Ông giáo sư Tính ở trong tình trạng vất vưởng như thế không biết mấy ngày. Ông sẽ không lưu ý đến thời gian, nếu không có sự thay đổi đột ngột ở trong thức ăn buổi sáng thường lệ của ông: đồng bạc bánh mì và chén sữa loãng do người con dâu phục dịch đã được thay thế bằng đồng bạc xôi, lớn gần ba tàn xì-gà vứt ở dọc đường phố lớn. Người con trai ông giải thích lý do lâu nay gã không còn mua sữa được. Có lẽ sữa không hợp với tạng chất dân nghèo nên các nhà giàu đã tích trữ hết. Và những người nghèo đa sự, có những đứa trẻ thèm sữa một cách dại dột, nên mua sữa bằng một giá chợ đen cắt cổ. Suy ra như thế cũng là một cách phục vụ dân nghèo. Bởi vì, có bị mua giá quá đắt chúng mới không dám học đòi uống sữa. Nhưng khi con trai ông Tính bị đi quân dịch, thì hai ngày sau, đồng bạc xôi cho ông Tính cũng biến mất. Ông giáo sư già trước tuổi, chờ đợi mỏi mệt thức ăn thường lệ, và khi nghe tiếng đồng hồ điểm mười giờ sáng thì ông biết rằng từ đây ông đã trở thành một vật vô dụng, hơn thế, một loại báo hại đối với gia đình con cái. Sau bao nhiêu năm vắng mặt, bây giờ hai giọt nước trong veo teo tóp tích tụ khá lâu ở nơi khóe mắt mới đủ sức nặng rơi xuống gò má nhăn nheo, ghi một vệt ướt giữa lớp da đã khô cằn.
Cuối cùng, ông Lê Văn Tính không dám nhìn thẳng vào mặt con dâu, trong những bữa cơm. Ngày nào ông thấy mình luôn có lỗi với các hiệu trưởng thì bây giờ đây ông lại cảm thấy có lỗi với vợ của con trai mình. Bắt nó nuôi cơm, nuôi thuốc hàng ngày, ông phải làm gì để giúp đỡ chúng? Già yếu, bệnh hoạn, thất nghiệp, ông đã hết cả khả năng.
Nhưng một buổi sáng, nhìn ra cái nền đất trống của Gioan Báp-tít-xi-a Trần Ngọc Tẹo, ông Tính nảy ra một ý thuộc về hệ thống mới lạ chưa hề có trong tâm não của mình. Ông bảo con dâu:
- Nhà mình quá chật. Để ba nới rộng thêm ra một ít.
- Làm sao mà nới rộng được? Khéo vẽ!
- Được mà!
Rồi ông hí hoáy tháo từng tấm ván thông nhỏ, ghi dấu bằng bút chì màu cẩn thận như một họa sĩ thuộc phái tả chân vẽ tranh triển lãm, lại đóng, lại tháo nhiều ngày để cuối cùng cơi thêm được một khoảng vừa đủ kê cái giường ngủ của ông. Ở trong thâm tâm, giáo sư Lê Văn Tính muốn chứng tỏ rằng ông đã tự túc được một chỗ nằm, khỏi phải phiền quấy đến sự chật chội của nhà con ông, tuy ngôi nhà ấy từ xưa đã do tiền bạc phần lớn của ông xây cất. Dù sao trong những ngày tàn, nhờ công việc này mà giáo sư Tính bỗng khám phá được rằng ông có tài về môn toán học hơn các môn khác. Giá ông biết khai thác năng khiếu ấy từ lúc vào nghề thì chắc bây giờ ông khỏi băn khoăn về khoản chạy tiền để mua một cái lỗ huyệt phòng hờ về sau. Sự tiết lộ chậm trễ của bản thân ông về cái khả năng toán học quả không cứu vãn được gì cho sự nghiệp ông, ngoại trừ mấy thước đất trống ăn bớt của người láng giềng vắng mặt. Ông Tính sẽ còn khuếch trương hơn nữa biên giới của bức tường ván, nếu vào một hôm, ông Trần Ngọc Tẹo không kịp hoảng hốt nhìn thấy ngôi nhà láng giềng chồm sâu trong nội địa mình. Lập tức, ông Tẹo nghĩ ngay hai cách đối phó: một cách ngắn hạn là ông chặn đứng mọi sự xâm lăng bằng một hàng rào kẽm gai mà ông đã cố tiết kiệm ngày nào, và cách dài hạn là nghiên cứu ngay một sự xây cất có lợi để miếng đất khỏi sống trong tình trạng hớ hênh rất là nguy hiểm.
