tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
02.11.2010
Nguyễn Nguyên An
Bầu trời cổ tích

MƯỜI BẢY


Sau Tết, thị xã nhiều nơi sập nát do bom đạn Mỹ. Trong cảnh hỗn quan hỗn quân ấy mệ Lê chạy bộ từ làng Vân lên tìm gia đình Vi. Mệ thấy nhà Vi còn đống gạch vụn, xung quanh rào dây thép gai dày rịt, lại còn treo biển "khu phi quân sự" vẽ một đầu lâu trắng hếu trên hai khúc xương bắt chéo! Mệ Lê vừa khóc vừa chạy xuống Ty công chánh tìm cha Vi, nơi cha Vi làm lục lộ. Căn nhà nầy truớc đây là một gian phòng bệ rạc, Ty dùng làm nhà kho. Sau khi quân Giải phóng rút lên chiến khu, bà con đâu trở về chỗ đó, nhà ông Chắc bị sập đổ, không biết về đâu, ông chạy xuống Ty Công chánh xin ông trưởng Ty một nơi núp mưa nắng qua ngày. Ông Trưởng ty nghĩ tình ông Chắc hè nào cũng về quê ông chạy máy nước cho gia đình bố mẹ ông, ông cho ông Chắc dọn về tạm trú trong một căn nhà cuối dãy nhà kho của Ty. Du là vậy, gia đình ông cũng được ở phố. Mệ Lê tìm đến đây, khi cả nhà Vi đang sửa oặn bửa cơm trưa, mệ thấy gia đình Vi đầy đủ, cho dù Vi bị thương ở cánh tay vẫn còn băng bột nhưng vẫn sống nhăn, mệ mừng đứng khóc ròng!. Vi cười hỏi ngoại:


- Ngoại… Hà và nhà cậu Thí có ai bị chi không?


- Nhà thằng Thí bình thường, con Hà thoát ly rồi.


- Thoát ly là sao hở ngoại?


- Là lên xanh làm Cách mạng không về nhà nữa.


Vi định hỏi thêm nhưng mệ Lê xây sang hỏi chuyện bà Gái, xóm làng bên nội Vi ai còn ai mất? Bà Gái cho mệ biết những người mệ Lê từng quen biết, từng gặp, ai còn, ai chết, ai bị thương, ai đi theo Cách mạng. Một lát, mệ Lê mới kể chuyện dưới làng cho cả nhà Vi nghe:


- Bây biết chưa, con Bờ đi gánh nước dưới sông bị trúng ca nông chết rồi.


Bà Gái hỏi:


- Chị Bờ chết thằng Bại ai nuôi mạ?


- Bà con cho nó nhà một ít để nó sống qua ngày chớ.


Anh Bại bà Gái hỏi là con trai thứ của mụ Bờ có bà con xa với bên nội bà. Trước đây, bà Gái nhớ mang máng anh tên Cu, anh thế hệ con cháu của bà, bà không chú ý cho lắm. Nhưng từ hôm anh nằm viện ra, anh có tên Bại. Cũng bởi anh chuyên nhảy xe Mỹ, nhảy xe Mỹ là đu bám lên đoàn công-voa của Mỹ để ăn trộm đồ hộp. Anh chạy xe rất Honda rất giỏi, anh chạy 68 lòn qua chỗ kéo rờ-móc xe mười hai bánh của Mỹ đang chạy, rồi chạy lạng qua lạng về, biểu diễn cho bà con đi đường xem, ai cũng xanh mặt, sợ anh bị tám bánh sau cán chết. Thường bạn anh chở anh đuổi theo đoàn công-voa Mỹ, khi xe Honda áp sát thành xe GMC chở hàng trong đoàn công - voa mà bọn nhảy xe Mỹ đã "nghía" đoán biết trong đó có hàng giá trị, anh nhảy lên lật những thùng hàng xuống, có lần anh lật nguyên một kiện hàng toàn súng Colt 45 bị một thằng Mỹ đen bắt được, hắn lấy lưỡi lê cắt gân cánh tay anh. Anh ôm cánh tay máu me tèm lem chạy quáng quàng về làng, vừa chạy vừa khóc vừa la: "Mẽo cắt cén, Mẽo cắt cén tui rồi... mẹ ơi...". Mụ Bờ đành đưa con đi viện cứu chữa vì chẳng biết kiện ai. Mà kiện loạng quạng tụi cảnh sát chụp mũ "Ăn cướp vũ khí để tiếp tế cho Việt Cộng" câu đầu giam trong nhà đá, thì khốn cả đời! Từ bà con làng Vân gọi anh là “thằng Bại” thành tên.


