Phần I. MỘT
Chiếc xe đò đỗ bên rệ đường, mệ Lê khom người bước xuống. Anh lơ xe thâu tiền xong đập tay "bùng, bùng..." vào thùng xe, miệng hét: "ch...aa...chạy!", chiếc xe phụt đám khói đen sì, tiếp tục bò lên dốc. Mệ Lê đeo giỏ trái cây đầy ụ đi vào cổng ngôi nhà tranh vách đất nằm trong vuông sân rộng, sát lề con đường nhựa chạy thẳng tắp từ ngai vàng vua Gia Long trực chỉ hướng chính Nam. Một thiếu niên trạt mười sáu tuổi, đang cúi nhặt những viên đá, sỏi lụn vụn quanh quất trong vuông sân hình chữ nhật, thấy mệ Lê liền bưng rổ đá còn vơi đổ vội xuống đống gần đấy, chạy ào ra :
- Mệ Lên!
Trong nhà một người đàn bà chừng ba mươi sáu tuổi đang cắm cúi ngồi may. Bà ngẩng đầu lên theo tiếng gọi cậu thiếu niên, lúc này mới rõ một khuôn mặt đôn hậu quê mùa bởi cái miệng hơi hô ra trước. Người đàn bà dừng may, gọi:
- Mạ!
Mệ Lê không gật đầu, không chào lại, xăm xăm đi thẳng vào nhà, bỏ giỏ trái cây xuống nền đất, kéo chiếc ghế đẩu, ngồi xuống cái thịch, rồi giở chiếc nón ra quạt, miệng nói:
- Nóng quá!
Cậu thiếu niên đi xuống bếp, đi lên bưng một ly nước chè trong cái ca nhựa "Phi - Luật - Tân" dày cứng, màu nâu cũ sì, mời:
- Mệ uống nước.
Ba đứa bé trai nhỉnh hơn nhau xấp xỉ nửa cái đầu, ở đâu sau vườn nghe tiếng nói chuyện trong nhà chạy vào, thấy mệ Lê chúng nhao lên:
- Mệ, mệ.
- A mệ!
- Mệ Lên!...
Mệ Lê thả chiếc nón xuống nền nhà, choàng tay vòng ôm hai đứa nhỏ vào người và gọi thằng lớn mặt mày lem luốc mồ hôi đang đứng thở giữa nhà cười cười:
- Cháu lấy ổi chuối chia cho em, để phần mấy đứa chưa về. Chút mẹ bây xẻ mít cho ăn.
Ba đứa nhỏ tranh phần quà ít nhiều... Người đàn bà rời khỏi cỗ máy may, đến kéo ghé ngồi bên mệ Lê. Mệ Lê hỏi:
- Thằng Chắc chạy máy hả Gái?
Người đàn tên Gái trả lời:
- Dạ, mấy tháng nắng ba nó ở dài ngoài ruộng luôn mạ.
Ông Chắc chồng bà Gái làm lao công ở Ty công chánh thị xã. Ông võ vẽ biết sửa xe máy, nhà bố mẹ ông trưởng ty ở quê có mấy mẫu ruộng, năm nào mùa hạn ông trưởng ty cũng sai ông Chắc ra quê ông, ăn, ngủ luôn ngoài ruộng trực máy bơm nước, coi sóc máy, châm dầu, chạy máy cho nước vào ruộng cứu lúa. Ông Chắc chạy máy nước cho gia đình ông trưởng ty vẫn được hưởng lương công nhật như làm lục lộ.
Bà Gái nói:
- Nhà cửa xiêu vẹo mạ không thuê người che chắn cho kín đáo, đổ tiền ra xây am làm chi?
- Mẫu phán mạ phải làm lính chầu hầu ngài, không thôi ngài bắt về xách giày xách dép? Mạ làm thủ am đặng lộc bà nuôi cái thân già tiệt tự vô dư...
Mỗi lần mệ Lê và bà Gái ngồi với nhau, cuộc chuyện trò mới đầu diễn ra đằm thắm: "mạ... mạ... con.. .con..." nhưng một lát lại cãi nhau!? Thường, mệ Lê nặng nhẹ: "Tui tiệt tự vô dư..." rồi vùng vằng cắp nón le le đi về. Những lúc ấy bà Gái sợ đụng vào nỗi đau thâm căn của mẹ đành im bặt. Bà Gái giả lơ đãng nhìn ra đường... Vi đứng bên nghe chuyện, biết bà ngoại lên mượn tiền của mẹ để xây am.
Bà Gái lại nói:
- Tiền con dành xây nhà, mạ coi nhà con cũng phải chống rồi, sang năm con xây nhà mạ bòn đưa cho con nghe.
- Có khi nào tau không trả cho bây đâu mà bây dặn dò rào trước đón sau như người dưng vậy?
- Dạ... thì con nói chừng cho mạ lo. Ba nó đang đúc "tập - lô", ngày nào ông cũng sai mấy đứa lớn lượm sỏi, sạn quanh vườn dồn đống, ông chạy máy về là xăn tay áo đúc liền.
Mệ Lê không nói gì thâem, mệ thấy Vi đứng gần đấy, hỏi:
- Cháu nghỉ hè rồi hử? Về mệ chơi!
Vi mau mắn:
- Dạ.
Mấy đứa nhỏ ăn ổi rạo rạo... nghe về ngoại chúng nhao nhao đòi về... Bà Gái quát:
- Sông hói bất đầy đi, ai rảnh ngồi không giữ tụi bây? không đứa nào về hết, để anh bây về dọn vườn cho mệ, chớ tưởng về chơi hả?
