cùn cỗi trong tâm tưởng Trưng Trắc và em gái bà, phó vương Trưng Nhị, song tình cảm đoạn ly không khỏi ai oán, trầm lắng.
Khi gió Lãng Bạc đã mơn man đoàn Giao long thuyền, Trưng vương nắm chặt tay em gái bịn rịn. Bà khóc. Trưng Nhị vốc một nắm nước Lãng Bạc để rửa lệ của chị mình. Không ai biết bà định so sánh lệ hận của quốc gia Âu Lạc với nước mắt Trưng vương, hay muốn những giọt nước mắt ấy tìm gặp linh hồn A Thi và hàng ngàn chiến sĩ đã bỏ mình vì đất mẹ.
Có tiếng gà gáy khuya, lạc lõng xa xăm đâu đó dưới một mái nhà sàn M’linh. Trưng Nhị héo hon. Loài gia cầm kia hình như cũng hiểu nỗi niềm tự do của mảnh đất này. Tự do, với Trưng Nhị chỉ đơn giản là được sống và lao động dưới bầu trời thanh bình. Tự do để được là chính mình không bao giờ có được nếu còn những con người mang tư tưởng Đại Hán. Giấc mơ đôi lứa đã xa rời Trưng Nhị mãi mãi, kể từ ngày những chiếc Lâu thuyền căng buồm đen làm chủ biển hồ Lãng Bạc.
Những mái chèo cắm vào nước không gây nên một tiếng động. Trăm con thuyền bồng bềnh lướt giữa mây và sương. Đoàn quân lưu vong hàng ngàn người im lặng như ngậm tăm. Không hẳn vì họ sợ mai phục hay sợ sợ lộ. Có lẽ trước khi mất nước, họ muốn lắng nghe hơi thở của từng ngọn cỏ, nhánh rong rêu quê hương. Ngày mai, ở chân trời xa tít nào đó, hay bị cố định bởi gông cùm đế quốc, họ vẫn còn nói được, song thật khó nghe lại lời thầm thì của đất mẹ tự do. Ra đi là để trở về, Trưng vương an ủi họ như thế khi xuống thuyền.
Đã không ai trở về vẹn nguyên hình hài. Nhưng họ vẫn trở về ở một ý nghĩa nào đấy, nhiều thế kỷ sau, trong tầng tầng lớp lớp các thế hệ Âu Lạc xả thân ra trận vì độc lập và tự do cho đất mẹ.
Chưa tròn cuộc chia phôi, ba quân Âu lạc còn đưa mắt tìm nhau trong bóng tối, bỗng bốn phía xung quanh họ, lửa đuốc, tiếng trống, tiếng chiêng của Hán quân áp đến. Đường cùng, người Âu Lạc bật lên dũng mãnh gấp mấy lần bình thường. Tên bay, lao phóng, đạn đá giáng xuống, gươm khua vun vút… những tiếng thét vỡ tan lồng ngực… Có tên lê dương phải tên trúng giáo vẫn trợn tròn mắt ngạc nhiên. Chúng không hiểu đoàn quân đói dài nhiều tháng nay lấy đâu ra sức chống cự kinh hãi đến thế.
Thêm một lần nữa mặt trời chói lọi lại mọc lên từ phía đông biển hồ Lãng Bạc. Đó là một ngày buồn nhất trong lịch sử Âu Lạc. Thêm rất nhiều máu của người Âu Lạc hòa vào màu nước Lãng Bạc. Vua bà Trưng Trắc và phó vương Trưng Nhị bị bắt sống.
Hán quân trói thúc họ lại với nhau rồi giải cả hai lên boong soái thuyền. Đầu tiên Mã Viện giả vờ lên giọng đạo đức, cuống quít la mắng tả hữu rồi sấn đến, tự tay mở trói cho hai Bà.
“Lạc vương ơi, sao bà nỡ để xảy ra nông nỗi này”. Mã Viện bắt đầu múa lưỡi thuyết hàng tù binh – “Hãy bước vào vòm trời Hoa Hạ, bà sẽ tiếp tục làm vua nhỏ xứ này. Dân Âu Lạc vẫn là dân của Bà…”.
“Nhưng đất nước Âu Lạc sẽ là quận huyện của Đông Hán phải không?”. Trưng vương nhếch mép cười khinh bỉ – “Một năm Âu Lạc chỉ hai lần triều cống thôi nhỉ. Giết hết tê ngưu, lật đáy biển Đông cũng chưa vừa lòng tham Hán đế. Lâu lâu người Hán viễn nam chinh, chặt trụi cây rừng để đóng thuyền nhé, già trẻ lớn bé xung quân hết nhé…”.
“Nhưng gia tộc Bà sẽ đời đời no ấm, con cháu trực huyết của Bà mãi mãi ăn trắng mặc trơn, ngồi mát bát vàng”. Mã Viện cười khả ố.
“Như Lưu Bang ấy nhỉ? Ngươi lầm ta với Hạng Vũ chăng?” Trưng vương trợn mắt nhìn Mã Viện. Trưng Nhị bước lên dõng dạc:
“Chúng ta không hèn như Hạng Vũ, trần tục tựa Lưu Bang. Kẻ thua thì tự cao trách ngựa, mắng trời. Người thắng lại hả hê tính kế hưởng lạc. Ngươi biết huyền thoại An Dương Vương chứ? Người Âu Lạc không quen quyền biến và biện hộ cho sự thất bại. Kẻ thù nguy hiểm nhất của An Dương Vương ngồi sau lưng ông. Làm hại Âu Lạc, làm bại Âu Lạc chính là sự lạc hậu, thiếu thức thời và đầu óc tư lợi của chính người Âu Lạc. Chúng ta phải chỉ rõ cho con cháu muôn đời, biết để mà lường. Chúng ta trót mất nước vì hạnh mỏng tài thấp. Muốn chém đầu, treo cổ hay nhận chìm thì làm mau đi, đừng phí lời”.