 Tình hình tạm yên, Vi cuốc bộ về làng Vân thăm ngoại. Đáng ra Vi đi xe đạp, nhưng một tay còn băng bột, mẹ Vi sợ Vi té xe, tay lại gãy, mẹ bảo vi nên đi bộ”. Trên đường đi Vi thấy nhiều nơi còn giăng nhiều vòng thép gai, lính ôm súng hầm hầm đứng gác. Khi vào làng Vân, một dải làng quê vắng lặng một cách đáng sợ. Đường vắng người, lâu lâu mới thấy một hai người vội vàng đi đâu đó với đôi mắt lo sợ. Dọc đường làng có một dãy gia thông hào, rải rác nhiều công sự chiến đấu của bộ đội Giải phóng quân và nhân dân để lại. Chứng tỏ nơi đây bộ đội và nhân dân đã kiên cường nổi dậy xây dựng tuyến phòng thủ đánh địch và làm bàn đạp tiến công vào thị xã trong những ngày đầu chiến dịch.


Quả thật kỳ lạ, nếu không có chiếc cầu xi-măng bị sập, chiếc cầu tre tanh banh giữa sông cùng những gia thông hào, công sự mới đào thì chẳng thấy dấu vết bom đạn? Có lẽ cây cối, sông nước đất đai làng Vân đã che đậy tất cả dấu vết chiến tranh vào lòng bao dung của nó. Nhưng tháng sau, Vi có dịp đạp xe đạp đem dầu lửa và thuốc Cẩm Lệ Bà Cửu Ới về cho ngoại. Vi rùng rợn khi thấy cả làng Vân và dãy làng liên tiếp dọc dài ven dòng sông Như Ý thơ mộng quê ngoại thật tiêu điều; nhiều nơi bị thiêu rụi, cày nát. Đi đâu cũng thấy tụi lính bình định nông thôn và lính trung đoàn 54 trợn trạo soi mói. Nhà ngoại cũng bị lính đốt còn một đống tro than. Ngoại phải che túp lều trên nền chái bếp cũ để núp mưa nắng. Vi thật sự khiếp đảm sức huỹ diệt của các loại vũ khí tối tân hiện đại của Hoa Kỳ. Những lũy tre ken dày ven dòng sông, những thửa ruộng hoa màu xanh non mơn mởn ven biền sông mới đó đã tiêu điều. Một dãy biền sông dài rộng, rậm rạp tre pheo là thế, giờ chỉ còn mươi cây tre cháy xém loà xoà xoã bóng héo úa xuống dòng sông nhuốm màu tang tóc! Thật là bãi biển hoá nương dâu! Trong làng gần như sạch nam giới, còn một số cụ già liều mạng không chịu bỏ làng nước, bỏ bàn thờ tiên tổ ra đi. Còn lứa thanh niên trai tráng đa số theo cách mạng, một số bị bắt cầm tù trong các nhà lao tỉnh, huyện và số ít vì công việc kiếm sống, lên tạm trú trên thị xã, năm giờ chiều trong làng tuyệt nhiên không còn thanh niên. Cậu Thí cha của Hà cũng bị chết oan! Mệ Lê kể:


“Lính Mỹ phối hợp với lính đánh thuê Mãnh Hổ Đại Hàn tràn về làng. Hành quân đến đâu chúng bắt bớ, đốt phá, cày xới tanh banh đến đó. Nhà nào chưa kịp giở mái chúng châm lửa đốt, nếu giở mái rồi chúng lại đốt đống rơm, nhà bếp để lùng sục du kích và khui hầm bí mật. Chúng thiết lập một vùng trắng ven thị xã. Nhưng bà con làng Vân vẫn bí mật chống trả. Cách chống trả âm thầm, dai dẵng và không kém phần quyết liệt là bất hợp tác, lặng lẽ cam chịu! Cảnh ngày địch đêm ta diễn ra âm thầm nhưng rất ác liệt. Một đêm du kích tấn công vào trại đóng quân dã chiến của địch, bắn chết ba thằng Mỹ. Sáng hôm sau chúng xách súng túa ra làng bắt đúng ba người chúng gặp ngoài đường sớm nhất đưa đi bắn chết! Một là cậu Thí cha Hà đi ra sông cất mẻ rớ đầu tiên trong ngày. Hai là thằng Quép lơn tơn đi chầu văn làng bên cạnh. Ba là chú Khâm đi ra sông nhổ bó câu gặm câu cá lóc mà chú gặm từ chiều hôm trước!”


Ba người đã chết Vi đều quen biết. Cậu Thí cha Hà một nông dân hiền từ chất phát, cả đời không biết hại ai. Cậu Quép tuy uốn éo như cá nghéo động trời nhưng bụng dạ rất tốt, những lúc tan buổi hầu văn chú thường gọi bọn trẻ đến phát quà từng cháu một, đứa nào cũng có, cũng hí hửng cầm chuối, bánh... chạy ù về nhà! Chú Khâm trong những ngày hè tuổi hoa niên của Vi, Vi và chú Khâm có nhiều kỷ niệm. Chính chú tập cho Vi chèo ghe trên sông, mới đầu Vi cầm chầm quậy mạnh xuống nước, chiếc ghe cứ xoay tròn không chịu đi tới, chú Khâm chỉ cho Vi:


- Cháu chèo dầm ép vào trong thân ghe, ghe mới đi tới, còn khi muốn "phanh" ghe, thì quậy ngược mái dầm lại. Cháu bơi quen rồi chỉ cần quậy nhẹ mái dầm ghe chạy ro ro ngay, sang trái, sang phải cũng chỉ khẽ động tay chèo vào trong hay ra ngoài, lên hay xuống là ghe qua trái về phải liền cháu nợ. Xuống ghe thử đi, chú đẩy ra giữa sông cho mà chèo, tập từ từ nghe…


Dạ. Chú ra ngồi với cháu, cháu sợ lại xoay tròn.


