BẢY
Vi sinh ra ở phường Đệ Nhị thị xã Quảng Trị, lớn lên trên xóm Heo và trong vòng tay cong khô của mệ Lê cùng sự chăm chút đầu đời của bà Gái. Cứ mỗi lần Vi nhớ lại tháng ngày thơ ấu, dòng hồi tuởng như chảy từ cổ tích, hiện trong Vi chấp chới những người thân thiết, có người thành thiên cổ...
Bác Sung khoan hoà, nhân ái. Những lần Vi hoang nghịch, bị cha bắt nằm xuống ngựa, trót roi mây vào đít, vẫn thường bác Sung đứng ra xin hộ:
"Anh xin chú, cho cháu mắc nợ lần này, lần sau đánh gấp đôi - Bác Sung nhìn Vi nháy mắt - Đứng lên xin lỗi ba rồi đi rửa mặt, nhanh"
Vi khoanh tay xin lỗi ba, cám ơn bác rồi thút thít đi xuống bếp trong nhuề nhoà nước mắt. Vi vẫn nghe cha tức bực phân bua:
"Anh coi, đêm nào nó cũng trốn ra rạp Đại Chúng coi cọp xi-nê cao bồi, thần thoại Ấn Độ rồi bắt chước cao bồi quăng dây vào con của người ta đang ngồi sau yên xe đạp và chạy theo giựt dây như phi ngựa, cha thằng bé không biết, vẫn đạp nhanh, dây trặt thằng con ông ta té oạch giữa đường. May Vi thấy chớ không thôi cha thằng bé đánh nó thành tật rồi".
Nhà bác Sung trước mặt nhà Vi, cách con đường xóm đầy lỗ hê lỗ hổng. Cho đến nay, Vi vẫn nhớ trận những trận đòn "thập tử nhất sinh" do cái sự ham mê ngu ngốc của mình. Thấy ai đi xe đạp, Vi thèm lắm, cứ lân la đứng bên sờ nắn, đợi họ lên đạp, chạy theo đẩy hộ. Bạn của ông Chắc đến nhà chơi, Vi thấy xe đạp dựng trước hiên. Ông bạn và ông Chắc cùng đi ra sau vườn, Vi cầm lòng không đặng, lén dắt xe ra đường tập đạp. Khi đạp được vài vòng, thích quá quên cả sợ, không muốn đem xe về trả nữa mà cứ vừa dắt, vừa đạp nghiêng ngả ra thị xã. Bất ngờ Vi tông một bà bán bún, bún tuột gióng, đổ tung toé ra mặt đường nhựa. Bà bán bún ngồi bệp xuống đường, hai chân giãy giãy, đạp đạp, miệng tru tréo:
- Ôi chết rồi! Thằng mất dạy lo "bán cốt lột xương" đền cho tau!...
Vi đứng run run :"Dạ! dạ!" ông Chắc và bạn ông chạy đến. Ông Chắc thấy cảnh bún đổ tung toé trên mặt đường nhựa, người đàn bà bán bún quen mặt ngồi bệp giữa đường khóc, la bai bải, còn Vi mặt tái lét, đứng co ro bên chiếc xe đạp ngã chỏng gọng giữa đường! Ông Chắc đỏ mặt vì giận, bước nhanh tới bên Vi, đưa bàn tay to dày ra tát tới tấp vào mặt Vi. Bà bán bún thấy mặt Vi loà lện máu và mũi bà không lu loa nữa, mà đứng bật lên, chạy đến can ông Chắc ; ông bạn ông Chắc cũng hoảng sợ, vội dựng nhanh chiếc xe đạp bên lề, chạy tới giữ tay ông Chắc:
- Anh đánh nó chết mất! Về nhà hẵn hay!
Bà bán bún nói:
- Cha ni dữ tợn! Đánh con như đánh kẻ thù!
Ông Chắc phập phù thở… nói:
- Để mẹ nó tới nhà chị tính toán…thằng này không đánh không được đâu chị, để nó trổ trời mà lên à!?
Ông Chắc không đánh Vi nữa mà lấy tay lau xe cho bạn, rồi kéo xệt Vi về nhà trong ánh mắt lo sợ của bà bán bún và những người qua đường. Mới vào nhà, ông Chắc rút roi mây trên xà nhà xuống quất Vi túi bụi. Ông bạn ông tuy tức Vi làm xe trầy ông sơn nhưng cũng động lòng khi thấy Vi la hét, quằn quại dưới lằn roi, ông lên tiếng xin ông Chắc tha cho Vi. Ông Chắc vuốt mặt nén giận tha cho Vi lúc ấy, đợi ông bạn về ông lại lôi Vi vào, bắt nằm sấp trên ngựa và quất lia quất lịa vào mông Vi. Cho đến lúc mệ Lê hay tin, hớt hãi chạy từ chợ vào nhà lao đến giật Vi ra khỏi cơn nóng giận thái quá của ông Chắc. Sau lần ấy, Vi ngồi lên đứng xuống đều nhăn nhó và thấy ông Chắc đâu là lẩn tránh, ông Chắc trên nhà, Vi lủi dưới bếp, ông dưới bếp, Vi lỉnh lui sau hè.