Sau khi hàng rào ấy được thiết lập một cách kiên cố, thì giáo sư Tính lâm bệnh khá nặng, và ít ngày sau thì ông qua đời. Có lẽ ông không còn chỗ mở mang thêm khả năng mình, cũng không còn gì để ham hố nữa. Và ông Ngọc Tẹo chẳng bao giờ ngờ rằng mình đã dùng kẽm gai kết liễu nhanh chóng cuộc đời hiền lương, mẫu mực của một nhà giáo từng phục vụ nghề trên ba mươi năm, chưa bao giờ dám xin phép nghỉ ngơi một tuần ròng rã, cũng chưa bao giờ bất kính dám mở cái miệng mô phạm để đòi tăng thêm tiền giờ.
3
Về cái biện pháp thứ hai, là sự xây cất, ông Tẹo tìm hỏi ý kiến một người bà con bên vợ là ông Tám Tàng, thuộc loại quân sư, “cố vấn sinh hoạt”, chuyên bán ý kiến tạp nhạp về đủ mọi ngành, mọi nghề, để lấy la-ve, củ kiệu dùng ngay tại chỗ. Sau khi quan sát tình hình, Tám Tàng vừa nhậu vừa bảo:
- Đất này mà mở một nhà bảo sanh, thì hốt bạc cắc. Cứ xem chung quanh, có biết bao nhiêu phụ nữ lẳng lơ mà có cái nhà thương đẻ nào đâu? Đại phàm bị một chuyện gì thôi thúc mình còn cắn răng nín được, nhưng còn đau đẻ thì có trời can cũng cứ chịu thua. Mở nhà bảo sanh, ở địa điểm này, là coi như nhốt hết các bà chửa quanh vùng vào đó. Thử hỏi, đến hồi đau đẻ, họ chạy đi đâu cho thoát?
Ông Tẹo tán thành ý ấy và nhìn thấy trước viễn ảnh phát đạt của nhà bảo sanh tương lai. Ông đem dự định thảo luận với vợ, và bà Tẹo đang có chửa vào tháng thứ năm, lấy làm vui vẻ tiếp nhận ý kiến của chồng. Bà nghĩ rằng xây cất xong, bà sẽ có dịp long trọng khai mạc nhà bảo sanh ấy một cách cụ thể, để làm gương cho những phụ nữ khác noi theo.
Người ta bèn xây một nhà hai tầng. Ở dưới có một văn phòng để tiếp các bà sản phụ xem thai và tám căn buồng, mỗi căn vừa đủ kê giường cho người đẻ nằm, với một chiếc bàn rất nhỏ để chai và chén, kèm một hình vẽ ông tướng nhà trời mặt mày vằn vện để uy hiếp sự rặn đẻ cho mau thông suốt. Một cái thang gác xây bằng bê tông cốt sắt cho thật kiên cố chạy rất xuôi dài để đưa các bà bụng mang dạ chửa lên cao trong sự bảo đảm hoàn toàn. Thang gác lại có tay vịn rất thấp và chắc, điểm từng trụ nhỏ để có bà nào leo thang quá mệt có thể bấu víu vào đó mà thở cho được bình an. Ở trên, tương đối mát hơn, chia làm mười hai phòng nhỏ, sáu phòng có cửa mở về hướng đông, sáu phóng có cửa mở về hướng tây. Như thế sản phụ có thể ngắm mặt trời mọc hay lặn để quên bớt sự đau đớn. Đó cũng là một phương pháp tối tân, loại đẻ không đau, theo cách khai thác thiên nhiên, vay mượn rất nhiều phương pháp tìm hứng của các thi sĩ. Với mười tám phòng, ông Tẹo tin rằng có thể cung cấp chỗ nằm đủ cho cả ngàn phụ nữ trong xóm, kể cả những người có chồng, hoặc không có chồng rõ ràng.