- Cháu biết bơi mà, sợ chi, cứ chèo đại tới lui giữa sông vài lần quen ngay. Chú lên tiện hàng không chiều nay bên chợ Đông cho người sang lấy rồi.


Chú Khâm tốt với Vi như thế, chú cũng sống tốt với mệ lê và bà con chòm xóm. Ở với mệ Lê bao năm, mệ đi đâu không nhờ, chú vẫn trông coi nhà cửa, vườn tược giúp ngoại. Vậy mà, ba người con hiền từ thân thuộc của làng Vân đều bị Mỹ trả thù một cách hèn hạ!


Từ ấy Vi ít về ngoại, về lần nào cũng gặp tụi lính loanh quanh trong làng, hơn nữa Hà theo Cách mạng rồi, Vi về chẳng có ai tậm sự bầu bạn, nên nửa tháng hoặc hai mươi ngày Vi mới đưa thuốc Cẩm Lệ, hàng quà về cho ngoại. Mệ Lê cũng sợ cánh tay Vi bị đạn chưa lành, tay Vi bây giờ cong cong, chỗ bị đạn mất hẵn một đoạn xương không liền được; một phần mệ cũng sợ bom đạn còn vướng đâu đấy trong bụi bờ, đất đá và sợ nhất là bọn lính hỗn hợp đóng trong ngoài xã, ở ngoài đình, bên cầu cho đến trong vườn, trong nhà dân; hầu như vườn nào, nhà nào cũng có tụi bình định nông thôn ; đứa nào đứa nấy mặt mày, râu ria xồm xoàm, hung dữ, nhin con gái người ta muốn thủng cả áo quần. Chúng lê la trong lang, suốt ngày nhậu nhẹt, ăn chơi, lùng sục, chim gái khắp làng, làng quê vốn yên tĩnh, giờ rậm rịch lính tráng! Mệ Lê muốn đi đâu cũng "được" chúng hỏi thăm cặn kẽ, rồi lại "bị” chúng gọi "má" xưng “con" mới chướng cái lỗ nhĩ chớ!? Nhà mệ trước đây từng có tụi lính đóng ngay nhà trên. Mệ muốn đuổi nhưng không biết tìm cách gì hợp pháp, mệ đành ỉa bậy, đái bậy ngay sau hè, gần chỗ chúng ăn nằm. Mệ nói là "Mẹ đau bụng bất tử nín không nín được, bệnh già mà mấy con ơi! mấy con thông cảm". Chúng cũng không chịu dọn đi, mệ ăn đồ chua, uống bậy bạ rồi đi re trong nhà luôn, lúc đó chúng chạy dài, cuốn võng, ba - lô, súng đạn đi nhà khác ở. Mệ Lê mừng húm.


Vi ở chơi với ngoại từ sáng đến bốn giờ chiều phải lên nhà theo lời ngoại dặn. Khi Vi chuẩn bị dắt xe ra ngõ đạp lên nhà, mệ Lê bảo Vi đợi, rồi bà giả vờ bưng thức ăn sang cho vợ chú Khâm, để xem tình hình mấy thằng lính quanh quẩn đâu đó hay treo võng nằm ngoài hiên. Vợ chú Khâm thậm ghét tụi lính. Nhưng thím không dám đuổi như mệ Lê, thím chỉ biết làm mặt buồn, suốt ngày vấn vành khan tang chồng sù sụ trên đầu làm tụi lính khó chịu! Nhiều khi  thím giả điên chửi cạnh chửi khéo tụi lính:


- Tổ cha đứa mô giết chồng tau!


- Mụ cô con mô thằng mô bắn chồng tau, để tau mẹ góa con côi...


Tụi lính ban đầu cũng khó chịu nhưng sau đó nghe riết chúng cười bảo với nhau:


- Đồ điên, chấp làm chi đồ điên đó!


- Để mụ chửi nghe cho vui ở đây lặng quá


- Chửi thì chửi nghe cũng đã, nhưng vặn nhỏ cái “vô-luym” cho tôi nhờ một chút.