Gần đầu xóm Heo, nơi tiếp giáp đường Quang Trung thuộc phường Đệ Nhị, có ông Tẩu. Ông già lụ khụ vẫn làm cái nghề bọn trẻ cho là gớm ghiếc nhưng luôn gợi tính hiếu kỳ. Ông nuôi đĩa trâu trong ống tre, giam đói hàng tháng. Ai bị nhọt đều đến nhờ ông lấy máu độc ra. Ông chúc đầu ống tre xuống nơi nhọt sưng tấy, con đỉa đói hút căng phồng bụng máu, ông rứt đỉa ra, thả nhúm muối lên các cái thân nhớt nhầy đen láng ấy, con đỉa quằn quại phun máu ra, chờ đỉa xép ve, ông lại cho đỉa vào ống tre cất giữ, dùng lần sau. Ông thường đuổi, doạ bọn trẻ trong xóm khi chúng lại gần ông coi đỉa hút máu. Ông vớ được một đứa, giả vờ cho đỉa hút máu... thằng cu vùng ra được, vừa chạy vừa khóc hu... hu... về nhà. Bọn trẻ đứa nào cũng sợ ông Tẩu, nhưng lại thích lân la đến gần cái thân cọm rọm, hôi hôi của ông vì ông có nhiều ngón nghề lạ đời hấp dẫn đầu óc non trẻ đầy tò mò của bọn trẻ.
Còn bác Mót cạnh nhà bác Sung ở gần nhà Vi làm nghề mổ lợn. Có lẽ xóm này tên xóm Heo là do xóm này nhiều nhà chuyên nghề mổ lợn. Hừng sáng, chừng ba giờ rưỡi tiếng lợn bị chọt tiết rên “éc...éc...” tội nghiệp! Tính bác Mót dễ nực cười bởi tướng người phốp pháp, da thịt mát mẻ, béo tròn hin một cục ; trên khuôn mặt nần nẫn thịt của bác không hề bợn chút phiền toái. Bác Mót vô tư, tự nhiên, buổi sáng bác chạy xuống hói đi đồng, khi nào bác cũng đợi lúc Tào Tháo đuổi mới chịu lạch bạch chạy... và thả lại trong tai bọn trẻ một tràng... nhiều khi các chị đi ngang nghe được đỏ mặt nhìn nhau cười rinh rích...
Cách xóm Heo chừng cây số về phía Bắc có một bến tắm bên sông Thạch Hãn, bến toàn đá cuội. Nơi đây bến giặt người dân xóm Heo và nơi tắm táp trong những ngày hạ của các cô thanh thiếu nữ. Bà Gái thời con gái nhiều lần cùng bạn gái trang lứa mười bảy, mười tám tuổi vẫn tắm truồng trong những buồi cuối ngày chạng vạng, không để ý tụi Tây đóng đồn gần đó, tranh nhau bắt ống nhòm, dòm... và bến này cũng là nơi bọn trẻ xóm Heo ngụp lặn thoả thích trong lòng nước mát trong những chiều nắng quái, quên cơn gió Lào bỏng rộp rôm sảy trên da. Bến tắm nhiều đá cuội, nước trong veo. Dòng sông chảy dịu dàng mát ngọt vào mỗi đứa trẻ và đọng lại trong mỗi đời người một nỗi nhớ như nỗi nhớ nhà mỗi khi xa xứ cứ vọng về luân phiên… Cũng tại bến sông này cậu Định tạp bơi cho Vi. Vi ngán nhất là lúc cậu bồng Vi quăng ra chỗ nước sâu, mặc Vi tự bơi vào, lúc Vi quẫy đạp loạn xạ, đến gần đuối cậu mới bơi đến kéo Vi vào, vài lần uống nước sặc cả mũi dãi, Vi cũng biết bơi! Đối với Vi còn có một kỷ niệm với bến sông này, hôm đó Vi cùng thằng và em trai kế và lũ bạn xóm bơi qua Nhan Biều bắt dế và bẻ trộm bắp non, bị mấy thằng chăn trâu bên đó rượt đuổi. Khi bơi về thằng Thảo bị chuột rút chìm nghỉm chỗ sâu, Vi lặn theo cứu em nhưng bị uống nước, ngộp thở đành trồi lên la: "cứu...cứu em Vi với...". Một anh thanh niên đã cứu Thảo, vác Thảo chúc ngược đầu xuống đất chạy quanh cho nước ộc ra và sau đó làm hô hấp nhân tạo. Thảo thoát chết đuối. Vi bị bầm mông vì trận đòn của ông Chắc.
Quảng Trị là quê hương thơ ấu của Vi, nơi Vi sinh ra, lớn lên trong những tháng ngày thơ dại. Năm Vi mười tuổi, bà nội Vi gọi ông Chắc về, giao nhà thờ họ Nguyễn, để bà nội vào Sài Gòn ở với người em ông Chắc. Gia đình Vi chuyển về Huế, sau mệ Lê mấy năm. Về quê, Vi mới biết quê nội ở Nam Giao cách làng Vân quê ngoại chín cây số, chung quận Phù Hương.
TÁM
Gia đình Vi về quê trên một chuyến xe đò chở lỉnh kỉnh đồ đạt, tủ bàn, giường chiếu... và đông đủ bảy người, tính luôn Dưỡng. Xe đổ ngoài đường, Vi xuống chạy vào sân đã nôn thốc nôn tháo ra. Bà nội và cô của Vi đứng trong hiên chào. Dưỡng, ông Chắc và chú tài khệ nệ khiêng đồ đạt xuống xe, mấy anh thanh niên ở gần cũng chạy đến giúp ông Chắc khiêng tủ, bàn...