Để làm vẻ vang cho cơ sở mói, ông Tẹo dựng một bảng hiệu khá lớn, sơn màu thiên thanh là màu hi vọng - hi vọng chóng giàu hơn nữa - với cái tên đề rất ư khuyến khích: Bảo sanh Đại phước tô bằng chữ vàng, tròn cạnh, y hệt như các thoi vàng năm lượng do các máy bay mang lậu từ Hồng Công về.
Đến ngày khánh thành, ông Tẹo hân hạnh đón tiếp một người đàn bà đầu tiên hăm hở đến đẻ nhưng không trả tiền, đó là bà Trần Ngọc Tẹo. Bà Tẹo đẻ đứa con thứ mười bốn nên xem chẳng khó khăn gì, cũng chẳng cần ngắm mặt trời, vì đẻ vào lúc nửa đêm. Tóm lại, một sự khai mạc dễ dàng như vậy không thử thách được khả năng của các cô đỡ nên xem bà Tẹo không mấy hài lòng. Nếu bà đẻ được khó khăn như lần thứ nhất, vừa chửi vừa rủa ông Tẹo không thiếu lời thô tục nào, vừa huy động được toàn thể chuyên viên đỡ đẻ nhốn nháo túc trực quanh mình, thì sự khai mạc có thể gây nên đình đám xôm trò, hơn cả quảng cáo rùm beng trên báo hay trên màn ảnh. Nhưng sau bà Tẹo hầu như không có ai chịu hưởng ứng. Ông Tẹo đi rảo quanh xóm, sốt ruột nhìn ngắm nơi bụng các bà một cách tuyệt vọng. Mọi người có vẻ phớt tỉnh, với cái bụng kém nở nang, với cái dáng đi không có gì là nặng nề và ông Ngọc Tẹo lấy làm xót xa hết sức cho sự lười biếng sinh đẻ của dân tộc mình. “Cái họa diệt vong coi như cầm chắc, cầm chắc…” ông Tẹo nhủ thầm, và bận tâm về quốc gia xã hội như nhiều chính khách đột ngột lo đến nước nhà, qua cái mức độ sinh lợi bỗng nhiên sút kém của gia đình mình.
Quang cảnh của nhà Bảo sanh Đại phước hết sức tiêu điều và các cô đỡ lộ vẻ chán nản rõ rệt. Nhiều cô ăn xong, lên giường nằm dài nghỉ ngơi và thở sườn sượt như người sản phụ mệt mỏi. Ban đầu, họ còn hài hước độn gối tai bèo vào bụng, giả làm các bà sắp đẻ, rồi gào lên chửi bậy bạ người chồng tưởng tượng để sau đó cười ầm ĩ với nhau cho qua những phút nhàn rỗi. Nhưng cái trò ấy không thể đùa dai và dễ đem lại kết quả buồn thảm về mặt tâm lý, họ bỗng ao ước được đẻ thật sự, nhưng có hô hào đến bao nhiêu nữa cũng chẳng có gì để đẻ. Chán rồi, họ ngủ thiếp đi trên các giường sắt và khi ông Trần Ngọc Tẹo chân ướt chân ráo đến thăm, hí hởn mừng hụt, lầm tưởng bà con lối xóm bắt đầu chiếu cố thiết thực cơ sở kinh doanh khai thác của ông.
Giữa lúc ông Trần Ngọc Tẹo định phát động một chiến dịch quảng cáo cho thật rầm rộ, vừa kêu gọi các thân bằng quyến thuộc đến đẻ với giá hạ thấp sáu mươi phần trăm, thì ông thấy nhiều cơ sở cao lớn được xây cất lên với chữ Bảo sanh lồ lộ như sự khiêu khích ngang tàng. Những tòa nhà này kiến trúc đẹp đẽ với lầu năm tầng - làm như các đàn bà chửa thích chuyện trèo cao - và trang bị nhiều máy móc tối tân như lời quảng cáo đăng trên báo chí và dán ở các trụ đèn. Tất cả mặt tiền đều bằng đá hoa bông lợt với những cửa sổ xanh lơ và những cửa kiếng long lanh trông thật ưa nhìn. Ở trong có phòng máy lạnh, giường đều lót nệm, đủ chỗ rộng rãi cho mẹ, cho con và cả cho cha chúng nó đến nằm canh chừng. Nhìn cái tủ kính đồ sộ chứa đầy hộp thuốc đủ loại nhưng khóa rất kỹ nên không ai biết bên trong có thuốc hay không, và nhiều chậu bằng thủy tinh đựng nước vàng hoe trôi nổi bập bềnh những cái bào thai như muốn gợi cảm cho những cô nàng chưa quen với chuyện sinh con. Có những lồng kính ở trong nhốt những đứa trẻ đỏ lói, nhỏ chút, sinh nở thiếu tháng nhưng được nuôi dưỡng bằng những ống chuyền ăn thông ra ngoài để chờ cho nó đủ ngày… Trên các bức tường có nhiều hình vẽ ruột gan đàn bà lằng nhằng, ngóc ngách, chứng tỏ chửa đẻ là sự khó khăn cần phải đưa đến ngay tại nơi đây săn sóc. Các ruột gan ấy có nhiều mũi tên chạy ra, đâm vào các chữ khá lớn chung quanh, như tuồng chữ nghĩa cũng là kẻ thù của đàn bà đẻ.
Xem qua một lượt bên trong các tòa nhà ấy thì thấy sự sinh đẻ cũng công phu nhiều và lý thú lắm. Nhiều bà, nhiều cô sau khi vào coi cho biết, đều tỏ ý muốn thử đẻ một chuyến xem sao. Ông Trần Ngọc Tẹo có đủ khiêm tốn để hiểu Bảo sanh Đại Phước của ông, dầu được cổ động bao nhiêu cũng chẳng có ai chịu đẻ, kể cả đẻ không mất tiền, hay là theo lối mua một biếu một như dầu cù là. Thái độ khôn ngoan cao nhất ở đời là phải nên biết rút lui cho sớm, khi mình không thể tới được. Đó là châm ngôn của những người tướng cầm quân, của những chính khách, của những chàng trai hỏi vợ, và của ông Tẹo. Lập tức, ông đi thỉnh vấn TámTàng để có dịp qui trách nhiệm về sự thất bại vừa rồi. Tám Tàng vội vàng cắt nghĩa ế ẩm là do xây cất ngôi nhà Đại Phước mà không tra cứu lịch Tam Tông Miếu, rồi giúp ông Tẹo mở một lối thoát bằng lời khuyên nhủ như sau: mở ngay một trường có cả mẫu giáo, tiểu học và cả trung học. Học trò sẽ học từ nhỏ đến lớn ở tại trường mình, khỏi cần đi đâu cho mệt. Đã có các nhà bảo sanh đồ sộ mọc ở chung quanh cung cấp học trò lai rai, dạy hoài không hết, thế nào cũng phát đạt to.
4
Ông Trần Ngọc Tẹo cho rằng từ nhà bảo sanh chuyển sang trường học là một phát triển hợp lý, không có gì trái ngược cả. Hơn nữa điều khiển trung tâm giáo dục cũng vẻ vang hơn điều khiển trung tâm sinh đẻ. Về mặt kiến trúc, ngôi nhà Đại Phước nom cũng ra dáng một cái trường học, chỉ cần phá những rào cản các căn buồng nhỏ là có những lớp học lớn. Số giường thặng dư sẽ đem đổi lấy bàn ghế, vì ở Sài Gòn không thiếu những vị chủ trường muốn biến trường học thành nhà bảo sanh hay là khách sạn. Ông thực hành liền ý định, và một tuần sau đã có một tấm bảng lớn với cái tên hiệu Chấn Hưng học đường kẻ bằng màu gạch rất tươi trên một nền xanh rất đậm.
Trong lúc chờ đợi giấy phép chính thức, ông Tẹo kiểm điểm lại số bạn cũ và bắt gặp được ông Lê Thành Tài, ở giữa quãng đường hồi tưởng.
Ông Tài là người có bằng cấp lớn, đã từng du học nhiều năm ở tại nước ngoài và đọc nhiều sách đến nỗi quên hết việc đời. Để giúp đôi mắt của mình có thể nhìn rõ thực tế hơn nữa, ông mua một loại kính trắng khá tốt có thể nhân các sự vật to mười lần hơn, nhưng ông vẫn không thành công bao nhiêu trong những công ăn việc làm, bởi vì những sự thuận lợi được phóng đại thêm mười lần, thì những khó khăn cũng không vì thế mà nhỏ bé hơn. Nhưng điều mà ông lấy làm tự hào là mối nhiệt tình của ông đối với lý tưởng giáo dục không hề suy giảm trải qua bao nhiêu biến cố dồn dập của xã hội này. Trái lại, trước những sự kiện mà các nhà lý luận học gọi là sa đọa của thanh thiếu niên thì ông càng thấy hăng hái hơn lên. Trong lúc bạn bè của ông vừa thổi xúp-lê vừa gào ở trên mặt báo cấp cứu cho thế hệ trẻ thì ông lăng xăng chạy từ Sài Gòn lên Chợ Lớn và từ Chợ Lớn về Sài Gòn gõ cửa các tòa nhà lớn ít có người ở, muốn thuê với giá thật rẻ để mở trường học phổ biến văn hóa, tuyên truyền đạo đức. Bất cứ nơi nào người ta cũng đón tiếp ông một cách lạt lẽo, một sự lạt lẽo làm bằng hơi thở và chút nước miếng, chứ không được bằng một tách trà nóng nhãn hiệu Con Cua là thứ rẻ nhất ở thành phố này. Nhiều người ưa giữ nhà trống để nhốt kỷ niệm, hơn nhốt học trò. Một số chủ nhân của những biệt thự vừa nghe mở trường đã vội xanh mặt giương mắt trừng trừng nhìn nhà trí thức họ Lê như nhìn một con quái vật bỗng nhiên nói được tiếng người.
Rốt cuộc, về nước trên hai mươi năm, ông Lê Thành Tài vẫn chưa mở được một ngôi trường nào. Ông cũng không chịu đi dạy cho một trường sở nào khác, vì muốn tự mình tổ chức lấy một trường trại theo ý của mình mới bỏ hơi phổi đem ra xài phí hàng ngày. Khi ông Ngọc Tẹo đến tìm ông ở nhà riêng thì ông đang ngồi phác họa một trường kiểu mẫu trên mảnh bìa cứng theo một kích thước vô cùng lớn lao. Chấn Hưng học đường không được lớn lắm, đó quả là điều đáng tiếc, nhưng mang gương vào ông Lê Thành Tài có thể bằng lòng. Sau khi thảo luận về các điều kiện hợp tác, ông Tài cùng với ông Tẹo gặp một mâu thuẫn không sao giải quyết. Ông Tài thích có một trường lý tưởng với một sĩ số hạn chế, theo một kỷ luật tuyệt đối, dạy bằng những phương pháp mới, trái lại ông Tẹo thích có một trường rất đông, càng đông càng tốt, không cần kỷ luật, trừ khoảng kỷ luật áp dụng cho việc đòi tiền học phí, và dạy bằng những phương pháp cũ nhất để các nhân vật cao cấp ở tại cơ quan giáo dục khỏi lấy làm điều phiền muộn. Rốt cuộc, sau trọn ba giờ trao đổi, hai người bạn cũ của thuở thiếu thời bỗng đâm ngơ ngác nhìn nhau, vì họ nhận thấy chưa hề quen biết với nhau bao giờ. Ông Lê Thành Tài chua chát nghĩ thầm: “Tiền bạc đã làm cho nó hư hỏng hết cả tinh thần”. Ông Trần Ngọc Tẹo khó chịu, tự bảo: “Sách vở làm cho thằng ấy lệch lạc tâm não”. Và hai người bạn, mỗi người trở thành tàn tật dưới cặp mắt của người kia. Vốn là một kẻ thực tế, ông Trần Ngọc Tẹo cuối cùng nén giận bảo ông Thành Tài như sau:
- Ý kiến chúng ta cóvẻ mâu thuẫn nhưng tôi tin rằng sau một thời gian ta sẽ gặp nhau. Tôi xin nói rằng lúc mới bước chân vào đời, tôi cũng có những quan niệm ở chín tầng mây như là anh vậy. Đó là những thứ tư tưởng tuyệt vời nên đem ngâm muối phơi khô và cất ở trong lồng gương, thỉnh thoảng mang ra ngắm nghía giải sầu. Nếu không, thì sớm muộn gì thực tế của xã hội này sẽ đốt cháy tiêu mọi thứ ý tưởng siêu phàm, đến nỗi khi người ta nói những chuyện cao thượng, hoa mỹ là để che giấu những chuyện thấp hèn và xấu xa nhất. Tôi không dám nghĩ rằng tôi có lý hơn anh, nhưng tôi tin rằng sau một thời gian đi vào thực tế, anh sẽ hoàn toàn đồng ý với tôi. Trong lúc chờ đợi một sự gặp gỡ có thể xảy ra sau này, bây giờ tôi đề nghị một biện pháp dung hòa: tôi cho thuê trường với giá phải chăng và anh tự quyền khai thác. Anh muốn xây dựng theo lý tưởng nào cũng được, hoặc muốn kinh doanh theo kiểu cách nào cũng tốt, miễn là hàng tháng anh trả tiền trước cho tôi. Ít nhất tôi cũng đỡ phải lo âu về sự thất bại có thể xảy ra ở trong tháng ấy, và tôi chỉ phải hồi hộp trong mấy ngày đầu khi chưa nhận đủ số tiền.
Ông Trần Ngọc Tẹo đã dùng lời lẽ chân thật nói với ông Lê Thành Tài vì ông hiểu với những người lý tưởng như vậy lời nói giả dối là không cần thiết. Ông Lê Thành Tài cảm động, chấp nhận lời đề nghị ấy một cách sốt sắng. Từ đó, Chấn Hưng học đường đã có một ông hiệu trưởng lý tưởng, và nó bắt đầu đi vào một giai đoạn mới.
5
Về việc quản trị, ông Tài cố tìm một người thư ký có sức quán xuyến và một giáo ban cho thật đắc lực. Một vị chú họ bên vợ của ông giới thiệu ông Huỳnh Văn Xu là người có cái khả năng đánh máy một ngón tay mặt – còn bốn ngón kia luôn sẵn sàng trong trình trạng trù bị, trong khi năm ngón tay trái thường xuyên bấu chặt bàn máy như sợ có kẻ bất lương giật lấy đem về bán xôn. Một người như vậy đúng là kiểu nẫu của sự cẩn thận, có thể kết hợp làm ăn lâu dài. Hơn nữa, tất cả nhân vật lý tưởng ở xã hội ta đều rất thích nghe lời vợ, dĩ nhiên là cả bà con bên vợ, nên ông giáo Tài vội mời ông Xu về làm thư ký cho trường.