Sang nhà thím Kham về, mệ Lê vào lấy thư của Hà viết cho Vi khi cô chưa rút lên chiến khu. Thư của Hà được mệ Lê cẩn thận gói ni-lông chôn dưới gầm giường. Mở thư Hà ra, Vi hơi bực bởi tính nghịch của Hà. Hà chỉ vẽ một dấu hỏi to tướng, nhưng ngay sau đó Vi mở thêm mảnh giấy dầu màu hồng lại có một bức ảnh trắng đen chụp chân dung Hà bên tiệm La Cảnh Lưu. Trong ảnh Hà ngời ngợi thánh thiện. Sau ảnh có dòng chữ tròn tròn đều nét: "Forget me not". Vi đứng lặng người sung sướng vì đây lần đầu đời Vi được một cô gái tặng ảnh, lại còn dặn “Forget me not” nữa chứ. Làm sao Vi quên nụ hôn đầu, mối tình đầu của Vi được nhỉ? Em là đoá uất kim hương đồng nội rỡ ràng khoẻ khoắn của Vi! Vi băn khoăn tại sao em đang học hành ngon lành lại xếp bút nghiên theo cách mạng? Lúc ấy Mỹ chưa bắn cha thì làm gì em căm thù giặc đến phải dấn thân vào cuộc chiến đầy hiểm nguy này? Vi hỏi ai móc nối em ? Mệ Lê rỉ tai:


- O nớ giác ngộ mới giỏi!


Vì quá bất ngờ, Vi hỏi một câu hơi vô duyên:


- Giác ngộ là sao hở ngoại?


- Giác ngộ là giác ngộ chớ răng nữa mà hỏi hè.


Vi cũng nói thật nhỏ với ngoại:


- Hà đang học Đệ Nhị bỏ ngang uổng quá ngoại nhỉ?


- Giặc vào nhà đàn bà cũng đánh, ai đánh được cứ đánh, hoà bình đi học lại lo chi hèo.


Lời ngoại nói về Hà làm Vi suy ngẫm suốt đoạn đường từ làng Vân lên nhà. Đáng ra, Vi không bị lính của cha Tri bắn gãy tay Vi cũng theo các chú, các anh ở Ban An ninh thị xã, hoặc Đoàn 5 rồi…


 


MƯỜI TÁM


Vi đang trên đường đi học, một chiếc xe jeep đỗ xịch bên lề, hai tên lính nhảy xuống lôi Vi lên xe ấn Vi ngồi xuống ghế sau. Xe tiếp tục chạy... và chở Vi thẳng vào đồn công binh. Xuống xe bọn linh cômg binh lôi Vi vào một căn phòng trống huơ, trong phòng chỉ một cái bàn chữ và hai cái ghế đẩu. Trên bàn có một cỗ máy, Vi nghĩ đó là máy dùng thông tin liên lạc. Đứng, ngồi trong phòng có ba ông lính. Vi bớ sớ không biết bọn lính định làm gì mình? Một thằng trung sĩ xộc vào, trừng mắt nhìn Vi:


- Mi theo Việt cộng từ lúc nào? Khai ra!


Vi ngạc nhiên ú ớ:


Em... em... không biết chi...hết...


- “Bốp”


 Thằng trung sĩ giáng xuống mặt Vi một tát tai, Vi tối sầm, tai nghe bưng bưng… đến tắt tiếng một lúc. Thằng lính lại nạt:


- Không biết a? Mi cả gan chỉ đường cho Việt Cộng bắn vào lô cốt số sáu? Bây đè hắn xuống cho tau nà!


Hai thằng lính vật Vi nằm xuống. Một thằng quỳ cả người xuống đè cứng hai chân Vi. Một thằng dùng giày botte-de-sau đè mặt Vi. Mặt Vi dính xuống nền xi măng. Thằng trung sĩ dùng chiếc gậy cao su, đầu tròn to, thon thon chạy dài lui sau tay nắm, đánh liên tiếp vào lưng đít Vi. Hắn quất, Vi la, hai thằng cười... Đánh Vi một tăng, nghỉ tay, hắn hổn hển hỏi:


- Mi... biết thằng...  nào còn trốn...  quanh...  đây khai ra, tau tha!


Mặt Vi đau rát dưới gót dày thằng lính đứng trên đầu, bụng vẫn nghĩ: "Không biết thằng nào mách lẻo lại cho tụi lính, tụi rành vậy?. Nhưng nếu khai ra chắc mềm đòn với tụi này thôi, dại chi”. Vi nói trong tiếng rên:


Tôi không biết. Tôi không dẫn ai hết.


A! Thằng này ngoan cố, đánh tiếp cho tau!


Ba thằng lính thay nhau đạp mặt Vi, đè người Vi cho mọt thằng đánh Vi dén thở dốc. Cả ba thằng đều mệt. Đứa ngồi trên bàn, thòng hai chân xuống nền xi măng đong đưa, thở… Đứa ngồi dựa người vào chế ghế đẩu, thở. Thằng trung sĩ lấy thuốc phì phà vừa hút, vừa thở và thở... Vi nằm bẹp giữa phòng, đầu suy tính dữ dội, cả người Vi tê rần quên cả đau đớn:


“Làm sao trả lời chúng cho hợp lý đây? Không lo khai ra, chúng đánh chừ cho đến tối chắc mình nhừ đòn! Nhưng cũng phải dứt khoát chối bỏ. Sực nhớ hồi Tết khi Vi dắt mấy anh bộ đội len lỏi trong hẻm, thấy một đôi mắt lanh lánh thấp thoáng sau khung cửa nhà thằng Tứ! Gia đình thằng Tứ là dân ngụ cư trong xóm Vi. Chính nó mách với tụi lính trong đồn chớ chẳng ai khác? Tứ cũng nhập bọn với tụi Vi đi nhổ sắn và nhặt đồ hộp từ máy bay trực thằng thả ngoài cồn trong ngày đầu. Hôm sau tụi Vi  rủ nó, nó nói:


- Mẹ tau không cho đi, sợ họ bắt!