Vi lảo đảo đi vào nhà, leo đại trên một cái giường ai đấy nằm thở, đầu bung bung say xe, đang thiêm thiếp bỗng có tiếng: "Gái! lấy khăn lên lau cho tui mau lên! Nhớt dải tùm lum, muốn mửa quá!" - bà lôi vai áo Vi - "Dậy! Dậy!..." Vi nhức đầu tưng tưng hết sức khó chịu nhưng vẫn biết đó là tiếng của bà nội gọi. Vi gượng dậy, ra ngồi chóc ngóc ngoài sân, bà Gái lấy giẻ lau nước dải trên giường, khi đi ngang Vi đang ngồi bẹp bên hiên nhà thở, bà nói nhỏ: "Mệ tinh sạch lắm, nhớ lần sau đừng đến giường mệ nằm, mẹ lại chửi". Đây là lần đầu tiên Vi - cháu đích tôn gặp bà nội, thế mà mệ nội vì chút nhớt dải của cháu đã làm mệ ghê tởm xua đuổi!
Họ Nguyễn của Vi mới được biết họ Nguyễn của Vi từ Thanh Hoá vào đây, ông Cao tổ của Vi theo phò vua Gia Long. Bà nội: "Cụ Tổ hộ thần nhà vua". Đến đời ông nội của ông Chắc bắt đầu suy sụp. "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Ông nội ông Chắc chuyên bán đất, mỗi ngày đeo một xâu tiền xu đi uống rượu, chiều láng cháng, ngả nghiêng về nhà cho chó ăn chè! Ông nội Vi lớn lên phải lầm than với nghề kéo xe kéo. Ông vất vả ra sức kiếm miếng ăn nuôi cả gia đình, bị lao lực, lâm bạo bệnh, mất năm ba mươi sáu tuổi, bỏ lại cho bà nội Vi ba con trai, hai con gái còn nhỏ dại. Bà nội Vi một mình bươn chải nuôi con trong khi của nả dành dụm thời trẻ đã chắp cánh ra đi vì phải lo tiền thuốc thang cho chồng. Bà không có vốn, lại chẳng nghề nghiệp gì ngoài cái nghề nội trợ gia truyền của phụ nữ thời ấy. Thế rồi, bà chạy vạy sắm một gánh chè, chập tối bà cất một gánh kĩu kịt lên vai chạy rong khắp hang cùng ngõ hẽm, công viên để bán cho những cậu ấm cô chiêu, khách giang hồ, gái lầu xanh giữa khuya thèm của ngọt, kiếm nhiều đồng lời hơn bán chè ban ngày.
Con Bê em kế cu Chắc đi ở đợ cho một gia đình ngoài Vinh. Cu Chắc con trai đầu hằng đêm xách một chiếc đèn lồng chạy trước cho mẹ gánh gánh chè chạy sau ; hai mẹ con vừa chạy vừa rao: "Ch…ee…chèè…đây! Chè đậu xanh, đậu ván…chèè…khôông?…". Cu Chắc đang tuổi ăn, tuổi ngủ mà phải thức từ đầu hôm cho đến rợn sáng, vừa lủi thủi cầm đèn cho mẹ bán chè rài rạc đôi chân, cu thường ngủ gục trong tâm, nhiều hôm vấp đá tét móng chân, để lâu ngày không chữa kịp, ngón chân thúi "cẳng xà". Bà nội Vi thấy tội nghiệp con, bảo cu Chắc nằm ngủ trên ghế đá trong công viên, bà gánh vào bán một vài hẻm phố rồi chạy ra đón thức Chắc dậy, cầm đèn chạy trước gánh chè, dẫn đường cho bà đi bán hẽm khác ; hai mẹ con lội quanh đến hai ba giờ sáng mới chạy lên ga bán tàu về khuya… Năm cu Chắc lên mười tuổi, bà nội Vi có người em kế con Bê lớn lên thay cu Chắc cầm đèn, bà cho cu Chắc đi ở đợ cho một gia đình giàu, để bà đỡ nuôi cơm, khỏi may mặc, mỗi năm còn nhận hai chỉ vàng công xá của cu Chắc do nhà chủ trả. Năm cu Chắc mười ba tuổi, xin nhà chủ về nhà và hàng ngày một mình, một rựa cùng mo cơm muối lội suối luồn rừng kiếm củi, đốt than, chiều chiều gánh một gánh ứ hự về đứng bán ở chợ chiều, lấy tiền giúp mẹ nuôi em...
Ông Chắc thất học! Trong khi các em của ông có người học ra làm giáo viên, người em út cũng có Diplome. Ông Chắc vì nghèo, vì hoàn cảnh nên thất học, rồi cũng vì không học mà nghèo. Cũng may ông có nghề may mới lấy được bà Gái, chứ bà Gái đã học xong lớp Nhì truờng Pháp, thời ấy ai học tới đó là khá lắm rồi. Nhưng cũng vì không biết chữ, ông cắt may ngày càng sút kém, phải làm thợ phụ cho bà Gái, cuối cùng bà Gái chạy chọt xin cho ông vào làm trong Ty công chánh. Làm nhân viên đục lộ cũng vì không có chữ ông phải làm cu - li, suốt ngày dầm mưa, dãi nắng với chiếc cuốc chim gỡ đá, làm đường, rải nhựa, áo quần lấm lem hắc ín, cả người tối thui, nhớp nháp. Cứ như con cá ươn trong cái vòng luẩn quẩn ấy, ông Chắc lam lũ cơ cực từ bé, lớn lên mắc tính cục cằn, thô lỗ, dạy dỗ con cái chỉ biết dùng roi vọt và chửi bới, chớ chẳng có nói được một lời ngon ngọt vỗ về con cái chút nào. Cũng bởi Vi hoang nghịch nên nhận lãnh nhiều đòn roi từ bản tính nóng nảy cục cằn của cha. Lần nào, sau mỗi trận đánh Vi, ông cũng phân bua: "Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi". Nhiều lần bà con chòm xóm thấy ông Chắc cầm roi rượt con, rượt vợ chạy ngoài đường Vi rất xấu hổ!
