MƯỜI BA
Hà rủ Vi đi thăm mộ ông chú ruột của Hà. Vi hỏi:
Mộ chú chôn ở đâu?
- Trên rẫy ơ.
- Gần nhà Vi không? Để Vi ghé lấy mấy cuốn sách về học luôn.
- Xa. Trên độn Phường lận.
Linh tính làm Vi giật mình:
- Hà nói độn chi? Nói lại Vi nghe nờ!
- Đã nói rồi! Sửng chi vậy? Trên độn Phường ơ.
Vi lại hỏi:
- Có phải ngọn đồi nằm ven con đường đất sau lưng chùa, phía trước là con đường nhựa, trên đồi có một cái bia đá bể, trong bia khắc chữ Hán, hồi bọn Vi học lớp Nhất, đã hỏi thầy Tá Lam - rét, thầy bảo đó là Truỵ mã giai, truyền thuyết rằng khi vua đi chinh chiến thắng trận trở về, ngang độn Phường ngựa quỵ xuống chết, vua cho khắc bia đá để nhớ ơn con ngựa chiến đã tận trung phò vua đến kiệt sức...
Hà cướp lời:
- Nghe Vi lôi cả chuyện xưa tích cũ ra bất mệt cái bụng! Có đi không thì nói cho ngưòi ta sửa soạn.
Vi vẫn theo đuổi dòng suy nghĩ của mình, nói:
- Đi chớ sao không. Để Vi nói cho nghe đã nà, kể đến đâu rồi, kiệt sức à? Trên độn có vài ngôi mộ tàu, chớ người dân chẳng ai táng người chết ở đó, chỉ có "Ngôi mả đá" của bọn Vi xây cho hai anh Giải phóng quân thôi.
Hà hấp tấp hỏi:
- Vi nói chi... ngôi mả đá, phải ngôi mộ...
Vi cũng vội hỏi:
- Mộ chú Hà chôn ở đâu?
- Ngay trên độn Phường. Ngôi mộ đá Vi vừa nói đó!
- A… a… a...! Phải ngôi mộ đá tròn vo nằm rìa con đường đất băng qua độn Phường đi xuống trường Văn Chỉ không?
- Đúng! Sao Vi biết chính xác vậy?
- Sao không chính xác. Ngôi mộ đó của hai anh... - Vi định nói hai anh Việt Cộng, nhưng ngại chú bác của Hà toàn tập kết ra Bắc nên chữa lại - hai anh Giải phóng quân do bọn lớp Vi xây mà không nhớ à! Hai anh ở ngoài Bắc mà?
- Không, hai chú là du kích làng Vân, trong đó một người là chú ruột của Hà.
Vi trợn tròn mắt mừng rỡ đến ú ớ... lát sau lại tỏ ra rành rõi:
- Hôm nay chưa đến ngày giỗ chú mà. Vi nhớ đó là ngày Mười tháng Mười âm lịch, đúng không Hà.
Đến lượt Hà ngạc nhiên:
- Sao Vi nhớ cả ngày mất chú Hà luôn vậy?
Vi dương dương tự đắc:
- Hồi học ở Văn Chỉ bọn Vi biết hết!
Hà rơm rớm nước mắt:
- Thiệt không!
- Sao không thiệt, Vi nói dối Hà làm chi.
- Vậy mà Hà tưởng bà con Dương Xuân xây chớ. Chú chưa vợ chưa con chi hết, tội quá Vi ơi! Vi kể cho Hà nghe vì sao Vi biết mà đắp đá cho hai chú?
Chở Hà trên chiếc xe đạp lọc cọc, chạy chầm chậm trên đường làng dọc dòng sông Như Ý đầy hoa nắng. Vi kể lại tất cả những gì Vi đã chứng kiến về cái chết anh hùng và trận chiến không cân sức của hai anh Giải phóng quân trên độn Phường hồi cuối năm 1963...
Vi nghe sau lưng tiếng thút thít của Hà. Vi im lặng để cho Hà lắng dần cơn đau ruột thịt, lặng lẽ đạp từ con đường đất ven sông ra đường nhựa thị xã. Tự dưng Vi và Hà cùng im bặt khi hoà nhập vào dòng không khí ồn ào náo nhiệt của phố chợ và tiếng gầm rú của những chiếc xe tải GMC đang hùng hỗ chở lính và đạn dược về phía cửa Thuận ; đường phố thì ngập các sắc lính lừ lừ súng ống, gái bán Bar bê bết phấn son cười cợt đả đớt... Vi lắc đầu ngao ngán như lỡ sinh nhầm thế kỷ, sinh mạng con người như ngọn đèn loe loét trước gió giông tao loạn!..
Vi dắt xe lên dốc, Hà xách giỏ nhựa, trong giỏ đựng bông hoa, giấy tiền, bó hương làm lễ vật cúng cho chú và đồng đội. Hà xách giỏ đi bên thân mật như bà vợ trẻ đi chợ cùng về nhà với chồng. Lòng Vi ao ước mai đây lớn, Vi và Hà sẽ thành đôi lứa. Ngoại Vi coi bộ cung ưng Hà lắm. Ngoại thường nói trước mặt Hà và Vi “Nhứt gái hơn hai, nhì trai hơn một” làm Vi đỏ mặt tía tai, trong khi Hà cúi đầu thẹn thùa li nhi “Ngoại nói chi lạ rứa? Bây giờ hình ảnh thân mật bên nhau làm lòng vi như mở hội, ấm áp thầm kín nhen chật trong lòng! Khi đi ngang nhà Vi, Hà bước nhanh ngang mặt Vi, bảo:
Ghé nhà Vi cho Hà thăm o dượng rồi lên mộ sau cũng được.
Vi đẩy xe đi thẳng:
- Chút về ghé nhà ăn cơm luôn, chừ lên thắp hương cái đã. Hà không nhớ người ta có cái lệ đi đám hoặc đi thăm mộ phải mua hương dọc đường rồi đi thẳng đến mộ luôn, ghé nhà ai người ta cũng cử à.
- Rành quá ta!
Cùng Hà đi lại trên con đường đất thân quen của một thời niên thiếu. Trong đầu bỗng nhớ về những tháng ngày học tiểu học, đôi chân non ngày ngày đi lại trên đường này. Hà băn khoăn:
- Suy nghĩ chi thừ mặt ra vậy Vi?
Vi hơi giật mình, trấn tỉnh lại:
- À... à... nhớ lại hồi đi học, ngày nào Vi cũng đi trên dường này.
- Hèn chi rành, bởi vậy Hà mới nhờ Vi chở đi. Hà bị lạc mấy lần rồi.
- Chơ sao nữa. Vi cũng chưa thuộc hết nữa là.
Từ sau những lùm bụi sim, móc, cây gai đốm và cỏ tranh đã thấp thoáng "Ngôi mã đá" của bọn Vi. Nhìn ngôi mộ đá vẫn no tròn và nhiều chân hương còn mới, chứng tỏ ngôi mộ có nhiều người chăm sóc, Vi nghĩ ngoài gia đình Hà, còn có Đáo và những bà con sống gần đây thương mến dâng hương khói. Hà cùng Vi ngồi nhổ các cây cỏ dại mọc len kẻ đá, Hà nói:
- Chút nữa đưa Hà đến nhà cám ơn các bạn Vi một tiếng nghe.
- Thôi! Bây giờ đến không dễ gì đã gặp đầy đủ, bởi đứa học nghề, đứa học chữ, đứa làm rẫy, chi bằng Mười tháng Mười âm lịch năm tới Vi chở Hà lên thăm mộ, Hà gặp đông đủ ban nhỏ của Vi, Hà cám ơn mỏi miệng thì thôi.
- Vậy cũng được.
- À, sao cha Hà không xây xi-măng cho hai chú?
Biết hai anh Giải phóng hy sinh oanh liệt năm ấy là du kích làng Vân, Vi đổi xưng hô, gọi bằng chú coi là người thân như Hà.
- Xây sao được mà xây, giả vờ không hương không khói thằng cha Đại diện xã còn gọi ba Hà ra xã mãi nữa là, huống chi rớ tay vô xây cho họ bắt tội liên can hà?
- Gia đình Hà mới biết mộ chú chôn ở đây?
- Biết lâu rồi chớ, nhưng mẹ Hà sợ liên luỵ không dám nhìn mộ, sau thấy tụi hắn êm êm, mới cho Hà đi thăm mộ đó, trước đó lén lút lên thắp hương một năm vài lần thôi. Ba Hà ngang tính lắm, nhưng ngại Hà còn đi học, anh đi dạy nên phải nghe lời mẹ thôi, đành thương nhớ trong lòng cũng được mà.
- Chết cũng còn cực!
Hà đứng lên cúng hoa quả, thắp hương cho chú và đồng đội của chú. Hà lâm râm khấn điều gì với hai chú rồi khóc...
MƯỜI BỐN
Dạo này, mệ Lê lạ lắm, thường thu thu nhét nhét cái gì đấy? Thỉnh thoảng vô cớ mắng oan Vi nữa. Hôm qua, Vi thấy mệ làm cá bống, ướp muối kho khô; những con bá bống kho rim cong quéo, đượm vàng mỡ vừa mặn vừa ngọt Vi rất thích. Nhưng đến bữa ăn trưa không thấy ngoại dọn ra, Vi tưởng ngoại để tối ăn, ai dè tối vẫn không có, Vi lại tưởng ngoại quên, Vi hỏi:
- Mệ, cá bống ngoại kho trong trách đất đâu rồi, lấy ra ăn ngoại.
Mệ Lê thủng thẳng:
- Để trên gat-măng-rê mệ quên không đậy mèo ăn rồi, ăn vậy cũng được cháu nờ.
Vi sinh nghi, có phải ngoại già rồi sinh lẫn chăng? Hay đang làm chuyện gì mờ ám sợ cháu con bắt gặp! Chập tối mệ Lê lại dặn Vi không gài lon báo động, đi ngủ sớm, để mai mệ phải đi lễ dưới Thanh Toàn.
Trời đã khuya, khu vườn chìm trong tiếng côn trùng não nuột. Vi thức giấc hé mắt thấy ngoại còn ngồi chong đèn bên chiếc bàn với vẻ lo lắng, bần thần? Mấy lần Vi nghe tiếng chân ngoại đi lui sau bếp kẹt bi kê "rẹt...rẹt...rẹt...". Không hiểu sao ngoại không ngồi một chỗ hút thuốc, cứ đi lên đi xuống thựng thựng trong nhà, xuống bếp như thế? Vi nhìn trộm khuôn mặt nhàu nhò của ba ngoại dưới ánh đèn dầu vàng vọt. Vi thấy trong khuôn mặt xương xương của ngoại có một nỗi chờ tha thiết, héo hắt. Một đôi môi mỏng mím nghị lực, chiếc cằm nhọn của ngoại đã lặn sang Vi, cho dù chiếc cằm nhọn này làm mặt Vi vêu vao khi quá ốm, nhưng Vi bằng lòng có chiếc cằm giống ngoại. Vi biết ngoại buồn bởi đời ngoại chồng chất bao lận đận long đong từ thanh nữ cho đến già nua và đến bây giờ vẫn cun cút cô đơn trong khu vuờn hoang dại. Nghĩ thế, lòng Vi chợt dâng niềm thương xót cho cuộc đời buồn thiu của ngoại. Có lẽ đêm nào ngoại cũng nằm trăn trở, không ngủ được ngồi dậy vấn thuốc Cẩm Lệ hút là do nhớ người con trai đầu không biết sống chết ra sao?
Vi vẫn nằm im re bởi không muốn động đậy niềm chua xót riêng tư của ngoại. Bỗng như sau vườn có tiếng chân người? có thể người quen vì họ biết lối mòn dẫn từ con mương cạn vào bếp. Vi định ngồi dậy... thì ngoại thổi tắt đèn!? Rồi một tiếng gọi: "Mẹ!". Vi không nhầm và nghe giọng không nhừa nhựa như tiếng của cậu Thí cha Hà. Vi tự nhủ, không lẽ cậu Trai Vi về? Giới tuyến phân chia làm sao cậu vào được? Không phải cậu thì ai gọi "Mẹ" vậy kìa!?. Óc tò mò trong Vi nổi lên, Vi cố lắng tai nghe cuộc trò chuyện nho nhỏ đến mơ hồ:
...
- Ướt mẹp vậy con?
- Con lội sông...
- Ông Bảy về khô...?
....
- Anh ấy khoẻ như voi ấy, anh gửi lời thăm mẹ. Anh ghé thăm bác trưởng không trở lui thăm mẹ được.
- Cái anh ni cả gan thiệt... tụi lính 54 về tăng cường đóng bất đày đầu xã. Con gái bác truởng nói nhiều đêm nghe lục đục sau vườn nhà, chắc tụi lính phục kích anh Bảy.
- Mẹ đừng lo anh tài lắm, anh ngửi được mùi thuốc Ru-bi quân tiếp vụ, cả mùi thuốc muỗi từ xa lận, anh phát hiện ổ phục kích ngay!... Anh Bảy dặn con đưa... nếu anh không đến, mẹ cứ đưa đến... hộp thư cũ. Còn tiền mẹ mua... thuốc trụ sinh... sốt rét, theo "toa" bác...
...
Cuộc trò chuyện thì thào rồi tắt dần rồi, Vi nghe tiếng được tiếng mất. Tứ bề đã yên ắng. Bao nhiêu thắc mắc bùng lên trong lòng, Vi không nín nổi, liền lồm cồm ngồi dậy nhảy xuống ngựa đi chân đất thè thẹ xuống bếp. Mặt va vào liếp cửa hông thông gian bếp với nhà trên, Vi nổi cáu:
- Ngoại làm chi dưới bếp mà đóng cửa vậy?
- Mệ... đau bụng... cháu đi tiểu ra hiên tiểu cũng được.
Vi bực bội đi lui bộ ngựa định leo lên ngủ. Lại nghe tiếng chân người ngoài vườn? Vi bước nhanh tới cửa sổ bức phên sau nhìn ra khu vườn tối mịt nhưng Vi vẫn còn thấy một bóng đen lướt qua!? Phản xạ Vi hỏi:
- Ai?
Tiếng hét của Vi vọt vào đêm mất hút!
Vi vụt đến đến liếp cửa chính, đưa tay rút thanh tre gài ngang, hoá ra ngoại đã rút hồi nào. Vi liền lách người ra hiên. Mệ Lê gọi giật Vi lại:
- Cháu, cháu, đêm hôm la to không nên, vô biểu!
Vi sựng người:
- Cháu thấy ngoài vườn có người.
Mệ Lê đi lẹt xẹt lên nhà trên kẹt bi kê thắp đèn và chống cửa nhìn Vi còn đứng chần chừ ở đấy với ánh mắt nghiêm nghị:
- Cháu trông gà hóa cuốc đó, mệ ngồi sau bếp khi hồi đến giờ thấy ai đâu. Thôi vào ngủ. Ai kệ cha họ, đi đêm đi hôm có ngày cóc cắn, rắn mổ chết uổng mạng.
Vâng lời ngoại Vi vào đi ngủ lại, nhưng bụng vẫn ức ức.
Sáng hôm sau mệ Lê lại soạn đồ nghề đi chích lể và bao giờ cũng có mớ ốc bưu dưới đáy giỏ. Vi lại hỏi tiếp:
- Ngoại, khi hôm cậu Trai về phải không mệ?
Mệ Lê sửng sốt một lát rồi cẩn thận nhìn ra ngoài ngõ:
- Khi không cháu hỏi chi động trời vậy?
- Cháu nghe ai đó... gọi... "Mẹ"...
Mệ Lê không trả lời, chỉ dặn:
- Coi nhà cho mệ, cơm canh mệ nấu sẵn để trong chạn, cháu đừng để phần mệ. À, chuyện hồi khuya cháu thức dậy bớ sớ nghe bậy nghe bạ nhớ đừng cho ai biết hết nghe chưa.
- Dạ.
Tối hôm sau mệ Lê cũng dặn Vi đừng gài lon báo động như hôm trước. Nhưng Vi quyết bắt quả tang ai đã vào vườn nhà ngoại lúc giữa khuya. Vi soạn bài vở ra học ê a một lúc rồi đi ngủ sớm. Nửa đêm Vi thức dậy rón rén mở cửa đi ra vườn gài lon báo động. Đúng như dự đoán của Vi, khoảng hơn ba giờ sáng lon báo động kêu: "rẹt...rẹt..rẹt..." Vi vùng dậy cầm đùi để sẳn trên đầu nằm tuôn cửa chạy ra vườn. Vi thấy một bóng đen vụt chạy ra sông...
Trước ngõ nhà mệ Lê có một cây vông đồng cổ thụ tán um tùm, ban đêm ai yếu vía đi ngang qua sẽ cảm thấy lành lạnh sau gáy. Cách cây vông đồng đổ xuống vài chục mét là bến nước, bến lúc nào cũng ngập đầy bèo lục bình, tới mùa ra hoa ngả tím dòng sông. Mệ Lê cũng như bà con trong làng thường dùng ba cây tre thả nổi trên nước, cột ba phía vuông góc trước bến để chắn bèo, dành nơi tắm giặt. Vi đứng trước bến còn thấy những vòng gợn sóng và đám bèo ngoài xa dường như động đậy! Vi đang phân vân hư thiệt thì cái bóng cao ốm lêu nghêu của mệ đã lệt xệt ra ngõ. Mệ đến giật tay Vi:
- Ai biểu mi gài lon hử thằng tê!? Vô nhà mau!
Vi run run:
- D... à... dạ cháu bắt kẻ trộm.
Mệ Lê lôi Vi đi vào nhà. Vi vất đùi tre xuống nước, vùng vằng giựt cánh tay ra khỏi bàn tay khô khốc của ngoại và hậm hực đi vào nhà. Đây, lần thứ hai Vi bị bà ngoại gọi "mi", “thằng tê” làm Vi buồn bực lên ngựa nằm vùi đầu vào gối lòng băn khoăn tự hỏi:
"Đi chích lể ngoại luôn đem theo mớ ốc bưu mua từ chiều hôm trước để làm gi? Bán cho ai mới được chứ? Lời lãi bao nhiêu phải cực thân lội bộ xách đi năm, bảy cây số như thế? Lại thường nhìn trước ngó sau như nhà giàu sợ trộm đột nhập cướp của vậy? Còn thắp hương, ai đời thắp sáu cây, bốn cây, khi bảy cây lẫn lộn tùng phèo? Mà mệ hơn sáu chục tuổi rồi, sao không phải không biết thắp hương chỉ thắp lẻ chớ ai thắp chẵn bao giờ? Rồi đêm nào cũng lục đục dưới bếp, lại đóng cả cửa bếp với nhà trên? Không cho Vi gài lon báo động để nghe trộm đài ngoài Bắc như thường lệ. Vả lại, Vi gài lon báo động có chi sai trái đến nỗi mệ nặng lời mắng nhiếc Vi như thế?"...
Có tiếng xe máy chạy rù rù trên đường làng kéo theo tiếng ve kêu râm ran inh ỏi. Ngoảnh nhìn qua liếp cửa khu vườn đã lợn rợn sáng, Vi ngồi dậy chống cửa bước ra sân, bất chợt giật mình khi thấy mệ Lê ngồi lù lù trước hàng hiên, Vi guợng hỏi:
- Ngoại không ngủ lại à?
Mệ Lê chẳng nói chẳng rằng cứ ngồi trông ra bến sông với nét mặt vò võ lo âu. Vi ra ảng nước lấy gáo dừa múc nước trong ảng đánh răng rửa mặt, đi vào mệ vẫn ngồi bất động với vẻ nghĩ ngợi lung lắm. Vi nghĩ bụng, mệ còn giận Vi. Bất chợt mệ đứng lên lặng lẽ nhìn Vi:
- Mai mốt mệ đi lể cho mấy người ở dưới biển mấy ngày mới về, không ai kho nấu cho cháu ăn...
Vi hớt lời:
- Cháu tự nấu cũng được, ngoại giao nhà cháu coi cho.
Mệ Lê ngập ngừng:
- Không... phải... mệ muốn cháu lên nhà học tiện hơn, ở đây chơi luống xác.
Vi biết ngoại giận Vi chuyện hồi đêm lấy cớ đuổi Vi. Vi nói lẫy:
- Cháu lên chừ cũng được.
Vi không ngờ bà ngoại lại hấp tấp thu xếp cho Vi kịp chuyến đò dọc. Vi định qua chào Hà. Nhưng đứng trong vườn nhìn sang nhà qua kẽ lá, không thấy chiếc xe đạp mi ni của Hà, Vi nghĩ Hà đi vắng. Tiếng máy nổ đò dọc đã "ục... ục...ục..." ghé bến, Vi xách túi xách leo lên đò, bất chợt Hà từ lùm tre chạy ra đưa bàn tay xinh xinh vẫy vẫy:
- Lên mà không thèm nói người ta một tiếng giận đa nghe! Mai mốt về chơi...
Vi không kịp phân bày, chỉ gật đầu. Ông lái chống đò ra sông... Vi hối tiếc khi bắt gặp trong đáy mắt Hà chan chứa ánh nhìn thiết tha...
MƯỜI LĂM
Qua hè Vi lên Đệ Tam, tròn mười sáu tuổi. Lứa tuổi lộc ngộc nhất đời người. Vi không chỉ sốc nổi còn ham chơi, Vi vướng vào bi da không gỡ ra được. Tuần nào Vi cũng “cúp cua” cùng thằng Mân học lớp Vi đi chơi bi da cá độ, ai thua trả tiền. Mê chơi, Vi nghỉ học nhiều ngày, nhà trường phát giấy mời phụ huynh. Lần thứ nhất mẹ Vi giấu cha Vi xuống trường; lần hai mẹ phải lạy lục cúc bái lắm quý thầy mới cho Vi đi học lại và lần thứ ba Vi giấu mẹ, cùng với thằng Mân bỏ nhà đi bụi đời. Thằng Mân nói ở Sài Gòn nó có ông chú giàu lắm, Vi cũng có ông chú ruột nên đồng ý vào đó chơi một chuyến cho biết Sài Gòn hoa lệ thế nào mà nhiều người ca ngợi.
Hồi đó, thị xã có xe buýt chạy từ trong phố ra ngoại ô, xe chạy các tuyến Bao Vinh, Đập Đá, An Hoà, Nam Giao, An Cựu... và cũng có xe Phi Long, Tiến Lực bắt khách đi Đà Nẵng, bến xe đỗ bên chợ Đông, gần cầu Gia Hội. Vi và Mân ngồi trên xe Tiến Lực chờ chạy vào Đà Nẵng rồi tính đi tiếp. Chợt Vi thấy bà Gái như bà điên đi từ trong chợ ra bến xe, hai mắt hoe đỏ, tóc búi sổ tung. Tới bến xe, bà Gái vừa đi vừa tìm xe Tiến Lực. Xe của Vi đã nổ máy chuẩn bị chạy Đà Nẵng. Vi nghĩ, ai mách mẹ Vi, mẹ mới biết tụi Vi đi xe Tiến Lực? Chuyện bọn Vi đi chỉ có em gái thằng Mân biết thôi. Vi ngồi thụp xuống trốn mẹ, nhưng linh cảm tình mẫu tử thiêng liêng đã xui mẹ Vi tìm trúng chiếc xe Vi đang nấp. Bắt được Vi, mẹ nắm chặt tay Vi, đứng khóc... Hà đến! Hà bận nguyên bộ đồ trắng, ôm cặp, mặt cũng lấm tấm mồ hôi. Vi thẹn với những người chung quanh thì ít mà ê mặt với Hà thì nhiều. Vi sực nhớ thằng Mân bán xe đạp cho bà Mai, bà Mai bán quán, ngày nào mệ Lê cũng lội qua quán mua ruốc, ớt, dầu đèn, thuốc cẩm lệ... có thể bà Mai thấy Vi cặp kè với thằng Mân, bà báo với ngoại, ngoại mới nói cho Hà biết, Hà mách mẹ Vi? Vi theo mẹ đợi nhảy xe đò về nhà. Trước khi cùng bà Gái lên xe Nam Giao về nhà, Vi nhăn mặt hỏi Hà:
- Mụ Mai mách Hà phải không?
- Không, tại sáng qua đi học Hà gặp Vi đi từ xóm Mân đi ra, đáng ra Hà rẻ vào hỏi sao Vi nghỉ học, nhưng sợ trễ, nên thôi. Sáng nay chuẩn bị đi học, gặp mẹ Vi hớt hải về làng hỏi ngoại, Hà chở o sang nhà Mân. Em gái Mân nói "Anh Mân với anh Vi đi bụi luôn rồi, đi xe Tiến Lực o nợ" . Hà phải nghỉ giờ đầu đưa o tìm Vi đó. Không hiểu đầu óc Vi bị chập mạch không nữa! Tự dưng ưa là bỏ ngang, ngốc!
Mẹ Vi nhắc:
- Cháu đi học đi, mai o xuống xin cô một tiếng. Cám ơn cháu nhiều nghe.
- Dạ, không có chi!
Hà chào bà Gái và Vi rồi đi ra chỗ lấy xe đạp, vẫn dáng đong đưa quyến rũ ấy âm thầm làm khổ Vi... Bà Gái kéo tay Vi:
- Về! Chi mà sửng hồn luôn vậy con?
Thằng Mân ở bên Lại Thế cách làng Vân một dòng sông nhỏ. Thời niên thiếu nó cùng chăn trâu chung với trẻ mục đồng làng Vân, cùng vui chơi đùa giỡn suốt mấy tháng hè trên một bãi cồn hoang bên kia sông. Dù khác làng, khác quận nhưng bà con hai làng qua lại thân mật bao đời, nhiều khi bọn Vi xem Mân bạn cùng làng. Hồi nhỏ mỗi khi Vi về ngoại, biết Mân nhưngVi không chơi thân vì tính nó xắc lắc, lại hay ăn hiếp Vi, sau này thi đỗ vào trường công, Vi và Mân cùng học lớp Thất 7 Pháp văn, tự dưng hai đứa thành đôi rất bạn thân. Lần ấy Mân đi bụi luôn, sau này mấy lần Vi gặp nó, Vi thấy nó đánh bạn với tụi du đãng chuyên đâm thuê chém mướn như thằng Mười, Trọng H.... ở Phú Cam. Sau giải phóng ít lâu, cha Mân ở Bắc trở về quê thì Mân đang thi hành bản án 18 năm, cha Mân chết, Mân ra tù không được gặp cha, buồn rầu đỗ bệnh chết luôn! Nếu hồi đó Vi không được mẹ và Hà bắt lại, chắc chi Vi còn sống yên phận như hôm nay. Vi được mẹ về trường xin các thầy một lần nữa, bà khóc lóc năn nỉ suốt buổi, thầy hiệu phó thương tình cho Vi tiếp tục đi học lại.
Hà lên Đệ Nhị đi ban A, mang bảng tên viền chỉ hồng. Ở tuổi mười bảy, Hà đã có một thân hình màu bồ quân rực lửa, những lúc lặn gỡ rớ vướng nè giúp ông Thí quay rớ, leo trở lên ghe, vớt cá chống sào vào bến, lớp vải ướt ôm sát rạt thân hình, nổi cả những đường cong hoang dã thanh tân! Và, với nụ cười giòn, tướng đi lấc cấc đong đưa mạnh khoẻ cùng ánh mắt tình tứ đã làm bao chàng xao động, lẽo đẽo theo trồng cây si! Trong số đó tất nhiên có Vi, một thằng trai dại ngộ, thuận lợi hơn tất cả nhờ chuỗi ngày niên thiếu quấn quýt bên Hà. Nhiều chiều bãi về Vi đạp xe theo Hà, đưa Hà về tận cầu ông Thượng. Đến đó, Hà bảo Vi lên kẻo mấy đứa trai làng chọc quê Hà, tụi nó nói bậy bạ nhiều khi Hà dị muốn độn thổ luôn. Vi đồng ý, vì trước Hà, Vi khờ khạo, chẳng biết nói gì hay hơn chuyện thơ phú, văn chương mà Vi say mê. Nhiều khi Vi chợt giật mình vì thấy mình nói quá nhiều chuyện trên trời dưới đất, chẳng ăn nhập gì chuyện Vi đang yêu thầm nhớ trộm Hà. Trong khi Hà lắng nghe với nụ cười mĩm chi bình thản. Hơn nữa, Vi nghe lời ông anh kết nghĩa đã hơn một lần lao đao vì tình. Ông anh dạy: "Mi đừng gặp cô ta nhiều quá mà cô ta coi thường, nhớ lắm cũng phải nén, đừng về nhà cô nhiều. Hãy "phớt - tỉnh - ăng - lê", giả vờ buông ra xa, để cô ta chạy tới trong vòng tay mình. Hãy biết lấy sở trường của mình mà thắng sở đoản của cô ta. Nhớ đấy". Thi thoảng, Vi rủ Hà đi long nhong phố chợ. Nhận cái nháy mắt của Vi, Hà tìm ngay lý do chia tay với cô bạn đang đạp xe song song. Những lời nói dối ấy làm Vi xao xuyến. Một lần trong quán chè Học Trò Vi liều mạng thực tập những điều đã học từ ông anh quý báu và bày tỏ tình cảm mình với Hà. Hà cười giòn:
- Hà coi Vi như bạn rất thân được chưa?
- Vi thích khác kia!
- Khác sao được, nhỏ hơn người ta mà đòi...
Hà bỏ lửng.
Vi lại viết thư nhờ thằng Giang làm chim xanh. Những lá thư tỏ tình rạt rào ướt át mà Vi học mót trong những cuốn tiểu thuyết ba xu như hòn sỏi rơi giữa lòng sông không vờn một gợn sóng hồi âm. Vi chua xót nghĩ, cô thôn nữ của Vi không mộng bình thường mà cũng đua đòi cao xa như các cô gái thị thành! Vi vẫn ngu ngơ ôm vòng khói ngoài tầm tay với. Cho đến lần Vi bắt gặp Hà đi xi nê với một tay thiếu uý. Trên ngực áo trái hắn in chữ in TUNGL. Hà mặc áo dài tím, kẹp bóp-ta-phơi sánh vai với thằng đó vào rạp chiếu bóng. Vi mua vé lén đi sau và thật bất ngờ khi thấy Hà đăm chiêu một cách người lớn. Trên khuôn mặt chữ điền của Hà mới chiều qua đây còn rỡ ràng những nụ cười hồn nhiên, giờ trĩu nặng lo toan? Một lát Vi thấy Hà đi xuống nhà vệ sinh. Hết phim, đèn bật sáng thiếu uý Tùng dìu Hà chen giữa đám lính ra cửa. Có tiếng la:
- Truyền đơn! truyền đơn...
Lính tráng, người xem phim láo nháo cả lên. Do tò mò Vi cúi nhặt một tờ cất ngay vào túi. Trong khi đó cả rạp nhốn nháo xô đẩy nhau tràn ra cửa, tán loạn. Vi không biết Hà và tên thiếu uý Tùng đi hướng nào. Về nhà Vi đọc tờ truyền đơn in toàn chữ in hoa màu xanh:
ANH EM BINH SĨ VÀ SĨ QUAN TRONG QUÂN ĐỘI MIỀN NAM!
HÃY:
- KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI KHÔNG THI HÀNH MỆNH LỆNH CÀN QUÝET, GOM DÂN THÀNH LẬP ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ - THIỆU.
- KHÔNG BẮN GIẾT, ĐỐT PHÁ, CƯỚP BÓC, XÂM PHẠM TÍNH MẠNG TÀI SẢN CỦA NHÂN DÂN.
- BINH LÍNH VÀ SĨ QUAN HÃY ĐOÀN KẾT LẠI PHẢN ĐỐI SỰ CÓ MẶT VÀ THÁI ĐỘ LÁO XƯỢC CỦA BỌN CỐ VẤN MỸ TRONG QUÂN ĐỘI MIÊN NAM VÀ TRONG ĐƠN VỊ.
- RỦ NHAU RỜI BỎ MỸ - THIỆU TRỞ VỀ VỚI CÁCH MẠNG.
ĐỘI VŨ TRANG TỰ VỆ CỦA NHÂN DÂN
Ngay chiều ấy Vi đạp về ngoại, tìm gặp Hà, Vi nói ngay:
- Trên rạp Tân Thanh có phim hay lắm. Chiều mai thứ bảy Vi đãi Hà một xuất hai giờ sau Hà đi xem nhé?
Hà đang dùng lược chải chải mái tóc thề buông thả eo lưng:
- Hà sợ tụi lính làm ẩu không đi Vi à.
Trong các rạp xi nê luôn có một đám lính chuyên coi cọp. Chúng đứng chật lối đi đợi con gái nhà lành lơ ngơ đi vào lúc tắt điện chúng ra tay sàm sỡ. Các cô, các chị thậm chí cả các bà đều bị chúng làm hỗn, la oai oái. Các cô, các bà muốn đi xem phim phải rủ nhau đi thật đông và vào lúc phim chưa chiếu. Vi biết đó không phải lý do chính đáng để Hà chối từ lời mời của Vi. Hà không nhận lời phải chăng trái tim Hà đã thuộc về tay lính kiểng hào hoa phong nhã đó!?. Một nỗi buồn bất ngờ vụt dậy trong Vi. Hà đã nói dối, xem như gián tiếp chối từ tỉnh cảm của Vi! Vi vụt quay lưng đi băng về vườn ngoại. Hà dừng chải tóc:
- Vi...Vi… tự dưng bỏ về lạ chưa tề!?
MƯỜI SÁU
Ba mẹ Vi vừa xây được ngôi nhà ngói. Phải nói, ông Chắc và bà Gái làm lụng vất vả suốt hơn hai mươi năm mới dành dụm được. Vườn ông Chắc dong đất phía Nam sát đồn Công binh. Đồn mấy lần lấn đất vườn của ông bằng ba hàng thép gai khum khum hình mái nhà rồi gài đầy lựu đạn, mìn... Ông Chắc phải bỏ hoang dải đất giáp hàng thép gái ấy cho lau lách mọc đầy, ra đó vỡ đất có ngày vướng mìn, toi mạng!
Tết sầm sập tới, cả nhà ông Chắc được ăn tết trong ngôi nhà mới, ai cũng tươi vui hơn hớn, tràn đầy dự phóng, hy vọng phía tương lai! Vi thích nằm ngữa trên nền xi-măng nhìn lớp lớp ngói đỏ thứ tự; băng, kèo, rui, mèn toàn bằng gỗ kiền nâu ngù, lòng tràn sung sướng. Bà Gái búi đầu trong đống hàng áo quần bà con lối xa gần đặt may. Tiếng máy may chạy: ''Xè... xè... xạch... xạch...'' suốt đêm và ánh đèn măng-sông thắp đến sáng. Chiều hai mươi chín Tết, thợ thầy đã nghỉ, gia đình ông Chắc quây quần trên hai vuông chiếu gói bánh tét. Ông Chắc muốn năm này đón Tết Nguyên Đán trong nhà mới, bếp lửa cháy từ năm cũ sang năm mới, nên bảo bà Gái gói bánh ngày ba mươi Tết, nấu từ trưa năm cũ đến giao thừa bánh chín vớt cúng giao thừa luôn để sang năm nhà ông được sung túc.