“Khá khen thay cho nữ tặc”. Biết không thể lay chuyển được hai Bà, Mã Viện dè bỉu – “Thấy cái chết mà không tránh, hỏi có thuận lẽ trời không?”.
“Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng ta, những người mất nước và các ngươi, lũ cướp nước, sự hy sinh là lẽ đương nhiên. Chỉ chắc rằng cuối cùng xứ sở này sẽ chiến thắng”. Trưng vương đối đáp mạch lạc. Hai bà đâu ngờ rằng hai mươi thế kỷ sau, chiến sĩ phục quốc Hoàng Văn Thụ ung dung ra pháp trường Tương Mai, ông nói lời cuối cùng với quan tòa của thực dân Pháp gần giống như những gì Trưng Vương đã thốt ra với Mã Viện. Dòng máu quí báu của liệt nữ đã không thất lạc trong suốt quá trình di truyền đằng đẵng, tròn một ngàn chín trăm năm.
Mã Viện thất vọng. Hai người đàn bà này giá trị hơn mười vạn quân. Nếu họ đầu hàng, khắp hang cùng, hẻm núi Âu Lạc sẽ nhanh chóng qui thuận Hán triều. Ngàn năm sau cũng chẳng mống nào làm phản, vì họ lấy đâu ra chính nghĩa và can đảm, mua ở đâu được tấm gương lịch sử chói ngời này. Nghĩ đến đấy, Mã Viện biết rằng kèo nài thêm chỉ tốn thời gian. Chứng kiến khí tiết của hai Bà, y bỗng thấy mình nhỏ bé và hèn mọn xiết bao. Ở dốc bên kia tuổi tri thiên mệnh, Mã Viện đã sớm “nhi nhĩ thuận,” nghe là hiểu.
Trước sự ngạc nhiên đến cùng cực của Hán quân, Mã Viện cho dắt hai Bà trở lại chiếc Giao long thuyền của vương gia Âu Lạc. Mặt nước Lãng Bạc đứng yên. Lồng lộng bóng trời xanh mây trắng. Trưng vương trỏ tay dõng dạc nói to: “Này Mã tặc. Ngươi tưởng ngươi thắng ư? Ta và ngươi còn gặp lại nhau trong những lời truyền kể muôn năm sau. Nếu không tự biết tĩnh trí tu thân, cùng lắm ngươi chỉ được nhắc đến dưới bóng râm bất tử của vua bà Âu Lạc này thôi”.
“Ta căm thù nước Hán và người Hán”. Trưng Nhị chen lời. Trưng Trắc âu yếm nhìn em gái, bà khe khẽ lắc đầu:
“Người công chính và có bản lĩnh không bao giờ ghét tổ quốc của tha nhân, tránh khích động thù hận giữa người và người em ạ. Dân Trung Nguyên cũng là nạn nhân của nền chính trị Lạc Dương. Chủ nghĩa Hoa tâm độc địa ấy không có tiền đồ, trước sau nó cũng vùi dân tộc Hán vào ly loạn và giết chóc mà thôi. Hãy phỉ nhổ Hán đế và những tên tay sai như Mã Viện là đủ rồi”.
Mã Viện xót xa nhìn hai nữ tướng. Y chợt hiểu hình thái xã hội Âu Lạc là thế giới lý tưởng của Lão Tử, của Thế Du em trai y. Mã Viện đã đang tâm hủy hoại thiên đường của những con người chất phác nơi đây. Lòng tham vô đáy của Hán đế đã biến giấc mơ khanh tướng, chinh phục và bành trướng của họ Mã thành ác mộng. Vĩnh viễn từ đó trở đi, với dân tộc Âu Lạc, với nhân loại tiến bộ, Mã Viện là kẻ tội đồ không bao giờ được tha thứ.
***
Trên bệ cao Giao long thuyền, hai chị em Trưng Trắc ưỡn ngực, ngẩng cao đầu đứng sát bên nhau. Trưng Trắc phóng tầm mắt một lượt xung quanh rồi ngước mặt lên hét to: “Đất này của mẹ tổ, trời này của mẹ tiên. Mười năm người Âu Lạc chưa giành lại được thì họ sẽ chiến đấu trăm năm, ngàn năm nhằm khẳng định lẽ phải. Làm sao đao kiếm của bọn xâm lăng có thể lấy đi được lòng can đảm và khí tiết của chúng ta”.
Giọng Trưng Trắc vang động khắp non sông. Thời gian ngừng lại khi Hai Bà Trưng buông mình xuống đáy Lãng Bạc, gần ngã ba cửa Hát.
Mã Viện thở dài. Y sai tìm mọi cách vớt xác Hai Bà để chôn cất nhằm giảm bớt sự căm thù của nhân dân, song hoài công vô ích. Có lẽ thể phách Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tan lẫn vào hồn thiêng sông núi Âu Lạc.
Hán quân đành thỉnh tạm thủ cấp khác của hai nữ chiến binh Âu Lạc, vội vã gói gém để gửi đến Lạc Dương, ngụy tạo là của Hai Bà Trưng.
Ngày nô lệ đầu tiên của Âu Lạc đã trôi qua như thế. Mặt trời sẽ lặn nhiều trăm năm…
Khởi thảo 9.6.2009
Hoàn thành 9.7.2009
Thảo Điền, Q2, TP. HCM
TTD.
Nguồn: Hận Lãng Bạc. Tiểu thuyết lịch sử của Trương Thái Du. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|