Vi nghĩ khác, nó không đi vì cha nó đi lính Cộng hòa, ông ta đã lẻn vào đồn theo lời kêu gọi trên loa phóng thanh của cha Tri cùng tử thủ. Nhưng Vi vẫn khoe:


- Sợ chi mà sợ, tau quen mấy anh bộ đội, đi ra cồn nhổ sắn với bọn tau, mi khỏi lo đi!


Đang suy tính tìm cách đối phó Vi nghe mấy thằng lính cười nói với nhau: 


- Cho nó nếm mùi!


Tức thì hai thằng lính lôi Vi dậy, xốc nách Vi đi đến cỗ máy trên bàn. Một tháng lôi cánh tay bị đạn của chúng bắn hồi Tết tới chiếc máy rồi cột hai ngón Vi vào hai đầu mối tròn. Vi đang ngạc nhiên không hiểu chúng định làm gi mình? Thằng trung sĩ hất hàm nạt:


- Mi khai ra tau tha!


- Em... biết chuyện chi mà khai.


- Quây.. Quây!...


Thằng lính đứng cạnh cỏ máy cầm cái cần quay và quay...Vi giật thót người la lên:


- A... a... a...


 Vi la! Tụi lính cười sặc sặc...


Cứ người la kẻ cười như thế cho đến lúc Vi gật đầu hứa liều, chúng mới thôi quay. Vi viết lại sự việc bọn Vi khiêng đạn cho du kích. Vi còn chú thích, bọn Vi bị bắt buộc chứ không tội gì phải khiêng đạn cho nặng. Vi còn lý luận, muốn ăn đò hộp, gạo sấy phải khiêng đạn, người ta mới cho, coi như trao đổi thôi, chứ không tiếp tay...


 Xế trưa, Đại úy Tri, Chỉ huy trưởng đồn công binh vừa vinh thăng thiếu tá bệ vệ bước vào:


 - Nhà mi ở sát đồn phải không?


- Dạ!


Cha mi làm cu-li công chánh?


- Dạ!


- Sao mi ăn cơm Quốc gia lại thờ ma Cộng Sản?


- Dạ không có.


- Mi không dẫn đường sao  Cộng Sản biết đường tắt tiếp cận đồn tau hả? Mi còn đi lượm đạn của Quốc gia tiếp tế cho Cộng Sản nữa. Mi loạng quạng tau đem ra cột cờ bắn bỏ!


- Dạ mấy chú đó biểu...


"Bốp!"


Thằng trung sĩ lại giáng vào mặt Vi một tát tai, Vi ngã dụi. Hắn nạt:


- Chú cái con c...


Vi ngồi bệp giữa phòng, nói:


- Dạ họ biểu con dẫn đường, con sợ quá con đưa họ ra xóm sau, nhưng ngang giữa xóm con trốn chạy về nhà - Vi vén cánh tay có một vết sẹo hồng hồng hình con rít cỡ bự bò ngược lên vai ra cho cha tiểu đoàn trưởng coi và tiếp - Hồi đó nhà con hết gạo ăn, con cùng với tụi bạn trong xóm (ý Vi muốn nói còn nhiều người chớ không phải mình Vi) ra lượm gạo sấy, đồ hộp, máy bay thả thùng nào ra khỏi hàng rào thép gai, tụi con cũng khiêng vô hết, họ chặn tụi con lại lấy đạn chớ tụi con có nạp cho họ đâu.... lạy quan lớn tha cho con với cả tội. Oan cho con lắm!


- Oan cai con c. - Thằng lính đưa cho Vi tờ biên bản, hắn vừa chửi thề vừa bắt buộc Vi – Đ. mẹ… ký vô lẹ lên tau tha.


Vọ sợ đòn, cầm bút ký đại vào tờ giấy. Đồn trưởng Lê Viết Tri không nói gì nữa. Ông ta quay lưng đi ra. Thằng trung sĩ lơn xơn đi sau lưng. Vi nghe loáng thoáng:


- Giao cho An ninh quân đội hay cảnh sát...


Ông  đồn trưởng ục ịch đi về phía cột cờ nơi có chiếc xe jeep mới cáu đứng chờ. Thằng trung sĩ trở lại nhìn Vi từ đầu xuống chân, rồi cười... Vi đang đứng sát người vào tường lo lắng, thằng trung sĩ đi ngang qua Vi, bất thình lình hắn xoay nửa vòng găm cùi chõ vào ức Vi cái ào. Vi tá hoả bật ngữa xuống nền xi măng quay tròn, quay tròn... rồi lịm đi...