Thật ra, ba đứa nhỏ chẳng thích chốn thôn quê tù mù ánh đèn dầu, chúng "a dua" đòi vui vậy thôi. Nghe mẹ không cho, chúng ỉu xìu một tý, rồi mỗi đứa cầm phần quà của mình, chạy trở lui sau vườn, tiếp tục cuộc chơi, không biết chúng chơi gì mà nhí nhóe, ì xèo tranh nhau, cãi nhau lắm thế?
Bà Gái ngồi hẵn dưới nền đất cứng câng lột những múi mít dừa ứa mật lên dĩa, dặn mệ Lê:
- Về dưới mạ đừng cho nó trèo cây. Bị té hồi Quảng Trị chừ còn long đầu nơi ơ.
- Tau biết rồi!
HAI
Lâu nay, mệ Lê sống lậm lụi một mình trong ngôi nhà tranh vách đất giữa khu vườn cây cối rậm rịt như góc rừng nguyên sinh bên đuờng làng và dòng sông nhỏ. Con cháu mệ chỉ có bà Gái và đàn cháu ngoại của mệ là Vi và bảy đứa em của Vi. Trong đàn đứa con của bà Gái đã sinh còn nguyên vẹn, cả tám đứa đều do một tay mệ đỡ để, nuôi con cháu trong tháng ở cử. Mệ Lê cưng chìu Vi nhất, một phần Vi là cháu đầu, một phần mệ nuôi Vi từ trứng nước cho đến gần tuổi thành niên. Hồi ở Quảng Trị đêm nào Vi cũng đòi ngủ với mệ. Mê không có con trai, trong thâm tâm mệ thương Vi như con một của mệ, cái gì ngon, cái gì tốt, mệ vẫn giấu các em Vi và đôi khi cả bà Gái, dành cho Vi. Một bận hè về, mệ thường lên xin Vi về làng ở với mệ cho nhà đỡ trống trải.
Sau bữa cơm trưa, Vi theo mệ Lê nhảy xe đò qua chợ Đông. Xuống xe, hai bà cháu đi vòng lui sau đình chợ chờ phà sang đập; lên đập hai bà cháu tiếp tục lội bộ hơn ba cây số theo con đường đất lơ mơ hoa nắng toả xuống từ những luỹ tre ken dày hai bên đường mới đến nhà mệ. Đến ngõ, mệ Lê phăng dưới gốc bụi chè tàu, quơ quơ tay lấy chùm chìa khoá, mở khóa, mở cổng tre, kéo qua bên, cùng Vi vào nhà. Vào đến sân, Vi thấy chiếc chõng tre dưới gốc vú sữa mát rượi liền ngả người nằm dài ra...
Năm bà Lê đã hai mặt con, ông Lê nghiện thuốc phiện. Ông bảo bà bồng con theo ông viễn xứ bên Lào. Rừng núi Lào thổ sản thuốc phiện. Người Mẹo Lào thường trồng cây anh túc trên bãi đất trống giữa những khoảng rừng lưng chừng núi trên dải Trường Sơn mù mờ sương lam chướng khí, để lấy thuốc phiện. Tới mùa thu hoặch họ thích ngoài lớp vỏ trái già giống quả lựu nhỏ mọc ngược lên trời chiết lấy nhựa. Họ đi nương rẫy, luồn rừng, thăm bạn, lúc nào cũng lủng lẳng bên hông một con dao và ống tre đựng thuốc phiện đen kịt như cao dán. Những gia đình tán gia bại sản vì nàng tiên nâu như ông Lê, phải sống tha hương ở nhũng vùng núi non đất Lào, dễ kiếm thuốc phiện qua cơn vật vã. Năm, sáu năm trôi qua trên đất khách quê người, bà Lê chịu trăm nghìn cơ cực vẫn không đủ nuôi con, có bao nhiêu ông Lê nằm bẹp xác đốt hết! Bà đành, hông nách thằng cu Định mới lên ba, bé Gái sáu tuổi chạy lon ton sau lưng mẹ, về quê. Bà để lại cho ông Lê người con trai đầu là cu Trai mười hai tuổi, để ông sai bảo, điếu đóm lúc đêm hôm...
Bà Lê đưa hai con tá túc ở xóm Heo thị xã Quảng Trị, quê nội của bà, nhờ mẹ lúc bơ vơ, đùm đề con dại. Mấy năm sau bà dành giụm, chắt bóp vốn liếng mở lò bún, làm bún bỏ sỉ cho tiệm, quán ngoài thị xã, nuôi hai con. Lúc đấy, bà Lê đang tuổi mây mẩy xuân thì, nhưng vẫn ở vậy chờ chồng quay đầu cố quận, đưa đứa con trai đầu đoàn tụ sum vầy.
Bà Lê nuôi cô Gái đến mười chín tuổi, bà đứng ra gả chồng cho con. Chồng Gái là anh Chắc người Huế ra Quảng Trị may ăn công cho ông Xích em ruột bà. Ông Xích thấy anh Chắc tính tình cục mịch, siêng năng, ông ưng bụng, bàn với bà Lê đứng ra tác hợp cho cô cháu gái ông nên vợ chồng với anh Chắc. Khi vợ chồng chị Gái ra riêng, bà sắm cho chị một chiếc máy may hiệu Singere để mở tiệm may ngoài chợ. Chị Gái sinh đứa thứ tư, cũng là lúc mệ Lê hết hy vọng chồng con bên Lào trở về! Luôn dịp bác trưởng anh của ông Lê gọi mệ Lê về quê chia cho miếng đất hương hoả, bà bán nhà cùng anh Định về ở hẵn làng Vân.