Ông Xu là người rất đáng tin cậy, trừ khoản bốn vợ và tật nói dối. Với bốn người vợ, ông đã có bốn sở làm bận rộn nhất trên thế giới, nhưng cũng chính vì có bốn sở ấy nên ông phải làm thêm nhiều sở khác mới đủ ăn xài. Ông đã bỏ quê lên tỉnh, vì không chịu nổi đại bác mỗi đêm cứ bắn “chéo! chéo” ở trên nóc nhà mà không có một phát nào rơi trúng chỗ giường ông nằm. Tất nhiên, đối với một người chẳng có nhiệm vụ nào hết như Huỳnh Văn Xu thì bắn không trúng làm cho lo sợ hơn là bắn trúng. Trái với nhiều người chủ ruộng, chủ đất mênh mông, khi lên Sài Gòn lánh nạn chiến tranh thường giấu nguồn gốc giàu có của mình để dễ làm các nghề nghiệp mà họ gọi là “hạ đẳng”, ông Xu hay khoe khoang cái gia tài lớn lao mà ông bắt buộc bỏ lại ở sau lưng mình. Cứ theo lời ông thì gia sản ấy có đủ mọi thứ sản vật quí giá, ít ai lường được. Khi nghe nói đến dừa Xiêm, thì ông có dịp thở than về mấy chục mẫu dừa Xiêm bỏ hoang ở tận dưới quê. Nghe nói cá lóc thì ông tiếc rẻ mấy cái ao mênh mông nuôi toàn cá lóc bây giờ phó mặc trời đất. Ăn đến thịt bò là ông chạnh lòng thương mấy đàn bò ở tại quê nhà, nếm phải thịt heo là ông đau khổ cho những heo nái to bự như voi ở nơi làng cũ. Nhà tại Sài Gòn, dầu ở lầu tư, lầu năm cũng không mát bằng mấy ngôi nhà lớn của ông dựng nơi bờ sông miệt vườn. Con gái Sài Gòn, dầu có tô son điểm phấn bao nhiêu cũng không đẹp bằng mấy cô thôn nữ làng ông, với cái màu da thiên phú và đôi môi đỏ di truyền... Những sự tiếc rẻ của ông đều được mô tả tỉ mỉ, nên có nhiều kẻ nghe xong, tỏ ra hết sức xúc động, một hai ước hẹn với Huỳnh Văn Xu sẽ về quê ông nếm hết một lần cho biết các món đã kể, nếu ngày nào đây đất nước trở lại bình yên. Ông Xu chấp nhận mọi lời giao kết với một thái độ niềm nở vì ông không tin nước Việt Nam này sẽ được hòa bình. “Có họa là Tết Ma-rốc mới hết chiến tranh!” đó là ý kiến của Huỳnh Văn Xu đối với thời cuộc. Nhưng những điều ông tiếc rẻ đều toàn là những sự thực, nhưng là sự thực của những người khác, những người đã phải chịu đựng bao nhiêu thiệt thòi về trận chiến này bằng một thái độ im lặng ngầm chứa chất nổ oán hờn.
Ông Xu, sau khi lựa chọn trong số bốn vợ, bèn đem bà vợ thứ tư đến ở tại trường với mình, bởi vì người vợ sau cùng bao giờ cũng là người vợ quí nhất. Vốn biết tính chất lý tưởng của ông hiệu trưởng, ông Xu thiết lập ngay một văn phòng lý tưởng, có đủ bàn ghế cho hai chục giáo sư ngồi, với một bàn nước, bàn phấn và hai tủ kính chầu chực bên một bàn giấy gồm có chín hộc, mỗi hộc có một chìa khóa chính thức và một chìa khóa dự bị. Hai tủ được chia như sau: một tủ đựng các loại sách giáo khoa nổi tiếng, có nghĩa là in rất dày và có bìa tô nhiều màu, một tủ đựng các hồ sơ học trò cùng các dụng cụ văn phòng. Trong chín hộc bàn dành riêng cho Huỳnh Văn Xu, thì hộc chính giữa để sổ học phí và các biên lai, tám hộc còn lại chứa tiền, hộc thì dành cất bạc giấy năm trăm, hộc bạc hai trăm rồi đến một trăm, bạc lẻ bằng giấy, bạc lẻ bằng đồng. Nhận thấy chính phủ có lòng si mê đặc biệt đối với các loại bạc mới và đang chuẩn bị cho ra nhiều loại bạc mới khác nữa, ông Xu để dành hai hộc dự trữ đặng mà kịp thời hưởng ứng. Mỗi nơi, mỗi chỗ, đều có nhãn hiệu làm bằng bìa cứng màu trắng, viết những chữ đen hay đỏ chỉ dẫn đó là tủ sách hay là bàn nước, ghế của hiệu trưởng hay ghế thư ký, hầu để tránh mọi lầm lẫn đáng tiếc. Tất nhiên, các hộc để tiền thì không có nhãn hiệu nào, làm như trong các chỗ ấy không có chứa chấp gì hết. Ông Xu còn bày vẽ ra lắm sự bày biện khác nữa, nhưng vì ông Lê Thành Tài có nhiều lý tưởng hơn là tiền bạc, nên mọi sáng kiến đều phải hạn chế thực hiện.
(còn tiếp)
Nguồn: Ngôi trường đi xuống. Tiểu thuyết, rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|