Vi ngồi gói bánh với bà Gái và hai đứa em gái, chị Dưỡng bồng cu út của Vi đứng luẩn quẩn gần bên chờ ai sai bảo gì. Vi tưởng gói bánh tét dễ, ai dè trầy trật hồi lâu được dăm đòn bánh lỏng lẻo, không đều rí múi lạt như bà Gái. Thế mới hay người xưa bảo học ăn, học nói còn học gói... nữa, chớ chẳng học khó làm nên chuyện. Bánh gói xong, ông Chắc nhóm bếp ngoài sân, che bên trên một tấm bạt cũ phòng mưa, sợ nấu trong nhà khói ám tuờng mới. Vi háo hức ngồi châm nước, châm lửa chờ vớt bánh để thử xem đòn bánh đầu đời của mình gói hương vị như thế nào... Chưa đến giao thừa hai mắt Vi muốn ngủ rịu ra rồi! Vi đi ngủ nhưng lại co ro thức dậy dậy trước giao thừa, phụ ông Chắc châm nước cúng đầu năm đón xuân mới, nghinh tân tống cựu.
Bầu trời đêm Ba Mươi sâu thẳm, cảnh vật sinh linh chìm trong yên tĩnh. Hình như nàng xuân đã tha thướt ngự về vén màn sương khuya tỉ tê tâm sự với vạn vật. Pháo nổ đì đùng khắp nơi! Hương cháy một hồi rồi mà pháo vẫn nổ? Ồ không, tiếng súng!? Tiếng súng đùng... đoàng khắp đây đó. Phía sau nhà ông Chắc súng nổ từng hồi rát rạt, veo véo... ông Chắc giục cả nhà xuống hầm. Ngồi trong hầm ông thì thào: "Bộ đội về mẹ mi ơi!". Một lát sau, tiếng súng tạm thời lắng yên. Ông Chắc chui lên, Vi cũng rón rén sau lưng ông. Vi Nhìn qua khe cửa ra đường nhờ nhờ sương khuya, thấy nhiều bóng người chỉ mặc áo may ô, quần xà lõn xách súng chạy.
Sáng Mùng Một, những người bạo gan trong xóm ùa ra đường, đứng tụ tập từng nhóm năm, ba người nhỏ to bàn tán, ai cũng nghĩ suy gì đấy xem nghiêm trọng lắm. Sau đó, Vi biết chính xác bộ đội Giải phóng đã về. Chính cái đồn sát nhà Vi các anh đã đánh chiếm rồi bỏ không, đi nơi khác, Lính tráng trốn quanh quất, chui nhủi đâu đó, thấy khuất bóng Giải phóng quân, liền chạy trở lại vào đồn. Sau đó cha Tri tiểu đoàn trưởng cho lính bắt loa gọi tất cả các sắc đang chui, ấp quanh đòn, hãy vào đồn đồn trình diện tử thủ.
Suốt sáng Mùng Ba Tết đồn bắt loa phát lệnh buộc gia đình ông Chắc phải di tản để đồn mở rộng phòng ngự và tầm xạ thủ. Ông Chắc nấn ná vì lưu luyến ngôi nhà mới. Bên đồn nã đại liên sang khu đị nhà Vi, bà Gái hoảng réo các con chạy đại ra đường. Gia đình Vi chạy lên nhà ôn Mão, ông chú ruột của ông Chắc ở trên rẫy, phía sau lưng đồn, gần chùa Thiên Hương xin tá túc. Ông nội Vi chết sớm, ông Chắc được ông chú giúp đỡ suốt thời gian thơ bé đến lớn khôn, nên bọn Vi vẫn xem ông nội chú là "ôn" nội. Đến nhà ông nội, nghe mụ Mão nói: "Ông nội bây ra ngoài đình làm việc, trong nhà chỉ còn bốn mẹ con và một cái hầm rộng, có gia đình bây ở cũng vui, đêm hôm "ôn" bây và mấy o lớn đi công vụ tau đỡ sợ". Ba mẹ Vi xếp dọn một góc hầm để gia đình tránh đạn, khi đó bà mới nhớ ra không mang theo áo quần thay đổi và mùng mền, bà bảo ông Chắc chạy về nhà xin lính vào lấy đồ. Ông Chắc và Vi trở lui xin lính vào nhà lấy đồ. Cha lính ngồi nấp trong lô - cốt trừng mắt không cho cha con ông vào nhà. Ông Chắc năn nỉ hồi lâu, hắn mới ra hiệu cho cha con ông đi theo con đường vòng giữa rừng thép gai và mìn để vào nhà lấy ít gạo. Trong lúc gấp gáp như vậy, ông Chắc cũng chôn được đầu máy may Singere sau khi bọc vào tấm toa-đờ-tăng.
Cha con Vi vừa đi vừa chạy ra hướng cồn mồ để lên nhà ôn nội chú cho gần, bỗng nghe cái "ầm"! ông Chắc biết lính đã giựt sập nhà, ông bỏ Vi chạy trở lui. Vi cũng chạy sau lưng ông chắc trở về nhà. Nhà ông Chắc còn một đống gạch vụn! Ông nhặt một miếng tường bể còn nguyên màu vôi hồng văng ra ngoài hàng rào, đi lui đi tới khóc... lần đầu tiên Vi thấy ông Chắc khóc, Vi sụt sùi theo...
Chiều ấy mấy anh Giải phóng quân vào chùa Thiên Hương sau lưng đồn lính. Họ gặp Vi đang đi vào chùa xin gạo, bà con truyền miệng với nhau, thầy trụ trì gọi những gia đình gần chùa, ai hết gạo và thầy chia sẻ cho mỗi nhà mười lon gạo ăn tạm. Vi thấy một anh bộ đội leo lên bệ cửa bắc ống nhòm quan sát trong đồn, một anh mang súng AK đi lui tớí canh cho hai bạn; một anh vai đeo cây súng dài như ống thổi lửa, sau lưng cõng mấy trái đạn to bằng bắp chuối sứ và có vẻ nặng trịch, anh ấy đi “thám thính” phía nhà trai. Vi tò mò lân la đến bên các anh. Thật sự đã có một đêm Vi được thấy hai anh bộ đội đem gạo đến nhà Vi khi nhà Vi chưa bị lính đồn Công binh giựt sập, nhưng hôm đó vào giữa khuya Vi chỉ thấy các anh thấp thoáng trong bóng tối, họ cố tình không chuờng mặt dưới ánh đèn. Lần này, Vi thấy ban ngày, rõ ràng mồn một từng ánh mắt, nụ cười, tiếng nói và súng ống. Ba anh, anh nào cũng trẻ, cũng hiền, có phần quê mùa, rụt rè như con gái. Chính những hình ảnh ban đầu ấy đã gây thiện cảm trong lòng Vi cho đến sau này. Một trong ba anh bộ đội nhỏ nhẹ hỏi Vi:
- Em biết lối nào tiếp cận lô lô-cốt không?
Vi gật đầu:
- Dạ biết chớ, đi xuống lối này sang vào hẻm xóm rồi "chui" thép gai vào trường học. Đứng ở phía sau trường học giáp hàng dây thép ngoài cùng, thấy cả cả nhà chỉ huy của ông Tri ở lận anh nà.
Một anh khác giọng nặng nặng miền Trung như người Quảng Trị:
- Cậu "dắt" chúng tôi đi được "khôn"?
Vi ngần ngừ nhưng rồi gật đầu:
- Dạ được.
Đi giữa đường Vi hỏi anh mang súng dài:
- Súng chi như ông thổi lửa vậy anh:
- B40.
- B40 kỳ quặt anh nhỉ?
Các anh bộ đội không nói gì thêm. Vi xăng xái dẫn các anh theo con hẻm luồn lách trong xóm đến dãy lớp học bỏ hoang gần vòng rào thứ nhất. Anh nói tiếng Bắc lại nhỏ nhẹ:
- Cám ơn nhé.
- Không có chi.
Anh bộ đội nói âm giọng miền Trung bảo:
- Em về được rồi. Đi đường cẩn thận, khi nào nghe tiếng ù nằm ngay xuống đất, chớ để nghe tiếng ùng thì "xong om" nghe hí.
Vi ngạc nhiên hỏi "tiếng ù" là sao? Cũng anh bộ đội giọng miền Trung nói, trái đạn "ù" là chuẩn bị bay xuống mục tiêu cách xa chỗ mình, có nghĩa nổ xa, con "ùng" một cái là nổ rất gần mình, còn thấy chớp lóa lên là nằm xuống không kịp nữa, vì âm thanh không nhanh bẳng miểng đạn pháo đâu cậu ạ. Tai nghe "ùng" và lóa sáng tức là miểng pháo bay đến cậu rồi đó.
Vi nấn ná ở lại để xem ba anh bộ đội làm gì. Vi thấy anh mang AK lăm lăm tay súng cảnh giới chung quanh, anh đã leo lên bệ cửa chùa rồi bàn bạc nhỏ to gì với anh mang súng B40. Anh mang B40 chỉa trái đạn qua khung cửa sổ, anh cảnh giới khẽ bảo Vi:
- Em tránh ra nào, không đứng sau lưng súng B40 nhé!
Anh mang B40 thụt một trái đạn chuối sứ vào lỗ châu mai đen ngòm ở cái cái lô-cốt nằm trong mấy lớp hàng rào thép gai. Một tiếng nổ không to lắm nhưng làm rung mái tôn lớp học, cây súng còn trơ nguyên chiếc ống thổi lửa dài ngoằn. Phía lô – cốt lại nổ một tiếng nữa và lớp bao cát ở chung quanh lỗ châu mai bung lên. Một tiếng reo vang lên:
- Trúng đích.
Rồi cả ba người nhanh nhẹn rút lui đưòng xóm, anh giọng Bắc lôi tay Vi theo và bảo:
- Em về ngay. Lát nữa chúng nó phản công đấy nhé, êm ở lại rất nguy hiểm! Nghe lời anh không nào.
Lúc đó Vi mới chịu về và không hiểu các anh bộ đội ấy có trở lại lớp học hay đi băng ra đường sau lên rẫy?
Tuần sau, cả nhà Vi hoằn toàn hết gạo, Vi cùng tốp bạn xóm, toàn những cu cậu nghịch ngợm, chỉ có Thu và Ngân là gái kéo nhau thành đoàn chạy ra cồn nhổ sắn. Đúng ra Vi nhổ sắn của ông nội chú ăn cũng được nhưng rấy sắn ông còn non tháng và bà Gái bảo sắn của ông dành cho bộ đội. Mấy hôm tá túc nhà ông nội chú, Vi thấy bộ đội, dân quân du kích thường vào ra, đoàn này vào, đoàn khác ra, đoàn nào vào mụ Mão cũng nấu sắn, nấu môn đãi bộ đội, có khi nấu chè đậu đỏ, nấu xôi, nhà ông nội càng nhanh cạn lương thực. Hơn nữa tính Vi thích chạy xem đó đây, chứ nằm hoài trong hầm chịu không nổi. Vi bàn với tui bạn xóm ra cồn nhặt đồ hộp, hôm qua Vi thấy máy bay thả mấy thùng đồ lọt ra hàng rào thép gai dồn lính. Bọn Vi dẫn nhau chạy ngang bin điện đầu đường dẫn ra cồn, bị một anh du kích đứng dưới lùm cây chặn lại, thằng Khai mau miệng:
- Tụi em ra cồn nhổ sắn ăn, nhà tụi em hết gạo rồi".
Anh ấy cho đi. Vi đoán anh ấy là du kích vì anh không mặc áo quần màu cỏ úa mà mặc đồ đen, Nói ra cồn nhổ sắn nhưng thật sự bọn Vi ra cồn chơi, bọn vi nhảy từ ngôi mộ này đến ngôi mộ khác tìm đồ hộp do máy bay trực thăng thả cho lính trong đồn, bị du kích bắn rát qua nên quýnh quáng thả ra ngoài hàng rào. Tụi Vi tìm được mấy thùng đạn và mấy thùng đồ hộp. Cả bọn khiêng đạn nạp cho anh du kích, đồ hộp khui ra chia nhau đêm về cho gia đình ăn tạm qua ngày.
Hôm sau, nghe tiếng trực thăng vần vần, tụi Vi lại rồng rắn kéo nhau ra cồn mồ đông hơn và cũng tranh nhau nhảy trên các ngôi mộ, mả Tàu để tìm đồ hộp. Chợt trong đồn bắn ra mấy loạt đạn chiu chiu, véo veo trên đầu. Cái Thu nhảy choi choi trên nấm mộ đất, nói: "Đạn chê tau! Đạn chê tau!" thì bị một viên đạn trúng ngực ngã vật chết tươi! Vi hớt hãi chạy bậy cũng bị đạn trong đồn bắn gãy cánh tay trái. Anh du kích bọn Vi gặp hôm trước đã bất chấp nguy hiểm lao vào tầm đạn của lính trong đồn vác Vi chạy về nhà ôn nội chú theo lời hướng dẫn của Vi, cô ý tá cứu thương ở trong các nhà dân rải rác đường lên rẫy đến băng bó cho Vi. Mụ Mão bảo mẹ Vi và o Phuơng con gái của mụ, o Phương mới mười bảy tuổi, đang học Đồng Khánh, đã là lính mới trong Ban An ninh. O giả dạng thường dân, tìm đường gánh Vi xuống bệnh viện, vì ở trên này thiếu phương tiện mổ xẻ, lại bom đạn ầm ì. Nằm trên cáng cho bà Gái và cô Phương gánh, cáng lắc xốc mạnh khi bà Gái bị trợt chân, Vi đau la oai oái. Cô Phương động viên:
- Ấy… ấy, trai tráng ai mà la như quạ quạ vậy? Cháu biết không, ôn mình - nói ông Mão - rất kiên cường, hai lần bị bắt giam ở nhà lao, bị tra khảo, đánh đập dã man vẫn kiên quyết không khai đó! Địch phải thả ôn mình ra ôn lại tiếp tục tham gia công tác bí mật.
Ai là người từng ôm vết thương tật loà lện máu, rên la như Vi mới thấm hiểu giá trị sự những cơn đau thể xác. Vi xin o Phưong sau khi cánh tay lành cho Vi hoạt động bí mật như ôn và như o vậy. O Phương im lặng trước thái độ sốc nổi của Vi. Sau đó o cười nói:
- Cháu ưa chi cũng được, nhưng trước nhất phải chữa lành tay đã, chừ chịu khó nằm yên để o và mẹ gánh qua cầu sập nì.
- Dạ!
Ở viện, Vi được các y bác sĩ Giải phóng quân mổ, băng bột và khoét ngoài cục bột dày trắng toát sau cánh tay trên trái một lỗ hình chữ nhật để thông ống cao su mềm, cho máu bầm rỉ ra. Lính Sài Gòn xua tăng tấn công Bệnh viện. Bệnh nhân táo tác mạnh ai nấy chạy, các y bác sĩ giải phóng rút qua sông. Lúc ấy cả gia đình Vi đã xuống viện để tiện săn sóc Vi và tránh bom rơi đạn lạc bởi ai cũng nghĩ Bệnh viện là nơi không bị đánh bom! Truwocs tình hình cấp bách, loan lạc ấy gia đình ông Chắc lại một phen tiếp tục gồng gánh, dìu Vi chạy đến ở trong một trường trung học.
Nhũng ngày nằm dưỡng thương ngắn ngủi trong sự chăm sóc, điều trị tận tình của y, bác sĩ Giải phóng quân, Vi có thời gian suy ngẫm đến bộ đội và lính cộng hoà mà Vi từng gặp. Giải phóng quân hiền lành, lễ phép, không tham lam bất cứ một chút của cải của ai. Vi nhớ đêm thứ hai, thứ ba gì đó trong cuộc tấn công và nổi dậy của quân dân tỉnh Vi, mấy anh bộ đội đeo mỗi người hai ba ruột tượng đầy gạo lẻn vào nhà Vi nhờ mẹ Vi nấu cơm. Vi phụ mẹ nấu nhiều nồi cơm, vắt từng cục nhỉnh hơn nắm tay chất đầy thúng khiêng ra để sau hè chái bếp, mỗi anh bộ đội đi qua ghé nhận một vắt cơm với nhúm muối hột dành ăn đâu đó trong bóng tối. Các anh lặng lẽ lĩnh phần kham khổ của mình với niềm vui anh ánh trong mắt. Vậy đấy, có rất nhiều anh chưa kịp ăn vắt cơm muối sống ấy đã hy sinh! Và hồi học tiểu học, Vi đã thầm phục sự hy sinh anh dũng của hai anh bộ đội vô danh, không ngờ đó là du kích làng Vân quê ngoại Vi. Vi cũng sung sướng và tự hào khi biết một trong hai anh là chú ruột của Hà. Hai anh chỉ vỏn vẹn hai cây súng trong điệp trùng vây của xe tăng, máy bay địch mà vẫn bắn chết hai cha lính cộng hoà hiếu chiến mới chịu ngã vào lòng đất mẹ. Mới đây một anh du kích đã xả thân vác Vi chạy trong tầm đạn sát thương của lính trong đồn công binh. Vi nghĩ, nếu các anh không có lý tưởng cao cả, không được sống dưới bóng cờ chính nghĩa của một chế độ ưu việt, của một Chính phủ luôn yêu dân yêu nước thì những người lính của họ sẽ không có những đức tính dũng cảm, nhân ái và chịu ăn cơm muối hột trong khi cái chết tiềm ẩn chung quanh sẵn sàng ập đến! Vi thấy hầu hết trên những khuôn mặt trắng trẻo xanh xao ấy luôn ngời một niềm tin dũng mãnh.
Bộ đội Giải phóng thật giản dị và anh hùng! Vậy mà bộ máy tuyên truyền của bọn tâm lý chiến chính quyền Sài Gòn không biết ngượng miệng, ngày nào đài, báo của chúng cũng ra rả nói xấu bộ đội ta một cách trân tráo. Chúng rêu rao rằng Việt cộng ốm o so bại đến sáu người đeo không gãy cộng đu đủ. Vi là thanh niên sống và lớn trong cái thị xã luôn hỗn loạn bởi nhiều sắc lính từ giới tuyến trở về và tạp nham bởi nguồn văn hoá thực dụng kiểu Mỹ xâm nhập trắng trợn vào đời sống người dân thị thành trong vùng tạm chiếm. Đi đâu cũng thấy thực phẩm, đồ hộp Mỹ quá hạn; snach bar, gái bán bar, me Mỹ loè loẹt phấn son đầy đường, đầy phố sá, đầy cả ngóc ngách tâm hồn những con người chỉ biết sống hưởng thụ, ngày ngày nằm dài trong bóng mát vật chất chờ mọi thứ thừa thải "hết đát" từ quân đội viễn chinh Mỹ thải ra. Dù muốn dù không Vi cũng phải ăn, cũng phải cùng thở và bắt buộc chứng kiến cảnh nhố nhăng hợm hĩnh của lính Sài Gòn. Chúng rừng rú một cách côn đồ, đi đâu cũng nghênh ngang ba trợn nhất là những khi trấn lột dân lành. Còn bọn sĩ quan thì phách lối ta đây, lúc nào cũng dương dương tự đắc, ra dáng tài giỏi, hào hoa mã thượng. Tài giỏi đâu chẳng thấy, hàng ngày Vi chỉ thấy chúng giỏi ăn cướp, chạy làng, đánh lộn nhau và giành gái. Cứ sau những cuộc hành quân tàn sát, phá hoại làng xóm may mắn sống sót trở về chúng ngụp đầu vào những thú vui xác thịt, trác táng thâu đêm trong các quán bar, tiệm nhậu, phòng trà, nhà thổ không cần biết đời về đâu. Có người từng tuyên bố rằng, nếu chết thì xin chết trên giường với người tình; chết lúc đang "phi" lâng lâng ở cõi tiên sau khi "choác vài xê" sái thuốc phiện còn sướng hơn chết banh xác ngoài trận tiền. Sự so sánh dồn nén âm ỉ bấy lâu đã nhen lên trong Vi một niềm yêu mến bộ đội Giải phóng quân miền Nam chân thành.
Tết năm ấy, cả nhà Vi mới biết ôn nội chú Vi hoạt động bí mật cho Cách mạng. Hai lần nội chú Vi đi tù Vi tưởng rằng địch tình nghi bắt lầm. Vi rất tự hào bởi ông nội chú là một điệp báo viên của Ban An ninh thị xã. Không biết có phải ác ôn chỉ điểm, hay tình cờ phát hiện, máy bay B.52 của Mỹ thả bom toạ độ xuống nhà ôn, nơi Ban An ninh ra vào làm việc, cả nhà ôn nội chú hy sinh, chỉ còn o Phương, o Thương còn sống. May mắn cho gia đình Vi đã chuyển xuống bệnh viện chăm sóc Vi, rồi chạy qua trường học ở nhờ để nhận cứu trợ từ các chùa làm từ thiện thoát chết!
(còn tiếp)
Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. Tác giả gửi trieuxuan.info
|