Trước khi đi, bà để lại cho gia đình chị Gái một con bé mười một tuổi đầu, trông ốm o, nhỏ thó như lên tám. Bé Dưỡng, lúc đầu vào nhà làm con nuôi bà Lê, sau làm con nuôi chị Gái. Chị Gái nuôi Dưỡng vì vợ chồng chị bận may ngoài chợ không ai bồng con dại. Dưỡng ngu muội, lớn càng ngu lại bị quáng gà, làm gì cũng lò dò, ngơ ngẩn. Ban đầu, chị Gái tưởng chong chảy như người ta chị sắm tập vở cho đi học "bình dân học vụ", không ngờ suốt mấy tháng, Dưỡng chỉ học có mấy chữ : "I....tờ..tờ...i...ti..." mãi không thuộc! Chị Gái không trông mong chi nữa, cho Dưỡng ở nhà bồng em.
Dưỡng con ông Mỡ. Ông Mỡ ở ngoài Bắc di cư vào Nam làm cu-li cao su đồn điền người Pháp. Đói và bệnh, vợ ông chết trên tàu, thuỷ thủ thả xác vợ ông xuống biển. Ông lên bờ dẫn hai con lang thang đi xin ăn tìm đường Bắc tiến, đến Quảng Trị, vĩ tuyến 17 đã chia cắt theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, cha con ông Mỡ không về quê được, ông lại nát rượu, đành bán hai con cho mệ Lê sáu đồng bạc Đông Dương, rồi ông lang thang đầu đường xó chợ và chết rấp đâu đó không ai biết! Người anh của Dưỡng, bà Lê đặt tên Minh. Minh ở với bà Lê một thời gian có da có thịt rồi bỏ nhà đi bụi đời... Thỉnh thoảng người quen thấy Minh ngủ vật vạ ngoài chợ, gọi không về, về mách bà Lê, bà tất tả chạy ra tìm, Minh theo tụi bụi đời lặn mất tăm! Còn Dưỡng, hồi bà mua về mới sáu tuổi, ghẻ lở đầy mình, bà phải nấu nước lá sầu đông tắm táp mỗi ngày một, hai lần, suốt ba tháng mới lành.
BA
Bà Lê xa quê chồng khi tóc còn xanh, khi quay trở lại tóc đã chớm bạc. Bà về quê cũng mở lò bún, các chị cùng quê ngày ngày đến lò bún bà Lê lấy bún, quảy một gánh chạy đi bán các chợ quê. Về quê cha, anh Định như người xa lạ, vì không có ông Lê, họ hàng bên nội chẳng tha thiết gì thằng cháu không cha. Hơn nữa, anh Định vẫn tính ăn chơi kiểu công tử con nhà giàu, y hệt tính ông Lê ăn chơi bạt mang, địch thị tính ông Lê thời trẻ. Dù gia sản, điền thổ gia đình ông Lê thời trai tráng tuy không vào hàng nhất, nhì trong làng Vân, nhưng ông cũng ăn chơi theo kiểu trai đợt sống mới. Bà Gái không ít lần tự hào kể về cha mình cho các con nghe: "Ông ngoại bây sang lắm, mẹ nhớ hồi nhỏ, một lần ông ngoại đi chơi cô đầu, ông đi xe kéo, mặc mỗi ngày một bộ, bộ nào cũng com-lê tiệp màu từ mũ phớt cho đến giày "sang-đá", trên tay lúc nào cầm một chiếc ba-toong"
Anh Định có nước da ngăm ngăm, vóc người gầy chắc, mặt xương xẩu, hai lưỡng quyền cao tăng vẻ quyết đoán. Ở làng có lò võ Cửu Duyên. Mỗi khi đạp xe đi học, anh nghe những tiếng xuống tấn, dậm chân thậm thịch, tiếng đánh nhau ứ hự anh mê lắm. Anh về nhà bỏ học chữ, xin mẹ lo sắm sửa xôi gà, cau trầu, rượu làm một mâm lễ vật, đến lò võ Cửu Duyên, bái sư học nghệ. Bà Lê nạt:
- Lo học dăm ba chữ cái đã!
- Học võ phòng thân chớ mạ. Mạ không nghe câu: "ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay" hở mạ?
- Võ đánh nhau mà bây nói nghề hử? Nói chi lạ đời.
- Sao không phải nghề! Mạ không thấy ông Cửu mỗi bước đi ra là" tiền hô hậu ủng" kẻ đưa người rước trọng vọng, ông không nhờ giỏi võ đó sao. Mạ lo mà bắt cho con con gà...
Hai mẹ con bà Lê đang nói ngang đó. Ông Trưởng anh họ ông Lê đi lừ lừ đi ngoài đường vào, đứng ở cây hải đuờng nghe chuyện, ông cũng có con đang học lò võ ông Cửu, cất tiếng:
- Thằng Định nói đúng, học chi thì chi miễn nhất nghệ tinh đặng nhất thân vinh thím nó à. Thằng thứ ba của tui đã bái sư ông Cửu. Thím cứ lo cho nó đi, ông Cửu không nhận, tui nói vô cho một tiếng. Hai đứa học một lò cho có anh có em.
Bà Lê trò chuyện với ông Trưởng việc họ mạc. Khi ông Trưởng về, bà nói với anh Định:
- Mạ cũng tùy con, nhưng con cứ học chữ, làm thầy vẫn hơn làm thợ con nà.