Khi tỉnh dậy, Vi nghe đau âm âm nơi ngực, thở mạnh nghe cấn sau lưng và hai ngón tay bỏng rộp. Đây là lần đầu Vi nếm mùi tra điện mà Vi từng nghe người ta trạo miệng với nhau về kiểu tra tấn dã man của tụi cảnh sát thẩm vấn. Vi thấy tra điện hơn bị điện giật ngàn lần vì điện ở chiếc máy này mà sau đó Vi biết đó là máy PRC 25 giựt đau nhói tận tim.


Chiều hôm đó, chúng không giao Vi cho An ninh quân đội mà đưa Vi vể trung tâm thẩm vấn. Vi nghĩ đời Vi sắp tàn vì từng nghe người ta nói ở Ty thẩm vấn là địa ngục trần gian. Người nào bước vào đó ít khi được ra, mà nếu có ra cũng tàn phế hoặc dở điên dở khùng. Vi không ngờ cảnh sát chỉ thẩm vấn qua loa rồi giải Vi sang Trung tâm cải huấn. Được ở tù tội tình nghi theo Việt cộng Vi mừng. Vi nghe anh em tù nói, tội này không ở lâu sớm được tha sau khi thanh lọc.


Dạo sau Tết một thời gian, tụi lính thuỷ quân lục chiến Mỹ phối hợp với lính đánh thuê Mãnh Hổ Đại Hàn và tụi lính nhảy dù, thuỷ quân lục chiến Sài Gòn cùng trung đoàn 54 bộ binh quân khu I vùng I chiến thuật và cả tụi Xây dựng nông thôn mặc áo đen tràn về các làng mạc ngoại ô chung quanh thị xã. Chúng lùng sục, xăm xỉa chà đi sát lại nhiều lần, nhiều làng mạc thôn xóm để tìm hầm bí mật, thiết lập một vùng trắng chung quanh thị xã. Chúng ngang nhiên bắt bớ giam cầm, bắn giết dân lành vì tội đào công sự, giao thông hào, giao tiếp liên lạc với du kích, bộ đội Giải phóng quân trong dịp Tết. Người bị tội tình nghi như Vi lên tới con số mấy ngàn. Vi nghĩ, Vi qua Trung tâm cải huấn có lẽ nhờ mẹ Vi chạy chọt cho Vi sớm thoát vòng lao lý, chứ không dễ gì may mắn vậy.


 Trung tâm cải huấn là một nhà lao kiên cố. Nằm cuối con đường cụt dài gần hai trăm mét. Trước cửa chính nhà lao là hậu đường Toà tỉnh. Vi nghe tù nhân nói nhà lao xây từ năm 1885. Họ xây bao bọc hai lớp tường rào dày cao. Lớp tường trong thấp luôn có hai sợi dây đồng để trần dẫn điện chạy song song gắn theo chiều đứng bức tường. Lớp ngoài cao vọi cũng chạy hai sợi dây điện trần và bùng nhùng dây kẻm bên trên. Nó không xây tầng lầu bít bùng theo hình bát giác, không có nhà thờ, không có chùa của như nhà lao Chí Hoà nhưng cũng một con đường nhựa chạy quanh giữa hai bức tường cao nghệu và bốn góc bốn tháp canh kiên cố. Nhà lao thừa Phủ hơn Chí Hoà ở chỗ dày dịt tầng tầng lớp lớp dây thép gai phía bên trên bờ tường trong và tường ngoài, dưới chân bờ tường lại đầy mìn, lựu đạn. Tù nhân đục tường thoát ra bên ngoài tường cũng khó sống sót khi càn qua bãi mìn nầy.


Phòng giam Vi ở là đoàn O có bốn dãy ca rê, ca rê dưới xây xi măng, ca rê trên làm bằng gỗ. Tù nhân nhiều thế hệ ăn nằm ngủ nghỉ lên đấy đã ngả màu vàng láng bóng. Ở giữa phòng có một lối đi xuống nhà xí. Nhà xí không bao giờ bị tắt nghẻn nhờ mỗi tuần tụi đại diện bắt xã cầu, xịt nước cho phân chảy xuống cống trôi tuốt ra sông Hương.


Vi vào tù một bữa, bữa sau cai tù mở cửa gọi tên Vi. Vi mừng run vì ngỡ được về nhưng sau đó biết thân nhân đến thăm. Vi lập cập bước theo sự hướng dẫn của nó ra khỏi bức tường trong đến một phòng rộng trong bức tường ngoài. Gặp mệ Lê và bà Gái đứng lẫn trong đám người thăm tù. Vi khóc như mưa! Mệ Lê đứng nhìn Vi với đôi mắt thiết tha xen lẫn bất lực. Khi được đến gần Vi, mệ hỏi nhỏ:


- Cháu bị tội chi?


Vi trả lời vắn tắt vì lúc ấy bọn lính coi tù đứng gần đấy theo dõi các động thái của tù nhân:


- Tình nghi.


- Để mệ biểu mẹ cháu nhờ thằng Phú bảo lãnh cho.


Nghe mệ Lê nói "thằng Phú" Vi mừng. Ông Phú ở cùng xóm nhà cũ của Vi đi cảnh sát chức thẩm sát viên.