Dù ông Chắc chỉ biết dùng roi vọt dạy con, nhưng ông có một nết tốt, chỉ một nết tốt đó cũng thừa sức bù trừ cho sự thiếu học của ông, đó là niềm say sưa lao động chảy liên tục trong huyết mạch ông ; suốt ngày ông vẫn vất vả việc công sở, về nhà, cởi bộ đồ dầu ra móc sau bếp, là vác chiếc cuốc tượng ra vườn cắm đầu cuốc sới cho đến giờ cơm trưa, rảnh đi nhặt đá sỏi quanh khu vườn hơn ba ngàn mét vuông dồn đống dành đúc táp - lô, dồn xây nhà hoặc chẻ lạt, vót tre, đan lát, làm giàn su su... giàn su của ông đến mùa trĩu quả, không thua chi vườn su su của những nhà vườn chuyên nghiệp trên rẫy, đêm còn phụ bà Gái may trong những ngày giáp Tết, hàng nhiều bà Gái và học trò may không kịp...
Những đứa con của ông không hiểu giá trị lao động cần thiết cho một con người, cho cả đời người như thế nào, nhất là những người lớn tuổi, chúng thường cằn nhằn mỗi khi thấy cha cuốc xới hoặc múc nước phân chuồng tưới hoa màu, su bí, làm thúi um tận nhà trong. Lao động đối với Chắc không chỉ làm ra sản phảm nuôi con mà còn là thú vui, liều thuốc bổ không mất tiền mua của ông Chắc.
CHÍN
Ngày tựu trường, Vi vào học lớp Nhất trường tiểu học Văn Chỉ. Nhà Vi cách trường hơn ba cây số đường nhựa. Đi đường đất gần hơn nhưng phải băng qua hai ngọn đồi trống trải, nhiều đoạn xa nhà dân, hai bên đường toàn lau lách và những rẫy sắn, nương tranh đìu hiu hoang vắng. Nhiều hôm ham chơi chạng vạng Vi mới bộ về đến nhà. Trên rẫy trời mau tối, bóng đêm ập tới lúc nào không biết, con đường bỗng âm u một cách dễ sợ. Vài nhà dân đã lên đèn, ánh đèn nhấp nháy trong những lùm cây đen xỉn như những ngọn đèn của mụ phù thuỷ thắp lên trong khu rừng ma quái. Nhưng đi riết Vi mới thấy con đường thật đẹp. Những sáng mùa đông, đi trên đồi nhìn con đường đỏ ươn ướt chạy đổ dốc vòng vèo ngái ngủ trong sương rồi mất hút vào thẳm xanh cây lá. Đôi khi Vi tưởng mình đi lạc vào miền quê nào đó trong truyện cổ tích. Vi biết con đường này nhờ về ăn trưa ở nhà tụi bạn cùng học lớp . Hồi đó, tinh mơ Vi đã cắp cặp vở, ngón tay nghéo nghiên mực; tay xách cà-men cơm lóc cóc đi học. Phải đi học ngày hai buổi, bà Gái sợ Vi mất sức nên thức dậy sớm nấu cơm, kho cá cho Vi bới theo ăn trưa tại trường. Trưa bạn bè ai nấy về nhà nấy, Vi ở lại ăn trưa với sân trường vắng hoe. Ăn xong nằm nghỉ vật vạ đâu đó chờ học tiếp buổi chiều. Biết vậy, bạn học rủ Vi xách cơm về nhà bạn góp phần cơm bới ăn chung cơm nóng với gia đình bạn...
Học một năm, nhưng kỷ niệm thời niên thiếu đóng lại trong tim Vi một vết son đỏ không thể nào quên. Đấy là lần hai anh Giải phóng quân hy sinh oanh liệt trên độn Phường. Hôm ấy, lớp Vi đang học, bỗng tiếng mõ tre: "Cóc...cóc..." xóm dưới. Cả lớp nhao nhao. Thầy Bính ổn định :
- Học si...ii...sinh !
- Im lặng !
Lớp lại ồn khi nghe tiếng chân người chạy "thình thịch...". Hai người lạ mặt ôm súng chạy qua sân truờng. Theo sau, hai anh trai làng cầm gậy, xách mác ruợt ! Sau rốt, là Đáo trước học lớp Nhất. Loáng, người chạy, kẻ rượt mất hút sau bụi cây. Trường có hai thầy cùng tên Tá, một thầy Tá đi dạy chuyên mặc áo dài đầu đội khăn đóng, học trò giữ nguyên tên, thầy Tá chạy chiếc Lam - bờ - rét - ta đi dạy, học trò gọi thầy Tá Lam Rét cho dễ phân biệt. Thầy Tá Lam rét gọi :
- Đáo! chuyện chi rượt nhau náo vậy ?
Đáo quay đầu hét : "Tụi Nhân dân vũ trang về "…
Nhiều lời xầm xì :
- Thằng Đáo hăng quá !
- Không sợ họ bắn bể bụng !
- …
Cha Đáo bị lính Nhân dân vũ trang của ông
Cẩn bắn chết. Hôm đó trên đuờng đi học Vi nghe trong nhà Đáo lúm úm. Vào, người lớn trạo miệng với nhau rằng, hồi khuya cha Đáo nghe con Mực sủa mãi bên chùa, ông bưng đèn ra xem, thấy có người gỡ băng rôn, ông tri hô lên, liền bị bắn gục ngay bậc cửa.
Dạo đó Chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Tăng ni, Phật tử thỉnh bàn thờ Phật ra đường, treo băng, cờ biểu ngữ và tuyệt thực đòi "Năm nguyện vọng". Cụ Cẩn em ruột Tổng thống Ngô Đình Diệm tập hợp một lực lượng gồm mật vụ và lính Nhân dân vũ trang, lập địa ngục Chín Hầm để giam giữ các chiến sĩ cách mạng kiên trung cùng tăng ni không theo cụ. Cụ tra khảo họ rất dã man. Để họ chết dần trong ngập ngụa cức đái, dưới hầm sâu…
Bỗng tiếng súng nổ rộ trên độn Phường. Chen trong đủ loại tiếng súng còn có những tiếng đì đùng của súng lớn và lựu đạn. Thầy Bính bắt cả lớp chui dưới gầm bàn nằm bẹp xuống đất. Vi nghe đạn veo véo trên mái tôn và tiếng rì rì của máy bay rồi tiếng loa từ máy bay: "Hỡi các cán binh Cộng Sản hãy buông súng trở về với chính nghĩa Quốc gia...". Lúc đó cả trường mới biết hai người vừa chạy qua là Giải phóng quân...
Toàn truờng được bãi về sớm. Vi cùng mấy bạn nghịch nhất lớp ôm cặp chạy lên độn Phường coi người chết. Bọn Vi ra tới đường nhựa vẫn còn thấy xe thiết giáp Ô-tô-lăn-đơ đậu bên bờ vực cạn và một đám lính lủ khủ súng đạn đang leo lên một chiếc xe nhà binh gie đít đậu bên rệ đường. Lên đỉnh độn, cả bọn đững sửng trước nhiều ngôi mộ bị đạn cáy xới. Sau cái bia bể, xác một người nằm sấp không đoán được tuổi, đầu vỡ, máu quyện vào đất ngả màu đỏ bầm lợn cợn óc trắng. Bên trong ngôi mả Tàu, một anh thanh niên ngực lỗ chỗ vết đạn như lỗ giun đất đùn…
Sau này bọn Vi cảm phục hai anh hơn khi nghe nguời lớn kể: "Thiếu uý Kỳ mắng tụi lính Chi khu "Tụi bây ăn cơm trật núc, để tau lên bắt sống cho coi". Trung sĩ Chót nghe vậy nóng mặt cùng thiếu uý xung phong lãnh đạn. Hai anh trước lúc hy sinh đã kịp mạng đổi mạng trong trận đánh không cân sức.
Tụi lính hèn hạ gài lựu đạn, phơi xác hai anh. Mấy con chó chạy ngang banh xác. Sáng thứ tư Vi đi học không thấy đàn quạ bay lòng vòng trên đỉnh độn, Mới hay bà con kéo nhau ra xã kiện, cha Đại diện xã sai mấy dân vệ chôn hai anh. Tụi dân vệ bất nhân, chúng đào một lỗ nông choèn, kéo xác hai anh ra dập và đắp sơ một nắm đất nham nhở bên rìa con đường đất dẫn tới trường tiểu học của bọn Vi.
Con đường đất này xưa nay vắng vẻ, hai bên cũng dày bờ bụi um tùm. Nhiều lần Vi đi một mình cu đất vụt bay lên làm Vi giật mình sởn da gà. Khi có nấm mộ thấp tè ấy, bọn Vi thường rủ nhau đi học bằng đường này. Một hôm, trò Khiết bảo :
- Mấy người chết oan thiêng lắm. Tụi mình vun mộ hai anh. Hai anh phù hộ cho bọn mình thi đỗ vào đệ Thất trường công.
Cả bọn lớp Nhất và lớp Nhì đồng thanh hưởng ứng. Con gái đi nhặt đá vụn, con trai bưng những viên lớn. Đứa chuyền, đứa khiêng ; cả bọn ì ạch cả buổi mới khít một vòng chân mộ. Hôm sau lên lớp thứ hai, thứ ba... Một hôm, bọn Vi ngạc nhiên khi thấy "Ngôi mả đá" của học trò lớp Nhất trường Văn Chỉ có bàn tay ai xây lại? Những chỗ lỗ hê, lỗ hổng được sắp khít ? Và thằng Đáo thả trâu ăn trên độn Phường cứ sùm sụp nón cời, thu người trong chiếc áo tơi nặng trịch ngồi trên mấy cái lăng, coi trâu ăn như rình bọn học trò đi đường băng này vậy!? Bọn Vi ghét Đáo không thèm chơi bởi chính nó gián tiếp giết chết hai anh!
Cư dân địa phương kể chuyện hai anh Giải phóng quân với lòng khâm phục thành kính:
"Ngày 1-11-1963 Diệm - Nhu bị lật đỗ. Mười ngày sau, hai anh về nắm tình hình. Không biết vì lý do gì trời rạng sáng hai anh mới vào làng. Hôm ấy đúng ngày mười tháng mười Quý Mão, tiết trời thúc nấm chui đất trồi lên. Đáo lội ngược suối sục sạo hai bên lùm bụi, tìm nấm. Nó thấy ai nhúc nhích trong lá, tưởng tàn quân Nhân dân vũ trang, liền nhảy lên bờ la toáng : "Nhân dân vũ trang !...". Dân làng tưởng thiệt, liền gõ mõ tri hô !…”
Chiều Mười tháng Mười, năm Giáp Thìn bọn lớp Vi hẹn nhau mua nhang và hoa lên viếng mộ hai anh. Thật bất ngờ khi thấy Ngôi Mả Đá của bọn học trò Văn Chỉ đã sạch cỏ. Điều làm cả bọn xúc động là chân hương cũ, mới và cả hương đang cháy, do nhiều người thắp từng vòng từng vòng theo kẻ đá, nổi bật trên nền đá màu gan gà như một đoá hoa hương khổng lồ, ánh rực góc chiều Đông. Bọn Vi mừng cho hai anh không cô quạnh, mừng học trò lớp Nhì, lớp Nhất năm ấy không quên hai anh. Nghe tiếng rột rẹt, Vi và các bạn cùng quay lui. Hoá ra là Đáo. Nhìn thẳng vào khuôn mặt ủ ê của Đáo. Vi hấc miệng :
- Mi thắp hương cho hai anh à?
- Ừ!
Vi nhăn trán như suy nghĩ điều gì, rồi hỏi:
- Có phải hồi đó mi xây mả cho hai anh?
- Ừ. Tụi bây xây dỡ ẹt - Bỗng Đáo hớc...hớc...và tiếp trong tiếng nấc - tau bi... ii… biết... hớc... hớc... tụi bây ghét tau !?
Vi bước tới ôm Đáo trước mắt bọn học trò lớp Đệ Thất, miệng lắp bắp:
- Không, không...
MƯỜI
Vi soạn mấy chục cây đèn cóc mệ Lê thờ ngoài vườn, trong am, miếu, trên trang, trên bàn thờ, dưới bếp... đem ra ngồi trước hiên dùng giẻ dạ tẩm dầu chùi muội bám bên trong những cái bóng hột vịt và khêu tim, châm dầu để ngày mai mệ lên đồng, cúng cầu may cho bà tiểu thương bên chợ Đông.
Việc mệ Lê cúng cho các bà tiểu thương Vi không phê bình nhưng thường nói với Hà:
- Hà này, mấy bà tiểu thương mua một bán mười, giờ sợ chết xuống âm phủ Diêm Vương cho vô vạc nên nhờ ngoại cúng hối lộ thánh thần.
Hà nguýt Vi một thật dài:
- Xi...iii...xì… nói bậy vừa vừa chơ, cô Chín Thượng Ngàn vặn cổ liền a!
Nói với Hà vậy nhưng vẫn Vi biết ngoại nhờ cúng cấp, lên đồng giúp bà đỡ buồn và là cách kiếm ăn ngoài đi chích lể và thu nhập từ khu vuờn hoang phế này. Hơn một lần Vi nói bà Gái:
- Mẹ, từ khi ngoại làm thủ am, dăm bữa, nửa tháng mấy bà tiểu thương về lên đồng, dâng sớ, thế mạng... nhà ngoại vui lắm. Mấy bà tiểu thương trả công cầu, công thue am của ngoại hậu hĩ mẹ ạ.
- Đúng đó, mẹ vẫn thấy mệ kỳ ni có da có thịt hơn mẹ mừng. Có điều, khi thấy mệ phun lửa, mẹ sợ mệ quên nuốt luôn vô trong bụng mang bệnh, dễ sợ quá con hèo?
- Ngoại tài thiệt! ngoại phun lửa lên tới ngọn hải đường luôn mẹ. Khi bình thương thấy ngoại hiền, đến khi ngoại lắc lư, nhảy nhót, mặt phừng phừng rượu thấy khác ngoại quá mẹ hỉ?
- Mệ có cốt ông quận, ông nhập về mới vậy. Con đừng thèo lẽo nói là mẹ nói vậy mệ giận đó nghe chưa!
Dạ!
Mỗi hôm nhà mệ Lê có lên đồng, con nít trong làng và bọn chăn trâu bên sông và nhiều bà con làng Vân đến xem. Họ vây chật quanh am, chờ xin lộc bà, lộc ông ; lộc bề trên, kẻ khuất mặt khuất mày chỉ quả chuối, quả ổi, quả cau, miếng bánh có khi chỉ một lá trầu, những người được lộc mừng lắm, cho đó là sự may máy, sự độ trì của ơn trên, thành ra khi nghe nhà mệ Lê rộn ràng tiếng người, tiếng đàn ọ è, tiếng lóc cóc, leng cheng và lời hầu văn chen trong những tiếng hú, hét của những người lên đồng đang cơn hưng phấn, họ tranh thủ kéo đến xin lộc. Trong đám bạn của Vi ở làng Vân đứa nào cũng có hưởng lộc từ am miếu của mệ Lê, nhưng chỉ một mình thằng Mân hay hát báng bổ: "Cô lên cô nhảy lom khom, cậu lên cậu nhảy trúc om nước chè e... ẹ...è...". Hà máy lần nghe được liền "xì!" và nguýt một cái thật dài hoặc trừng mắt đe Mân. Kỳ lạ, ngay cái trừng mắt của Hà cũng dễ yêu. Tất cả những gì ở Hà, Vi đều thấy đáng yêu. Lần ấy Vi bảo:
- Coi bộ Hà cũng mê tín dị đoan nhỉ?
- Ứ, Vi cũng nói vậy hả, Hà mách ngoại bi giờ! - Hà giả vờ gọi - Ngoại...
Vi quớ lên:
- Đừng, đừng… Vi... nói chơi mà...
Vi rất vui khi được nghe tiếng "ngoại" từ miệng Hà. Lúc nào Hà cũng gọi mệ Lê bằng một tiếng ngoại thân thương!...
Vi ngồi chùi đèn tâm trí đang nghĩ về Hà... bỗng nhiên Hà đi xộc từ phía sau nhà ra hiên trước làm Vi giật mình. Hà hỏi trổng:
- Ngoại?
- Đi quán.
Ngẩng mặt lên, Vi gặp ánh mắt Hà đã nhìn trộm. Vi nhìn xuống thấy mình đang ở trần, mặc độc chiếc quần xà lõn rộng! Vi vội bỏ giẻ dạ, hốt hoảng đứng lên, tay chân lóng ngóng... Hà quay mặt cười rích rích... rồi nói:
- Nói… cho người ta mượn cuốn truyện đâu nà?
Vi luống cuống:
- Tr... uyện... để trong ơ.
- Cuốn chi?
- Lửa Cháy Thành Phiên Ngung.
- Vô lấy đi... i, à quên, lấy cho Hà mớ bồ kết luôn.
Hà tự ngồi xuống cầm giẻ chùi đèn giúp Vi…
Nhà mệ Lê luôn có một bao cát bồ kết khô dự trữ trong nhà để dành gội đầu. Sau vườn mệ có mấy cây bồ kết năm nào vào khoảng cuối đông, trái bồ kết chín đen rụng đầy, sáng sáng mệ lội lá khô ra nhặt một mớ, đem hong khô trên giàn bếp rồi dồn cất trong bao cát cho con cháu, xóm làng ai cần đến xin ít trái mệ sẵn lòng.
Vi vào buồng mặc quần tây và lấy truyện cùng nắm bồ kết đi trở ra đưa cho Hà. Hà thấy Vi đã mặc quân dài, quay mặt mĩm một nụ cười ý nhị và để cái bóng đang chùi dở lên trẹt, đứng lên. Vi vẫn sượng sùng cầm cuốn truyện và nắm bồ kết ngoảnh mặt sang bên, tay đưa Hà:
- Chừng nầy đủ chưa?
Cầm nắm bồ kết và cuốn sách, Hà nói:
- Dư sức! Hà bẻ ra nướng qua trên lửa bọt nhiều lắm a - Cầm cuốn sách đưa ra trước mặt Vi - mốt trả nghe!
- Cứ để bên, Vi đọc rồi.
- Ừ! À quên, chút ngoại về nhớ ới Hà một tiếng nghe.
Nói xong, Hà quay ngoắt nguời, mái tóc dài buông thả xòa hình nan quạt truớc mặt Vi rồi nhoi nhoi cặp mông đi lui sau vườn mệ Lê, băng về nhà. Vi đứng lặng, hai cánh mũi như mấp máy bởi hương cô thôn nữ vương vấn quanh hiên…
MƯỜI MỘT
Xế trưa, Vi nghe đò máy nổ "...xạch...xạch..." biết đò ghé bến cho Hà và ngoại đi chợ Đông về. Vi thòng vội chiếc quần tây đã mặc lúc sáng, chạy xuống bến đón mệ Lê và Hà. Hà thấy Vi nghiêm chỉnh trong bộ đồ đi phố, cười nói:
- Xách đồ phụ người ta mà ăn mặc như đi phố à? Mau xăn quần lội ra đây!
Vi để nguyên quần dài lội xuống nuớc khi Hà cúi người đưa giỏ đồ ăn qua mạn đò. Vi chuyền hai giỏ đồ đầy ự lên bến định trở xuống đỡ Hà lên. Hà khoác tay ra hiệu Vi dừng lại, Hà phóc một cái từ mạn đò lên trên vạt cát uớt gần mép nước. Vi đang đứng ngẩn tò te trước cú nhảy khá xa của Hà. Ông lái đò đứng chống giữ mũi đò cho mệ Lê xuống bến, thấy Hà nhảy xa vậy, ông trầm trồ:
- Gái mười bảy bẻ gảy sừng trâu!
- Hà quay mặt lại phía ông lái đò nhưng lại nói với Vi:
- Nhất môn nhảy xa trong năm môn điền kinh toàn khối đấy nhé!
Ông lái chống đò ra sông và chiếc đò máy tiếp tục hành trình cuối cùng phía Diễn Mong.
Vẫn thường nhà mệ Lê có việc Hà qua nấu nướng giúp mệ. Hà ra thịt, làm món, phân mâm rất rành. Những lúc ấy, mặt Vi ngời ngợi lanh lẹ, miệng luôn cười nói huyên thuyên, cùng tiếng hát nho nhỏ của Hà tỏa nguồn ấm áp tràn chái bếp vốn tịch lặng. Nhưng hôm ấy, Vi không đi đâu, thường quanh quẩn dưới bếp chờ Hà sai việc, cho đến khi hai mẹ con bà tiểu thương đến phụ bếp, Vi mới chịu lên nhà trên xếp giấy tiền, áo binh…
Ngoài ngõ nghe tiếng xe mô-bi-lét nổ xẹt... xẹt... rồi tắt ngúm, lại nổi lên tiếng người tranh cãi gì đấy... một anh thanh niên đẩy xe vào nhà, theo sau một chị đàn bà có cái miệng loa, mặt bự lớp phấn và sau cùng một ngưòi đàn ông mặc đồ Tây, vai mang một túi xách, vừa phanh vừa nhón chân bước từ xe đạp xuống. Đấy là bộ ba tướng sĩ tượng Ban chầu văn làng Vân. Anh Cư, chú Quép, o Huê. Chú Quép có nước da men mét, ăn nói ỏn ẻn, trong lúc chầu văn chú thường uốn éo, lắc lư người, tay gõ phách miệng hát. Đến nhà mệ Lê gần, chú đi xe đạp, nhà chú đã sắm xe máy nhưng chú chưa dám chạy, chú sợ mau cũ, lại nữa chạy xe chưa rành... Anh Cư kéo đàn nhị rất cừ. Và o Huê luôn bôi một lớp phấn nụ trắng xoá trên mặt, đến nổi tương phản rõ rệt với lớp da cổ bì bì đen nám; o chuyên hát văn. Anh Cư và chú Quép cùng mặc áo dài đen, đầu đội khăn đóng. Chú Cư ngồi kéo đàn, "Ọ... è...". O Huê ngồi kéo giọng hát nịnh bóng cô, bóng cậu rất tài. Chẳng hạn, thấy cốt đồng không nhảy tưng tưng nữa mà đổi kiểu phi ngựa. Ban hầu văn liền chuyển tông, hợp tấu, "Cờ róc...cờ róc... ọ...è...cóc...cóc...cheng...cheng..." o Huê ngoác miệng hát: "Cậu về cưỡi ngựa...a... à...a...xem hoa..."
Chiều tối mệ Lê cúng cấp xong, gia đình bà tiểu thương, Ban hầu văn và khách xóm đã về. Hà xuống rớ lấy lên một mớ cá bống của cha rớ đêm qua, gọng dồn từ khuya. Hà bưng lên lưng rá, những con cá bống đen trũi nhảy lách tách. Vi đang quyét dọn chỗ đốt giấy tiền, vàng bạc, áo binh thấy Hà ngồi làm cá, ướp muối Vi hỏi:
- Thịt cá ê hề trong gát-măng-rê, mệ biểu Hà kho cá làm chi?
- Kho mai ăn, con trai để ý chi chuyện bếp núc mần chi vậy hèo?
Đến tối chừng chín giờ, Hà rột rẹt đi sang phụ mệ Lê đi thắp hương. Nhà mệ thường thắp hương đêm mười bốn, rằm, ba mươi, mùng một và những đêm sau lễ khi cúng lên đồng. Những ngày sóc vọng chỉ thắp đôi ba chỗ ở bến sông, cửa ngỏ thì mệ đi thắp một mình. Tối nay, mệ phải lội khắp trong vườn, thắp hết mấy chục cái bát nhang, nên mệ nhờ Hà sang phụ đi thắp hương cùng mệ. Vi thấy Hà, đòi đi theo, mệ Lê không nói gì, Hà bảo Vi bưng đèn. Ba bà cháu lọ mọ ôm bó nhang đi thắp khắp vườn, trong am, ngoài ngỏ, dưới bến sông. Mệ cắm dưới bến sông sáu cây nhang Vi tự động lấy bớt một cây. Mệ giựt cây hương đang cháy trong tay Vi cặm lại và nói:
- Đừng thày lay!
Vi ngơ ngác vì khi không bị ngoại mắng oan. Lên ngõ vào nhà, mệ vẫn cặm sáu cây hương. Lần này Vi không dám nhổ bớt một cây. Khu vuờn vốn tối om om vì rập bóng cây, giờ thêm nhiều ngọn đèn dầu toả ánh sáng nhoe nhoét nhún nhẩy và lác đác những cây hương cháy loe loét trông rờn rợn, người lạ vào nhà mệ Lê gặp cảnh này dễ nổi da gà vì sợ. Vào nhà, Vi không nín được:
- Ngoại, người ta thường thắp ba cây hoặc năm cây, sao ngoại thắp sáu cây luôn?
- Mấy cây kệ cha tui!
Vi nhìn Hà ngầm ý dò hỏi tại sao ngoại vô cớ nổi cáu ? Hà nháy mắt rồi lựa lúc mệ Lê đi xuống bếp, nói với Vi:
- Kê...kệệ... ngoại ưa chi để ngoại làm nấy. Vi đừng hỏi chi hết ơ.
Hà chào mệ Lê đi về. Vi bưng đèn ra tới mương cạn. Hà biết Vi vẫn còn thắc mắc trong lòng, khi nhảy lên mương, Hà đưa ngón trõ lên đôi môi cong xinh đẹp, ý bảo Vi "Hãy im lặng!", rồi quay người chạy ù vào đám cây lá đen thui quen thuộc. Về nhà, Vi thấy ngoại đứng chờ ở hàng hiên. Mệ Lê xoa đầu Vi, dặn:
- Tối ni, cháu đừng gài lon báo động nghe.
Vi ngạc nhiên:
- Sao thường đêm ngoại biểu cháu gài báo động, để ngoại mở radio nghe đài ngoài Bắc?
Mệ Lê nói nhỏ:
- Đêm ni mệ không nghe. Cháu gài chưa? Nếu gài rồi ra gỡ hết cho mệ!
- Dạ.
Mà lạ, không hiểu tại sao mệ Lê cũng không nuôi chó. Bà Gái mấy lần đem chó con cho mệ nuôi để đêm hôm nó sủa cho có tiếng có tăm, nhưng mệ Lê bảo mẹ Vi đem lên. Rồi mỗi đêm nghe đài lại sai Vi gài lon báo động!
Lon báo động của Vi đơn giản một đoạn dây cước giăng ngang đầu gối chân người, phòng chó chạy qua không giật dây; một đầu cột vào thân cây, một đầu thắt vào cật tre gài trong lon sữa bò. Người lạ vào nhà, vào vườn phải đi qua thế nào cũng vấp dây, cật tre đã xoắn dây thun bung ra quay vù, vù… đánh vào thành lon sữa bò kêu "rẹt... rẹt...rẹt..." báo động cho mệ Lê biết có người lạ vào nhà mà tắt radio hoặc chuyển sang đài khác.
(còn tiếp)
Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. Tác giả gửi trieuxuan.info
|