Anh Định ậm ờ cho qua chuyện, khi đạt ham muốn rồi Định tự y bỏ ngang học chữ. Bà Lê chìu Định từ nhỏ đến lớn, đành bấm bụng cho Định làm gì thì làm. Khi thấy con mê luyện quyền cước, bà cũng mừng trong bụng "Thôi thì võ cũng nghề, sau này nó tự phòng thân, khi ngặt mở lò dạy ba đứa trẻ cũng nuôi được cái miệng chớ chẳng không"
Anh Định giỏi võ, được khuôn hội Phật giáo làng Vân mời vào sinh hoạt Phật tử, rồi lên chức Huynh trưỏng. Khi Phật giao đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, anh Định nhờ giỏi võ, được xung vào Ban bảo vệ Phật sự và thành thánh tử đạo khi một mình chống lại bọn mật thám của Ngô Đình Cẩn!
Từ khi đứa con trai út của bà Lê đi biểu tình chết, bà lẳng lặng sống một mình một bóng trong ngôi nhà sập sệ, ngày lủi thủi với nỗi chờ đợi mong manh, người con trai đầu trở về và lụi hụi cuốc xới vun vén khu vườn, sống nhờ vào những mẹt trái cây, buồng chuối, bó lá dong, lá chuối, dăm trái thơm, trái mít... cùng với nghề chích lễ phong ngứa nổi tiếng một vùng. Ngày bà càng già sức yếu bà không kham nổi, đành để cỏ cây hoang dại, cây tạp mọc lên ngun ngún xanh tốt như góc rừng nguyên sinh...
BỐN
Hè năm trước Vi cũng về nghỉ hè với mệ Lê. Suốt mấy tháng Vi rong chơi trong không khí trong lành yên ả của đồng quê thôn dã. Cuối ngày tắm táp, ngụp lặn thoả thích trong dòng sông nhỏ với lũ bạn làng. Sông quê hiền hoà, sớm mai mộng mị với lớp hơi nước bốc lên; chiều tre đôi bờ ngả bóng vào nhau thành một hang động xanh, chảy hun hút vào tuổi hoa Vi một cõi nên thơ huyền thoại.
Làng Vân nơi nào cũng trồng tre, vườn nhà nào cũng toàn tre bao bọc. Đời sống của dân làng hầu hết đều có sự giúp đỡ, chở che của tre! Tre gộc làm cột kèo dựng nhà, thân tre làm phên che chắn, làm chõng nâng giấc người đêm đêm và chẻ ra vót láng đan thúng, đan ghe trét bọc ngoài một lớp hắc ín thành chiếc ghe nhẹ lướt thênh trên sông; tre còn dùng làm nông cụ cày ải ngoài đồng, triêng gióng, đòn gánh đi chợ, làm cầu lắc lẻo ngang sông, rào dậu, đặt nò, vây sáo trong sông... đâu đâu cũng có tre thâm nhập sâu sắc vào đời sống người dân. Tre còn theo lời ru lặn vào giấc ngủ mộng mị và nuôi lớn bao tuổi thơ làng Vân. Đến nỗi đến đâu Vi cũng yêu tre, luôn nghĩ cây tre biểu tượng cho sự dẻo dai, chịu thương chịu khó và nhẫn nại của người dân làng Vân. Bởi ở đâu tre cũng đem lại tiện ích cho người, cũng sống bên nhau bền bỉ và đoàn kết. Mỗi hoàng hôn ngày hạ nắng loang vàng da cam trên những rặng tre xanh, nhiều khi ngồi bên bến sông ngắm cảnh chiều tà lòng Vi bất chợt bâng khuâng. Thỉnh thoảng Vi được anh em thằng Mân, thằng Hậu, con Lanh rủ đi chăn trâu. Vi thấy tụi nó đứng trên lưng trâu chỉ huy cả đàn lù lù lội qua sông không hề ướt aó quần, phục lăn! Qua cồn chúng thả trâu ăn trên cồn hoang, chơi ù mọi, đánh bi, đánh đáo đến xế chiều mới chịu "ọ....ọ..." gom trâu về, Vi thích được cùng bạn làng cho đi chăn trâu. Tụi nó biết thế, nên nhiều lần cho Vi ngồi vắt vẻo trên lưng trâu đủng đỉnh đi về làng trong bóng chiều chạng vạng, Vi thích quá!
Tiếng mệ Lê trong bếp gọi Vi:
- Con trai con đứa chi mà yếu hơn bà già, mới đi mấy cây số coi mỏi đoạ rồi, ngồi dậy, qua quán mua cho mệ gói Cẩm Lệ - Đi ra đưa tiền cho Vi mệ lẩm bẩm - Dạo nầy đầu óc hay lửng, khi hồi quên không mua bên phố cho rẻ.
Cầm tiền mệ Lê đưa, Vi chưa đi vội. Vi ra sau vườn hái một chùm dâu. Đi vào nhìn đống gạch đá chất sát bên miếu, vừa nhăn mặt suýt xoa chua vừa nói:
- Mệ xây am chi cho tốn! Cháu thấy trong vườn có miếu rồi.
- Chuyện trên đầu trên cổ cháu biết chi mà nói, ngài phạt chết a! Tại mệ có cốt đồng. Mẫu mẹ bắt mệ xây am thờ Tam Phủ.
- Năm ngoái cháu thấy mệ thờ ông Quận sút sảo, cô Chín Thượng Ngàn, Lục vị tôn ông, năm nay thêm ông hổ, cục đá dị hình, tiền hương đèn, bông ba qủa phẩm ngày rằm, mùng một mệ lo sao xuể?
Mệ Lê không trả lời, lẳng lặng ngồi trầm ngâm trong bếp.
Vi chạy chân trần lơn tơn ra ngõ, nhìn quanh quất đó đây xem làng quê có gì thay đổi? Con đường làng vẫn um mát bóng tre. Chiếc cầu tre vẫn vắt qua sông như cánh võng chùng mấp mé mặt nước, nay coi bộ đã xộch xệch khi nhiều người qua lại. Vi bước lún nhún trên những thanh tre kết lại thành bè thả ngang sông để đoán độ bền của cầu. Đến đoạn giữa sông, nơi người làng bắt một thân tre già cho những chiếc đò dọc khi ngang qua giở lên chống đò qua, rồi gác lại. Vi cầm thanh vịn hơi run khi bước lên thanh tre vàng láng. Chợt có tiếng hỏi bên kia cầu:
- Vi mới về?
Dưới gốc đa bên chân cầu, một cô gái mặc bộ đồ nâu non, nách mẹt cá bên hông, vẫy chào Vi. Vi cố lấy bình tỉnh giữ thăng bằng bước nhanh qua thanh tre cho thật gọn gàng trước mắt cô gái vừa gọi và nhoẻn một nụ cười chào rạng rỡ mừng vui…
Đấy là Hà, nhà vườn Hà cách nhà vườn mệ Lê một bờ mương. Mùa hè mương cạn hai nhà qua lại bằng lối mòn băng qua mương. Những khi Vi về mệ, Vi và Hà thường chạy qua chạy lại chơi với nhau ở lối mòn này. Đứng giữa cầu Vi la:
- Về khi hồi.
- Có đem truyện về nơi không?
- Có chơ...ơ...
Vi bước qua cầu lúng túng đứng trước mặt Hà. Đôi bạn nói chuyện huyên thuyên một lát rồi chia tay. Hà lên chợ. Bóng Hà ngoe ngoảy trong bộ đồ nâu non mặn mà, quyến rũ. Hà khuất sau lùm tre vẫn bịn rịn trong ánh mắt Vi một cái gì ấm áp.
NĂM
Ông bà Thí có năm người con, Hà là con út. Con gái nhà nông chân lấm tay bùn nhưng Hà ăn diện như gái phố chợ. Từ nhỏ tới lớn Hà được ăn học, ông Thí cưng chìu không cho làm việc nặng. Anh Sơn con đầu của ông đi dạy học, lấy vợ ở riêng trên phố. Chị Thuỷ của Hà lấy chồng xa và một người anh kế Hà chết do bệnh tật. Chỉ còn Hà và thằng Giang ở với ông.
Mệ Lê về quê chồng nhưng vẫn đơn chiếc, còn người anh chồng ở cuối làng, xưa nay mệ và ông bác chẳng tới lui gì nhiều, ngoài chạp họ, thành ra không gần gũi bằng người dưng, cận lân cận thân chỉ có vợ chồng ông Thí, mệ Lê xem ông như con, có phương việc gì cũng sang nhờ. Vợ chồng bà Gái cũng quý vợ chồng anh Thí như ông anh cả. Vì mối quan hệ đó , nên Vi do quen gọi ông Thí là "Cậu" và xem Hà như cô chị nhỏ của mình. Năm rồi, Vi thấy mình lớn rồi, vả lại đối với Hà chẳng cật ruột chi, nên ngượng miệng khi gọi Hà là chị, tự đổi xưng hô với Hà, nhưng ấp úng mãi mới đổi được từ "chị Hà" ra "Hà" một tiếng cộc lốc! Đến bây giờ mỗi khi gặp nhau hai người cứ "Vi... Vi...", "Hà...Hà..." líu ríu như đôi chim đến mùa làm tổ.
Theo quan niệm của bà Thí, con gái nhà quê giỏi cày cấy ruộng trưa, giỏi tề gia nội trợ hoặc biết chạy chợ tính toán bán buôn là tốt. Bà không ước sau này Hà Sương làm cô trợ cô giáo như những cô gái tân thời mà phải học nhiều. Con gái học năm ba chữ, như chị Thuỷ của Hà biết viết "lá thư" gửi về cho cha mẹ khi lấy chồng ở xa là được. Ông Thí lại khác, Hà thi đỗ vào đệ Thất trường công, ông đi phố sắm sách, vở, thước, cặp, com-pa, ôm một ôm về cho con gái, bảo: "Con cố học thành cô tú cho ba mạ mở mặt mở mày với bà con nghe chưa". Hà rớm rớm nước mắt lí nhí cám ơn cha rồi ôm gói quà chạy vào buồng, khép cửa lại nằm khóc…