Trong những đêm nằm trăn trở trên ca-rê Vi nghĩ nhiều về em và bà ngoại. Dường như em và ngoại muốn giấu Vi điều gì? Em bây giờ đường đường chính chính đi Cách mạng; còn ngoại thận trọng một cách đáng ngờ!? Nhất là thái độ của ngoại trong đêm Vi cầm đùi chạy ra vườn bắt kẻ trộm?...


Ở nhà lao một thời gian, Vi bị chúng cưỡng bách đi quân dịch. Chúng giao một đợt hai mươi người tù tình nghi cho Ban tuyển mộ nhập ngũ. Ban tuyển một tống thẳng Vi và các bạn tù vào Trung tâm nhập ngũ tận Sài Gòn. Vi cũng mừng vì được tự do hơn ở mãi trong tù, ngày ngày khỏi phải chung đụng với bọn đầu trộm đuôi cướp…


 


MƯỜI CHÍN


Chiếc máy bay DC6 lạng quanh một vòng trên không rồi đáp xuống đường băng sân bay Phù Hương. Vi mất cảm giác hụt hẫng như bị ai đó thả rơi tự do từ trên cao xuống đất, người bị một lực ép từ phía trước chẳng khác khi đi xe tốc độ cao. Vi tháo dây an toàn, ngồi thừ người chờ mọi người lục tục lấy hành lý rồi theo xen giữa dòng người bước xuống cầu thang. Đây là lần đầu tiên Vi đi máy bay, cũng như lần đầu bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, ra sân bay Phù Hương. Đối với một thanh niên con nhà nghèo như Vi, chuyện được đi máy bay không dễ dàng có được. Vi lớ ngớ khi đặt chân xuống lớp ri nhôm của sân bay, và cố gắng thản nhiên xách túi xách xe. Vi thấy gần dãy nhà vòm chất đầy bao cát dành cho máy bay trinh thám L19 tránh đạn pháo kích sẵn một chiếc máy bay vận tải quân sự C47 và hai chiếc GMC chở đầy quan tài phủ cờ dài ba sọc đỏ. Xa hơn, một tiểu đoàn lính dù mặc áo quần rằn ri màu đỏ bệt máu khô, chúng đang lỉnh kỉnh súng đạn lủ khủ ra trận...


Bất giác Vi thở dài ngao ngán, nhớ lại những ngày khốn khổ ở quân trường Quang Trung mà Vi bị đưa thẳng từ nhà lao vào. Chúng không cần biết cánh tay Vi đã gãy! Chúng khám qua loa rồi tống Vi vào quân trường học quân sự. Học quân sự được một tháng, cực khổ và mất tự do, đi đâu cũng phải trình báo nhưng cũng chỉ đi được trong vòng dây thép gai và những bãi tập quy định trong phạm vi quân trường, chẳng khác chi ở tù nếu không được hưỏng mức ăn cao hơn, đỡ hơn ở Thừa Phủ một chút nhưng cực hơn ở tù bởi mỗi ngày từ 5 giờ sáng cho đến 9 giờ tối, tụi sĩ quan huấn luyện vần tân binh như vụ. Vi quyết trốn, lấy dao vạch lên vết thương cũ, để bẩn cho vết thương nưng mủ. Cuối cùng Vi được đi trạm xá. Ở trạm xá tụi lính gác lỏng lẻo, Vi lợi dụng đêm tối trốn về nhà ông chú. Ông chú Vi sợ mang tội chứa chấp đào binh, bảo:


Cháu không nên chường mặt ra đường bởi mặt cháu hơi đen.


Nhưng mấy hôm sau ông chú lại nói:


Trông cháu còn thư sinh chán đi phi cơ ai cũng tưởng con nhà giàu được miễn dịch gia cảnh, không lo bị hỏi giấy tờ bất tử.


Nhờ quen biết, ông chú mua cho Vi một vé máy bay bằng giấy khai sinh thằng trai đầu tuổi còn đi học và xin cho Vi một giấy cớ mất "Thẻ căn cước"  trùng tên với khai sinh. Vi được dịp đi tàu bay trốn về nhà. Về nhà trốn ở đâu? Sống ra sao? Có dùng ngay mảnh giấy khai sinh của đứa em chú bác này xin đi học lại được không? Có hợp lệ quân dịch không?...


Chiếc xe ca dừng lại trước chợ Phù Hương, tiếng người trong xe đột nhiên nhao lên... Một chị béo tru tréo:


- Dừng chi bất tử vậy cha? Ngồi trên phi cơ hơn tiếng đồng hồ chóng mặt thấy bà đi, chạy nhanh cho người ta về nghỉ ngơi với chớ.


Anh tài nở nụ cười méo xệch:


- Cô bác thông cảm cho em mấy phút, em lấy thùng hàng, chạy liền!


Vi ngồi trong xe lướt nhìn dãy snach bar và những gian hàng bán đồ hộp, bánh kẹo quá đát của Mỹ thải ra ở bãi rác đã mọc lên san sát hai bên đường. Vi chợt thấy có ba thằng lính Mỹ, một đen thằng hai thằng trắng xách súng AR 16 đi ngất ngưỡng giữa đường. Trong hẽm một bầy con nít lếch thếch chạy ra đón ba thằng Mỹ:


- Ô kê, ô kê...