Trường Hà học cạnh trường Vi. Trường Vi toàn nam bãi về sau trường Hà mười lăm phút. Trường Hà toàn nữ sinh đeo bảng tên viền chỉ màu: Đệ Nhất màu tím, Đệ Nhị màu hồng, Đệ Tam màu xanh, Đệ Tứ màu đỏ, Đệ Ngũ màu vàng, Đệ Lục màu lục, đệ Thất màu gạch. Năm rồi Hà đeo bảng tên chỉ xanh. Hai trường có chung một dải công viên và một bến đò ngang bên bờ sông thơ mộng. Mỗi khi trường Hà bãi về, nữ sinh ùa ra ngập trắng con đường xanh ; những cánh áo dài trắng vu vơ trong nắng gió rồi tụ lại từng nhóm dưới những gốc sung già trên bến đò chờ chuyến sang sông. Về làng Vân, Vi chỉ chơi với Hà và Mân học cùng lớp. Mân ở làng bên, hồi nhỏ Vi gặp Mân khi bọn trẻ mục đồng hai làng thả trâu chung trên cồn hoang bên kia sông. Hơn nữa, từ tuổi niên thiếu Vi và Hà đã biết nhau, lớn lên tuy Vi không ở làng thường xuyên, nhưng Vi lên về thăm mệ Lê, khi đem thuốc Cẩm Lệ, khi dầu đèn, quần áo bà Gái may nhờ Vi đưa về cho mệ, Vi lại gặp Hà. Do vậy, Hà và Vi vẫn thân với nhau như bạn bè học một lớp, như trai gái chung làng. Hè năm trước, khi Vi khen con Lanh đứng trên lưng một con trâu lùa đàn trâu nhà qua sông như nữ tướng cầm roi ra trận. Hà nói: "Dễ ợt! mai Vi đi giữ trâu chơi với Hà, Hà chỉ cho". Hôm sau, Vi và Hà cùng đứng trên lưng con trâu đực. Khi ra giữa sông con trâu lặn cả thân hình to đùng xuống nước chỉ ngoi hai cái mũi phì phò thở. Vi sẩy chân tuột khỏi lưng trâu liền ôm cứng Hà từ phía sau lưng làm Hà cũng chìm luôn xuống nước. Ở trong nước Vi vẫn ôm thân thể chắc lẵn của Hà. Hà vùng mạnh, bứt ra và cùng Vi bơi sang bờ bên kia. Đứng trên bờ Vi run run khi thấy một thân thể bê bết lớp vải ướt hoang dã và khuôn mặt màu bồ quân của Hà dường như ửng chín. Vi liều mạng ôm Hà hôn đại lên má một cái. Mặt đối mặt, Vi thấy đôi riềm mi cong vút của Hà như hai vệt đen khép bình yên trong khuôn mặt chữ điền bướng bỉnh. Bất chợt Hà mắng: "Khỉ đỏ" rồi nhảy ùm xuống sông bơi về thay áo quần và chèo ghe trở lại cồn chăn trâu... Nụ hôn vụng trộm đầu đời ấy và những nụ cười giòn tan toả rạng khuôn mặt ngăm ngăm thuần khiết của Hà luôn hành hạ Vi điêu đứng!...
SÁU
Gia đình ông Thí sinh sống nhờ dòng sông và cánh đồng bao la trù phú nằm sau lưng làng. Mặt trước làng Vân, nhà tiếp nhà, vườn tiếp vườn cùng với con đường làng và luỹ tre chạy dài theo con sông nhỏ. Đại đa số người làng Vân sống với nghề nông và nghề tiện gỗ. Nghề tiện gỗ không có thời nào phất
Người làng chuyên tiện đồ thờ, chân bát nhang, chân đèn gỗ, quả bồng đơm ngũ quả... ngoài ra còn tiện chân tủ, chân ghế, chân giường, nói chung ai đặt chi tiện được thì tiện. Vật liệu đồ thờ thường gỗ nhóm một nhưng dân làng thích dùng gỗ cây xoan. Xoan, một loài cây trồng bưng biền, quanh vườn đều xôi xổi lớn nhanh và cho gỗ tạp màu trắng có vân rất đẹp, mềm dễ tiện.Vi có thời ngồi chầu rìa dưới giàn tiện chờ xin dăm gỗ về mệ Lê nhen lửa, từng mê mải nhìn những cục gỗ tròn vo chạy vù vù, bị những mũi tiện bằng sắt gọt từng vòng, từng vòng ngọt xớt, kêu rào rào. Từng vòng dăm gỗ rơi lả tả xuống đôi chân chú Khâm đạp lên đạp xuống còn xoắn tít và thơm mùi gỗ mới. Những gia đình thợ tiện làng Vân toàn họ Huỳnh, một trong mười hai họ lớn của làng. Thằng Hậu nói: "Nơi khác cũng có họ khác làm nghề tiện, nhưng tại làng Vân chỉ họ Huỳnh, không dạy người ngoài họ, tau không dạy mi học tiện đâu, cho mi đạp vài vòng chơi thôi. Hằng năm cúng tổ thợ tiện vào ngày hai mươi lăm tháng Chạp, mi nhớ về tau ăn một bụng hé" Và nhiều nhà có nghề phụ như chằm nón, đan thúng, đan mủng, dần, sàng... thêm tiền chạy chợ, cải thiện bữa ăn gia đình... Nhưng thật sự để sắm sửa, tiêu pha, lễ bái, giỗ Tết, cúng kị hương khói tổ tông, họ mạc, may mặc... tất tần tật từ hạt lúa ngoài đồng, con cá trong sông và cây trái vườn nhà. Nghề phụ chỉ chuyên chú trong những lúc rỗi rảnh, những buổi nông nhàn; bà con còn phải trồng rau đậu, cải, bắp, hành hẹ, rau khoai, rau muống theo dọc bãi biền đất ngấu phù sa ven biền sông và giăng câu, cất rớ, bủa sáo trong sông. Chiều xuống, đôi ba người làng thường lội bộ ục ục mép sông đặt câu gặm qua đêm, bảnh sáng hôm sau họ ôm bó cần câu gặm về nhà cũng được lưng giỏ cá quẫy xạch xạch trong oi.
Nhà cửa ông Thí đã đàng hoàng, ruộng đất mấy mẫu. Lúa ăn giáp hạt không hết, nhưng trước nhà ông luôn giăng một chiếc rớ bà to rộng choáng gần nửa sông để kiếm thêm cá, tôm làm thức ăn thường nhật. Được nhiều, bà Thí và đôi khi Hà nách mẹt cá tôm ra chợ Cầu bán dành tiền sắm sửa vặt vụn trong nhà. Suốt ngày ông Thí làm việc này việc khác, khi ngoài đồng, lúc dưới biền sông, ngoài ruộng, không lúc nào ngơi tay. Lâu, lâu ông gọi thằng Giang cùng ông xuống cất rớ. Những lúc ấy Hà hoặc bà Thí tự động đi theo. Ông Thí cùng thằng Giang khoẻ chân ngồi trong chòi dùng chân đạp tay quay trục gỗ, chiếc rớ bà nổi dần lên khỏi mặt nước. Hà hoặc bà Thí chèo ghe ra giữa sông cầm vợt xúc cá. Ông Thí gần năm mươi tuổi, tay chân vẫn gân guốc, cuốc xới hùng hục, giăng lưới, vây sáo, giở chuôm không thua anh lực điền nào trong làng. Ông còn lặn hụp trong sông như con rái cá đen nhủi bóng nước. Tính ông ngay thẳng, hay rộng lòng giúp láng giềng. Dân làng ai cũng quý ông, gặp ông đi đâu đó trên đường làng, ai cũng vui vẻ đứng lại chào hỏi.
Có một đêm, ông Thí sang lợp nhà giúp mệ Lê, buổi tối mệ Lê thết ông con nuôi và ngưòi làm một bữa thịnh soạn, có rượu, có thịt chủ khách ăn nhậu quá chén cũng không sao, anh em đều ở quanh quẩn làng Vân, say đã có vợ con chạy sang dìu về, đưa vào tận giường, để nguyên chân đất, vật lưng ra ngủ thẳng một giấc đến sáng tỉnh dậy đi làm tiếp. Khi mọi người về hết, ông Thí say ngà ngànhưng vân ưa ngồi trên bộ ngựa khoe chuyện thời trai trẻ cho mệ Lê nghe và Vi nghe. Tính ông vẫn thế, khi nào say là ông vênh mặt kể "chuyện đời xưa", chuyện ông đi Vệ quốc chống Pháp, cũng có lần thằng Liên gia trưởng nghe lõm bõm được, lầm lầm mặt bảo: "Ông tuyên truyền cho Việt Minh phải không, tôi gông cổ ông ra xã bi chừ". Ông Thí cũng bầm mặt, trợn mắt đốp lại: "Tui hỏi chú, chú theo Tây không nà? Tui chống Pháp, tui khoe cho con cháu chơ, thằng nào theo Tây thằng đó nóng ruột hà. Ngon thì chú gông tui đi. Tui làm việc phải, đụng vào tui chém chết không tha". Thằng Liên gia truởng cũng ớn cái tính liều mạng của ông Thí, hơn nữa vợ nó cũng thân với bà Thí, khi ông Thí cất nhiều cá mú, bà Thí thường sai Hà lén cha đem qua cho vợ hắn một ít, để hắn bớt "dòm ngõ ngó cươi" vào nhà bà, bởi nhà khồng chỉ ông thí từng theo Việt Minh mà còn có thân nhân theo Việt Cộng. Vợ thằng Liên gia trưởng thủ thỉ ngày đêm vào tai chồng: “Đừng hung ác có ngày mất mạng, thiện ác đáo đầu chung hữu báo đó nghe anh”. Thằng Liên gia cũng bết sợ, nó cũng nghe vợ nên giả lơ nhiều chuyện cho gia đình bà Thí. Hôm đó, nó bỏ đi với lời khuyên giả vờ thân tình: "Thôi anh Thí, anh kể bậy như vậy thầy Đại diện nghe được thì tui và anh cũng phiền. Anh say rồi đi ngủ đi cho khỏe". Đêm nay, có lẽ ông Thí ngấm rượu, hứng chí kể “chuyện đời xưa” cho Vi nghe không cạn. Mệ Lê nghe mãi, bà thuộc tính ông con nuôi rất chi vinh dự khi xưng mình Vệ quốc, nhưng mệ buồn ngủ, ngồi ở bàn giữa nhà chăm chú nghe cho ông Thí vui lòng, đôi khi bà hỏi xen vào để tăng phần hưng phấn cho ông con v à thức tỉnh mệ:
- Nghe hồi Pháp thuộc con đi Vệ quốc làm tới đội trưởng à?
Ông Thí đang chìm theo dòng hồi tưởng, mắt léo sáng, tỉnh táo tức thời:
- Thanh niên hồi đó ai cũng ghét bọn thực dân, ai cũng đăng vào Vệ quốc cả chớ mô chỉ mình con, một số ít ươn hèn chịu làm tay sai thì xun xoe bợ đỡ tụi Pháp thôi mạ.
- Nói nhỏ nhỏ một chút, tai vách mạch rừng con!
- Con biết. Sợ chi! Con từng bị tù đày, kinh nghiệm tràn đìa rồi mạ.
Rồi ông Thí đăm đăm nhìn ánh đèn vàng chạnh, mặt sụm buồn, cất giọng khàn khàn kể chuyện bị tù ở nhà lao Toà Khâm. Vi ngạc nhiên vì hiện nay tại Toà Khâm chẳng có nhà lao nào, chỉ một nhà lao nằm ở cuối đuờng Lê Lai, một con đường vừa ngắn vừa cụt, đấy là lao Thừa Phủ xây từ thời Pháp thuộc mà thôi. Vi hỏi ông Thí:
- Lao Toà Khâm ở đâu cậu?
Ông Thí hừng hừng mặt, nốc cạn ly rượu mắt trâu, rồi "khà" một tiếng, nói:
- Lao Toà Khâm trước nằm ngay nơi trường Kiểu Mẫu, bây thường đi học ngang qua đó, không biết hử?
Ông Thí quên nhà Vi ở trên Nam Giao, Vi học trường Quốc Học đi xuống chưa tới trường Kiểu Mẫu thì làm sao qua trường Kiểu Mẫu như con gái ông đi học từ hướng cầu ông Thượng ra chợ Mới lên trường Đồng Khánh, phải ngang Kiểu Mẫu. Tất nhiên Vi biết trường Kiểu Mẫu. Vi đáp:
- Dạ biết.
Ông Thí giọng nhuốm buồn:
- Bác cả của Hà và người anh con bác ruột của cậu đi Vệ Quốc Đoàn, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, người em kế đi du kích hy sinh anh dũng trên Dương Xuân. Bởi vậy, thằng Đại diện xã và cả thằng Liên gia trưởng luôn rình mò nhà cậu, có lễ chi của chúng, chúng không cho cậu ở yên, thế nào chúng cũng biểu bọn dân vệ kêu cậu ra xã, ngồi nghe chúng giáo huấn hoạnh hoẹ đủ điều.
Mệ Lê cắt lời ông Thí:
- Tụi nó cũng chẳng để yên cho mẹ, vẫn kêu lên réo xuống hoài, đâu một mình con.
Tợp ngụm rượu cái "ực" ông Thí chống chế:
- Con biết. Thì con nghĩ cháu nó cũng biết. Xóm này, nhà mẹ như nhà con, chúng nó kêu réo chẳng chừa. Trở lại với Vi đang cùng ngồi trên bộ ngựa hóng chuỵên và tiếp mồi cho ông Thí. Ông Thí nói - Kể cho cháu nghe như ri, chúng rình nghe được cũng bắt tội, cháu để bụng chớ nói lại với ai, không có lợi cho cháu đâu., phải không mạ?
Mệ Lê gật đầu:
- Ừ.
- Dạ.
- Cháu biết không, hồi Pháp thuộc, làng Vân là vùng giáp ranh, tranh chấp giữa ta và Pháp, bao quanh và ngăn cách bởi dòng sông Như Ý là một hành lang cung cấp sức người, sức của, nơi dừng chân của cán bộ, bộ đội trong kháng chiến chống Pháp để hoạt động và tấn công địch ở thị xã. Năm 1946 - 1947 cậu đã là đội trưởng Thiếu niên cứu quốc cùng với anh em trong đội Thiếu niên xã, vận động nhân dân ủng hộ rơm và ớt chở lên Huế cho bộ đội xông khói làm giảm sức chiến đấu của lính Pháp đồn trú ở tầng hai Morin. Các năm 1949 - 1951 ở tuổi mười bảy, mười tám là Tiểu đội trưởng dân quân du kích ngày đêm kiên cường chiến đấu chống Pháp bảo vệ quê hương, vào đêm 15 tháng 10 mười năm 1952, sau khi đi làm nhiệm vụ vừa về đến nhà thì bị kẻ phản bội dẫn mật thám Pháp đột kích vây bắt cậu lúc hai giờ sáng. Sau những trận đòn tra tấn ác liệt nhưng chúng không khai thác được gì ở cậu, cuối cùng chúng đưa biệt giam trong căn tù của nhà lao Toà Khâm Huế, gọi là căn tù chính trị nguy hiểm nhất (Premier Dangere) mang số tù PM 819. Ngày 7 tháng 5 năm 1954 tập đoàn cứ điểm lớn nhất của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ bị quân và dân ta tiêu diệt, Pháp phải thả cậu. Ra tù, sức khoẻ của cậu chưa thể hồi phục kịp và cũng là thời điểm xảy ra trận lụt lớn, nước ngoài sông dâng ngập gần nửa cái bếp bên nhà luôn, hơn nữa anh em cậu đi ra Bắc hết, cậu đành ở lại quê để phụng dưỡng cha mẹ, giỗ kỵ, chăm sóc mồ mả cha ông chớ, không thôi cậu tung hoành ngang dọc thoả chí tang bồng như anh Trai rồi! Giờ mới mang tiếng hèn yếu như ri, số phận cả cháu ơi!
Nghe nhắc đến tên đứa con trai đầu, mệ Lê ứa nước mắt rồi ngước nhìn ngoài vườn đầy bóng cây tối, đôi mắt rơm rớm dưới ánh đèn dầu. Bất chợt ông Thí nhìn sang, biết mình lỡ lời nên đứng dậy đi qua bàn ghé ngồi vào chiếc ghế dài nói:
- Thôi mạ, hoà bình anh Trai cũng về mà, mạ đi ngủ sớm cho khoẻ, con về đã.
Mệ Lê đang buồn, nghe ông Thí đòi về, bà đứng dậy, nhanh nhẹn đi xuống bếp lấy xôi, thịt để phần cho thằng Giang và vợ ông Thí. Cầm gói thức ăn gói trong lá chuối huơ qua lửa, mệ Lê nói:
- Đem về cho mấy đứa.
Ông Thí khẽ "dạ" rồi cầm gói thức ăn láng cháng đi ra sân. Mệ Lê bưng cây đèn bát bảo Vi:
- Đưa cậu qua mương, cháu.
- Dạ.
(còn tiếp)
Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. Tác giả gửi trieuxuan.info
|