- Ô kê sa lem


Một thằng bé con tóc hoe nắng, chắp hai bàn tay vào nhau nhịp nhịp, nói:


- Ô kê bum bum...


Thằng Mỹ đen cao lớn dềnh dàng nhoe cái miệng đỏ lòm và hàm răng trắng ỡn như ông tây đen trong tấm bảng quảng cáo kem Hy-nốt cười hềnh hệch khoe hai hàm răng trắng toát. Thằng Mỹ đeo lại khẩu súng qua vai, để thừa hai bàn tay hộ pháp nhịp nhịp như thằng bé và gục gục cái đầu tóc xoắn tít. Thằng bé sà tới kiễng chân ôm cánh tay lông lá của thằng Mỹ đen và nó cong cả người lôi thằng Mỹ vào hẽm. Hai thằng Mỹ kia cũng khật khưỡng theo sau tụi con nít...


Nhìn cảnh ấy Vi cay đắng trong lòng, một nỗi buồn vô cớ ập đến. Làng Phù Hương tuy không gần làng Vân nhưng chung một quận với làng nội, làng ngoại của Vi. Từ khi lính Mỹ và lính chư hầu chiếm đóng trong ngoài phi trường. Rồi căn cứ Sư đoàn I bộ binh, trung tâm huấn luyện Đống Đa cùng doanh trại hậu cứ, tiền phương, tiền trạm của các binh chủng thiện chiến như nhảy dù, thuỷ quân lục chiến, biệt động quân của Quân lực Việt Nam cộng hoà đóng quân trong địa bàn Phù Hương. Đã biến Phù Hương từ một vùng quê yên lành trên Quốc lộ một thành nơi náo nhiệt phồn vinh một cách lai căng, trơ tráo. Tụi lính, sau những trận hành quân, chúng ùa ra làng Phù Hương ăn chơi xả láng. Từ đó làng Phù Hương cập rập mọc lên những động gái, snach bar, quán ăn uống nhậu nhẹt để phục vụ cho đám quân lính côn đồ ô hợp đó. Biết bao cô gái xưa nay hiền thục chân quê đua nhau làm tạp dịch trong trại lính Mỹ, làm vợ hờ của Mỹ, của Đại Hàn. Chúng biến các cô thành những "ma ri sến" mắt xanh mỏ đỏ, mặt mày nhoe nhoét phấn son rẻ tiền; chúng xem các cô như một mốn đồ chơi di động, xài xể các cô đã đời rồi bán đi cho thằng khác. Có lần, Vi nghe một anh chàng làm bồi phòng ở một khách sạn, anh ta chuyên cạo trầy sơn ở bên trong những tấm cửa kính phòng ngủ, để nhòm trộm bọn lính Mỹ làm tình, anh kể: "Mi không biết đâu, tụi Mỹ tàn bạo lắm, ăn của chúng vài đô cũng "toát mồ hôi trán, rán mồ hôi …". Chúng nhận chìm bao cuộc đời ngây thơ trong trắng xuống vũng bùn nhơ nhuốc tội lỗi. Trước đây, nhiều lần Vi thấy các em thiếu nhi bỏ học rong chơi lêu lổng, gặp đoàn công voa Mỹ chở binh lính cùng vũ khí, đạn dược chạy bạt mạng trên đường, các em ham vui ngữa tay: "Ô kê, Ô kê..."Trên xe, những Mỹ trắng, Mỹ đen cầm sẵn những lon đồ hộp quá hạn sử dụng ném xuống cho các em, để xem các em tranh dành nhau. Một lần, Vi thấy một em gái đi học về, gặp xe Mỹ chạy qua, em cũng ham vui bắt chước: "O.K". Lính Mỹ thấy em xinh xắn ném cho em lon chè làm gãy tay em! Nhưng Vi chưa thấy một thằng bé nào ngần ấy tuổi đầu đã biết dắt khách ngoại quốc cho gái làm tiền thì thật là khủng khiếp. Vi oán bọn Mỹ vì chúng không chỉ đem bom đạn, chết chóc đau thương đến với đất nước của Vi mà còn đầu độc nhiều thế hệ đàn em Vi...


Một tiếng thịch vang lên, quay lui Vi thấy anh tài quăng một bọc nilon lòi sáu súc thịt màu hồng đã nhờn nhợt vào giữa xe. Anh ta ngượng nghịu:


- Cô bác thông cảm...


Bà béo lại lên tiếng:


- Thịt ni do các bà làm "mét-xo" trong trại lính Mỹ ngâm nước mả cả đêm cho tụi Mỹ đổ ra bãi rác. Mấy bà lượm về tém tỉa, bọc giấy kẽm, nilon đem bán. Tưởng chi báu mà bắt cả xe chờ tự khi hồi đến chừ. Ăn thịt đó vô đau bụng thấy bà đi!


Anh tài hằm hằm nổ máy... xe tiếp tục chạy...


(còn tiếp)


Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. Tác giả gửi trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »