tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
10.11.2010
Nguyễn Nguyên An
Bầu trời cổ tích

HAI MƯƠI SÁU


Đêm dần xuống, bóng ngày le lói dùng giằng với bóng chiều chạng vạng đang thẫm đen dần dải làng và cánh rừng thưa phía dưới cánh võng của hai cô gái. Hai chị em cuốn mình trong võng phòng muỗi, chỉ thò mặt ra nói chuyện thầm thì với nhau cho quên đợi chờ. Hà thúc Hường đi sớm. Hường bảo đợi khuya an toàn, người dân trên đi đường rẫy về nhà, gặp họ bất lợi cho  tụi mình. Rồi Hường kiếm chuyện cho Hà đỡ sốt ruột. Hường hỏi:


- Mi biết Tùng không?


- Anh Tùng thiếu úy phải không chị?


- Ừ Tùng thiếu úy Cộng hòa là người của ta đó.


- Hà biết rồi! Hồi đi học, hai lần Hà cặp kè anh Tùng đi thả truyền đơn. Một lần Vi gặp, tưởng Hà bồ ruột của anh Tùng, Vi ghen bất sững đi chị nờ.


- Ừ Tùng đẹp trai, đeo thêm bông mai bạc trên ve áo, hỏi mấy cô gái tân thời tiểu tư sản không mê răng được.


Hà rất quý Hường nhưng mỗi lần nghe Hường nói từ "Tiểu tư sản" là y như Hường ám chỉ Hà. Hà bực mình nhưng dám nói ra. Trong tiểu đội nữ một mình Hà học lớp 11 trường Đồng Khánh danh tiếng, thì "bả" ám chỉ Hà chứ chẳng ai khác? Hà nén bực dọc bởi Hà muốn biết nhân thân của anh “cha” thiếu úy lãng mạn hai, đã hai lần đòi hôn người ta, làm như người ta là bồ của "cha" không bằng. Hà nói:


- Đẹp thì đẹp kệ anh ta chơ. Hà không thích anh Tùng vì răng chị biết không?


- Vì răng?


- Đi với Hà, anh Tùng ưa lợi dụng lắm. Ngồi trong xi nê anh đòi hôn Hà thiệt luôn đó chị Hường. Anh còn nói cho anh hôn để tụi lính ngồi sau khỏi nghi, người yêu của lính ai lại ngồi như phổng đá rứa?


- Mất mát chi mà mi sợ. Tau cho anh hôn đã thì thôi hì... hì...


- Nói như chị rứa nói làm chi. À, có phải chú Bảy làm công tác địch vận kêu gọi anh Tùng về với ta phải không chị?


- Cũng gần như rứa. Hồi đó đơn vị mình đóng trong lăng Gia Long. Một bữa tau thấy chú Bảy, anh Lâm và mấy chú du kích làng mình mặc đồ rằn ri, nai nịt súng đạn đi công tác. Tau nghi nghi hỏi chú Lâm, chú Lâm ú ớ hồi lâu rồi câm miệng hến. Chập tối, chú Bảy dẫn Tùng về, chú Lâm mới kể trước sau cho tau nghe tường tận. Mi biết mấy chú đi mô không? Chú đi bắt ác ôn là Đại úy Cáo quận trưởng quận Nam Hoa đó. Mấy ngườiai cũng mặc đồ lính thủy quân lục chiến. Phe mình mặc đồ tụi nớ trông cũng dữ dằn lắm mi nợ. Chú Bảy đóng sĩ quan, tau thấy lạ hoắc không hợp với cái tạng người hiền hòa của chú nơi mi nờ. I... mà lạ chưa mi, chú hiền rứa khi đóng đồ lính của tụi nớ vô trông oai lắm, áo quần thay đổi tính cách của con người sao? Hay tau thành kiến với tụi lính, thấy là ghét phải không Hà? Mi học cao hiểu rộng, giải thích cho tau nghe thử coi!


Hà cười, nói:


- Chi mà phải học cao lận chị. Tụi lính ưa huyênh hoang, đi đánh nhau lại ưa sắm đủ thứ rằn ri, nai nịt, giày mũ, áo giáp, nón sắt kềnh càng, vướng víu để tăng phần oai vũ. Chúng không nghĩ ra rằng, sức mạnh súng đạn, tàu bay tàu lặn, xe tant, hỏa tiễn... chỉ là hỏa lực mạnh. Hỏa lực mạnh không bao giờ làm nên chiến thắng toàn vẹn đâu chị ạ. Sức mạnh của chính nghĩa mới thắng lâu dài bền vững, chính nghĩa có nghĩa luôn đứng về phía nhân dân, bảo vệ dân, sống chết vì nhân dân. Ngay cả cái tên các đơn vị chúng nghe cũng dữ. Hà nghĩ chỉ vì không thuận lòng dân nên chúng mới dùng danh xưng, áo quần vằn vện, cọp beo để trấn áp dân lành, chúng tưởng sẽ làm nên chiến thắng bằng bạo lực, bằng phỉnh phờ, lừa mị... chúng sẽ thua to, thua lớn, thua đậm cho mà coi! Chị chờ xem Hà dự đoán có trúng không hí?  Ta sẽ toàn thắng!


- Chà, hôm ni mi nói như chính trị viên đại đội không bằng. Ừ, tụi Mẽo làm cái chi cũng bạo liệt, dữ tợn rứa mà nhát gan thấy mồ đi, ta đánh cho chạy re trận ni rồi trận khác. Hồi trước Tết tau và chị Lê bất thình lính đụng tụi Mẽo. Tau đôi quả lựu đạn chày, chị Lê quạt một băng AK, tụi Mẽo nằm bẹp xuống đất, không dám cất đầu lên, mặc hai chị em tau bỏ chạy chết bỏ… thoát nạn. Tụi Mỹ được cái vỏ thôi, chứ gặp tụi mình, tui nó lại chảy nước đái trong quần luôn đó mi nờ.


- Công bằng mà nói, tụi Mỹ cũng có thằng dữ thằng hiền, nhưng đa số thằng nào cũng tham sống sợ chết, không dám hy sinh vì lý tưởng dân tộc vì sự an nguy của đồng đội như bộ đội, dân quân du kích của ta. Nhưng chúng giỏi lao động lắm chị Hường ạ, đồ dùng của chúng cũng tốt. Hồi đi học, em từng thấy tụi nó làm đường, trưa hầm hập rứa mà tụi hắn hì hục cày xới, rải nhựa một mạch cho tới 1, 2 giờ trưa chưa thèm nghỉ. Còn mấy ông Công chánh nhà ta làm đường sá không ra gì lại còn mang cái thước sau lưng, họ làm chi cũng trầm trầy trầm trật, đường mới làm vài bữa đã hư lên hư xuống, phát bực.


- Mi binh tụi Mẽo à? Mất quan điểm hèo! Chúng giỏi hay lếu mặc kệ, chúng xua quân phá làng phá xóm giết hại dân ta, ta chống trả đến viên đạn cuối cùng!


- Binh mô mà binh, thấy chúng làm đường ngon Hà nói vậy thôi. Chị kể tiếp đi, khi không lạc đề, đang hồi hấp dẫn.


- Ừ, mi biết răng không, chú Bảy dẫn anh em ra tận ngoài cầu Lim. Ba người nghênh ngang dẫn nhau vào một quán cháo lòng sát đường, kêu bia con cọp ngồi nhậu chờ thằng đại úy Cáo đánh xe jeep. Thường chiều thứ bảy, Cáo lái xe về nhà mụ vợ chính. Mi thấy thằng Cáo dê dễ sợ chưa? Nó lấy ba, bốn mụ vợ lận, không tính em út lăng nhăng. Theo anh em trinh sát báo đường đi nước bước của Cáo như vầy, chiều Thứ bảy hắn bảo tài xế lái xe về phố, tấp xe vào quán Lạc Sơn ngồi nhậu với tụi bạn phố của hắn đến chạng vạng, khi no nê hắn mới mò về nhà. "Nhất ngà ngà, nhị đi xa mới về", nhờ cuộc nhậu ở Lạc Sơn, Cáo mới có sức đáp ứng đủ đô cho con vợ tươi trẻ, da thịt mát rượi như trứng gà bóc đó chớ. Tội nghiệp mụ ta nằm dài cổ trông chồng suốt sáu ngày liền trong phòng gắn máy điều hòa. Hi... hi... nếu Cáo không trả bài, con vợ hắn nhịn thèm không nổi, vơ đại thằng lính quèn đâu đó về giải quyết sinh lý thì ồn chuyện Hà hỉ?


- Chị nói như thiệt!


- Răng không!


Hường thấy Hà đỏ bừng mặt, da mặt màu da bồ quân chín sậm hơn. Hường nheo mắt nhìn Hà trìu mến. Từ khi Hà "bật lên xanh" được bổ sung  vào tiểu đội nữ do Hường chỉ huy, Hường tự hào đơn vị mình có một chiến sĩ học thức cao. Đi đâu, Hường cũng khoe: "O Hà nữ sinh Đồng Khánh đó nghe. Viết thư tình hay dễ sợ lắm nghe!". Biết Hà chưa mấy quen gian khổ Hường không cử đi những chuyến công tác nguy hiểm. Hường phân Hà đi cải thiện, cùi gạo thu mua của bà con dân tộc hoặc trồng trọt tăng gia. Mà lạ tiểu đội của Hường đều du kích làng Vân, vậy mà không o nào trồng hoa màu xanh tốt bằng Hà. Nên Hường giao Hà chuyên cải thiện bữa ăn của tiểu đội, không o nào đố kỵ Hà cả. Hường còn như người chị cả thương đứa em gái út ngây thơ trong trắng cáng đáng tất cả nhọc nhằn nguy hiểm cho Hà. Nay, chú Bảy gợi ý bảo Hường chọn Hà cùng về đồng bằng. Hường biết công tác nguy hiểm nhất của nữ giao liên là xuống cơ sở mua gạo. Tụi lính Sư I biết quân ta đang thiếu lương thực trầm trọng, đã cho trung đoàn 54 phục kích nhiều nơi, mọi ngả đường mà chúng nghi giao liên ta sẽ qua lại. Nhưng đây do chú Bảy gợi ý. Bí thư gợi ý tức là ra lệnh một cách dân chủ đó thôi. Hường thích chị Lê hơn nhưng ý của chú Bảy đã thế chi bằng chấp hành vẫn hay hơn. Hường không chê Hà, tại Hường thương Hà, không muốn Hà dấn thân vào chốn hiểm nguy thôi. Nhớ lại, Hường thấy Hà cũng không phải tay súng tầm thường, ngoài dũng khí tuổi trẻ, Hà còn thông mình năng động nữa. Đã một lần Hường đi với Hà. Hà đi trước tinh mắt phát hiện ổ phục kích  từ một nhánh cây héo. Hà liền bảo Hường nằm yễm trợ, Hà cằn lần đến trái mìn định hướng (play-mo) rồi xây mặt cong vào lùm cây có treo mấy cánh võng. Xong Hà và Hường vừa chạy vào rừng vừa xả hết hai băng đạn AK vào ổ phục kích của tụi viễn thám. Hai chị em chạy thục mạng tai vẫn nghe tiếng súng bắn theo rát rạt và cả tiếng la của mấy thằng bị thương! Lần ấy, không chỉ Hường mà cả chú Bảy cũng đề nghị khen thưởng Hà trước toàn quân. Chú Bảy là con người của công việc, của chiến lược, chiến thuật, tính toán chi li cẩn thận từng chút nên Hường không dám cãi.


Hà cắt đứt dòng suy nghĩ của Hường:


- Chị làm chi mà nín như thóc rứa chị Hường?


Hường trấn tĩnh, kể tiếp:


- Tau kể tiếp cho mi nghe đây nì. Chiếc xe jeep lùn từ ló đầu từ đích dốc Cư Chánh, chuẩn bị qua cầu Lim rồi lên dốc Nam Giao. Chú Bảy ra lệnh cho hai chiến sĩ cầm súng AR15 đứng chận ngay cầu. Mi nên nhớ tụi lính quận, tụi địa phương quân cho đến lính bộ binh Sư đoàn I vẫn ngán tụi thủy quân lục chiến. Dĩ nhiên Cáo cho xe dừng lại. Chú Bảy chọn khi xe lọt vào cầu Lim mới đón bên cầu này, hết đường chạy lui. Chú Bảy cảnh giới bên ni cầu, anh Lâm và hai đồng chí của ta chạy tới dí súng khống chế một thằng ngồi trong xe đội mũ lưỡi trai đeo ba bông mai bạc. Thằng Đại úy lập cập bước xuống đi tới bên kia cầu nơi chú Bảy chuẩn bị rút lui. Vừa thấy mặt thằng Đại úy, chú Bảy lắp bắp: "Tâ... tân...Tấn, Tấn..." rồi tức thì vẩy cây cold 45 về phia thằng lính tài xế còm nhom đang cóc xuống xe, nhảy đại xuống cầu chạy tháo mạng vào một gốc cây. Thằng đó cũng gan lỳ, hắn tựa gốc cây rút cols 45 bắn trả rồi mới lủi vào mấy nhà dân, chạy thoát. Chú Bảy không thể chần chờ, ra lịnh rút lui và giải anh lính mang lon Đại úy giả trên mũ đi luôn. Nếu chậm mươi phút nữa trực thăng địch đến quần cả vùng cầu Lim lên tới núi Kim Phụng luôn đố mi nờ. Khi về cứ rồi mới biết thằng Cáo thoát chết nhờ hắn chơi kế “Kim thiền thoát xác” hắn bắt thiếu úy Tùng làm Đại úy, còn hắn tự lái xe đánh lạc hướng ta...


Chú Bảy đoán chính xác Tùng là con liệt sĩ Tấn vì Tùng giống liệt sĩ Tấn như hai giọt nước. Chú Tấn người đã cứu mạng chú hồi chống Pháp. Trên đường về cứ chú kể cho anh em đi cùng nghe mối quan hệ của chú với cha của Tùng. Tùng lấy tấm hình cỡ 6x9 chụp chú Bảy và liệt sĩ Tấn hồi trẻ đưa cho chú Bảy xem, Tùng nói:


- Mẹ cháu biểu cháu để ảnh trong người, gặp du kích cứ đưa ảnh ba mi và ông Bảy ra cho họ xem, họ tha cho con liền.


Chú Bảy cười:


- Không cần làm thế, mặt của anh khẳng định anh là con của liệt sĩ Tấn rồi.


Chú Bảy tư lự một lát rồi mới hỏi thêm:


- Tại sao anh không đi quân dịch mà tình nguyện đi sĩ quan?


 Tùng ấp úng một hồi mới nói:


- Cháu bị động viên, người bà con ở Trung tâm tuyển mộ nhập ngũ thấy cháu có bằng Tú tài, bảo cháu đăng sĩ quan, ra trường xin về quân xa khỏi đánh trận. Ai dè tụi hắn tống cháu lên quận Nam Hoa.


Chú Bảy nghiêm mặt dặn:


- Lên trên cứ anh cứ nói anh bị bắt quân dịch, vì có bằng tụi nó cho đi sĩ quan, chứ không nói tình nguyện nghe chưa? Để đó chú lo cho. Các anh cũng thông cảm thôi.


"Hồi thanh niên chú Bảy và chú Tấn cha anh Tùng là bạn chiến đấu cùng tiểu đội. Một hôm chú Bảy và chú Tấn trên đường về Mỹ Thủy, bị tụi địch phục kích. Chú Bảy bị đạn ở bắp vế giờ còn khoét một lỗ thịt sâu hóm, chú không chạy được nữa. Chú Tấn cõng chú Bảy chạy đến bờ sông Lợi Nông bỏ chú Bảy xuống ghe, đưa chú Bảy cái dầm, biểu chú Bảy cố bơi xuôi nước cho tới ngã ba rồi trốn vào làng. Chú Tấn ở lại cản đường, một mình chọi với địch cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Liệt sĩ Tấn đã chết cho chú Bảy được sống! Đây không phải là chuyện ân nghĩa giữa chú Bảy và liệt sĩ Tấn mà chuyện chung của Chi bộ hồi đó. Chi bộ hạ quyết tâm bảo vệ giọt máu duy nhất của liệt sĩ Tấn. Suốt mười mấy năm tao loạn, tiểu đội chú Bảy mất liên lạc với chị Tấn. Cũng bởi chị không thủ tiết thờ chồng, nuôi con, chị đi bước nữa, đem theo Tùng lên phố ở với ông chồng mới. Sau nghe Tùng đi lính. Chú Bảy cầu mong ba năm Tùng thi hành quân dịch về làm dân, chú tìm cách tiếp cận Tùng. Chi bộ của chú hồi đó đã hy sinh hết, còn một mình chú làm sao giữ trọn lời thề với nguời đã khuất. Nay gặp lại Tùng, chú quyết thực hiện quyết tâm của Chi bộ năm xưa.


Về căn cứ chú Bảy đem chuyện Tùng ra họp bàn với quận ủy. Trong buổi họp mọi người bàn tán hồi lâu, có người lưỡng lự, cho rằng bản chất của tụi lính Cộng Hòa không trung thành. Chú Lâm kiên quyết không bằng lòng. Hồi đó chú Lâm là cán bộ trên mới điều về chưa được anh chị em tín nhiệm, nên lời nói của chú Lâm không mấy trọng lượng bằng chú Bảy. Chú Bảy tuyên bố thẳng thừng:


- Các đồng chí không đồng ý tôi lên bàn với thường vụ khu ủy. Tôi bảo lãnh cho Tùng và chịu trách nhiệm hoàn toàn.


Sau một thời gian thử thách, chú Bảy rất tin tưởng Tùng. Từ đấy Tùng hoạt động bí mật giúp ta lật mặt một tên chiêu hồi và tránh được một trận càn của địch đổ bộ lên căn cứ..."


Hà chăm chú nghe Hường kể về Tùng... Chợt Hường dừng lại nhìn bầu trời đêm sáng nhờ bởi vệt trăng non. Hường hỏi:


- Tau kể đến mô rồi mi?


- Ngang nơi Tùng lật mặt tên chiêu hồi.


- Thôi tháo võng xuất phát, tối mai tau kể tiếp cho nghe.


 


HAI MƯƠI BẢY


Hai chị em đi ròng rã hai ngày hai đêm mới đến bờ sông gần nhà mụ Quới cơ sở ở làng Vân vào lúc ba giờ sáng. Quãng đường này người sơn tràng chỉ đi già một ngày một đêm, đây hai cô là phận nữ nhi lại còn phải nghỉ ngơi chờ tối. “cẩn tắc vô ưu” là phương châm hành động của chú Bảy đã dạy các đồng chí mình nằm lòng. Sau bụi tre vườn mệ Quới có một cái hầm bí mật từ hồi Tết Mậu Thân. Hầm kiên cố như hầm phòng ngự với mái hình chữ A nhiều thân cây to chống đỡ dùng làm nơi họp hội của Ban chỉ huy. Hầm này do các anh bảo vệ ông Bảy đào, đắp công phu khi mệ Quới lên phố nuôi con gái sinh, bị kẹt không trở về kịp.


Dạo đó, quân ông Bảy đóng ở nhà vườn mụ Quới gần tháng trời mới rút đi. Sau khi lên xanh ông thấy hầm không còn ai biết, những đồng chí biết đã hy sinh hoặc đang cùng ông ở chiến khu. Ông dành nơi anh em lui tới hoạt động khi về làng công tác. Theo kinh nghiệm của ông, đây là địa điểm tốt, đến tiện, rút an toàn bởi hầm nằm rìa làng, ba bề giáp ruộng ít người vãng lai. Khi mụ Quới trở về vườn nhà cùng đứa cháu trai mười hai tuổi, mụ vẫn không hay biết trong vườn mụ có căn hầm bí mật rộng rãi, đặc biệt có đường hầm thoát ra Sông Cùng. Ông Bảy tiếp cận mụ Quới, cho mụ biết miệng hầm ở đâu và nhờ mụ mua giúp một thùng đạn đại liên để trong hầm dùng đại tiểu tiện khi có nhu cầu không thể lên trên được. Rồi ông đề nghị mụ đảm thêm công tác nuôi dưỡng cán bộ và bảo vệ hầm bí mật. Mụ Quới tuy là cơ sở của ta từ trước nhưng trên chỉ giao việc chuyển công văn từ ông Bảy đến hộp thư bí mật, chưa lần nào mụ được giao công việc vinh dự này. Nghe ông Bảy chỉ bày công việc mới tỉ mỉ từ mật khẩu, ám hiệu… mụ biết lãnh đạo không chê mụ có con đi lính Cộng hòa, mụ sung sướng tự hào, mụ hứa tuyệt đối trung thành và hoàn thành nhiệm vụ trên giao một cách xuất sắc.


Nhà mụ Quới ở đầu làng tiếp giáp cánh đồng làng Vân, qua cánh đồng tới làng Thanh Toàn. Còn hầm bí mật nhà mệ Lê ở giữa làng. Có động tịch gì chỉ việc bò theo đường hầm ra sông, lặn một hơi sang cồn mồ rồi "chém vè" đâu đó dưới nước, trong ruộng hoặc bụi tre gai rậm rạp nào đấy trong lũy tre mọc dài ven sông, đợi đêm xuống tìm đường di chuyển đến hầm mệ Lê hoặc rút lên chiến khu. Sau này ông Bảy không ở hầm mụ Quới mà ở hầm vườn nhà mệ Lê vì hầm ở vườn mụ Quới “đầy đủ tiện nghi” ông dành cho nữ tiện sinh hoạt riêng tư. Ý của ông cũng sợ các cô ẩn nấp ở hầm mệ Lê gần nhà, các cô nhớ cha, nhớ mẹ lại mò về thăm, trong khi địch đêm nào cũng phục kích sau nhà của những đồng chí của ta thoát ly.


Ông biết con trai mụ Quới đi lính vì ở anh ta ở rể nhà vợ trên địa phận làng Đồng Di. Dân Đồng Di có câu ca: "Không đi (lính) thì sợ tình nghi. Đi (lính) thì sợ Đồng Di, Tây Hồ". Con mụ Quới đi lính do thế chẳng đặng đừng nên ông vẫn tin dùng mụ Quới là cơ sở tốt của anh em.  


Hai chị em đi đến ngã ba Sông Cùng và sông Như Ý vừa đúng 3 giờ 30 phút, chuông chùa đổ thời nhất trong “trú dạ lục thời” các sư thầy dâng hương khai kinh làm lễ cúng Phật thời thứ nhất trong ngày. Từ 3 giờ đến 3 giờ 30 phút là khoảng thời gian cho những đồng chí của ta đã đi hoạt động từ đầu đêm ở đâu đó phải rút về hầm bí mật trước 3giờ 30, nếu không muốn suốt ngày trầm mình dưới nước, trong lầy, trong bụi cho kiến bu, muỗi đốt, đỉa đói hút máu! Hường luôn chấp hành quy định này bởi vậy Hường đã hối thúc Hà khi thấy bầu trời rờn rợn sáng dần. Hường đứng dưới sông nhìn lên bờ dự đoán tình hình, rồi bảo Hà:


- Mi ngồi đây để tau vào vườn mệ Quới xem tình hình ra răng đã, tau ra chừ! Mi canh động tịch trên đường nghe!


- Chị ra mau đó. Hà…


- Ừ!


Hường leo lên bến sông, cô đứng trên đám cỏ ướt cố rũ cả người sũng nước cho ráo bớt rồi mới chạy vụt sang bên kia đường và biến mất vào bóng đen của những vườn cây trước mặt sông. Hường mò vào vườn mụ Quới thấy im ắng như tờ, mừng rỡ khi thấy ở cửa sổ có một chiếc áo treo ở đó, trong nhà leo loét ánh đèn dầu đúng theo ám hiệu. Nếu mệ Quới không máng áo đúng vị trí đó tức nhiên hai cô không vào được mà phải ra sông trầm mình dưới nước đợi 3 giờ khuya hôm sau mới mò vào xem ám hiệu. Hường dò từng bước đến sát cửa sổ lấy một thanh tre sẵn ở đấy, khòe vào chân người nằm trong màn. Người trong màn như đã thức sẵn vụt ngồi dậy, miệng khẽ hô mật khẩu:


Ngự Bình!


Kim Phụng!


Vẫn thường mụ Quới thức dậy đi tiểu lúc hai, ba giờ sáng kiểm tra các ám hiệu rồi nằm chờ “người của ta” về. Khi nghe mật khẩu, mụ lật đật ngồi dậy đi ra sau mở cửa sau rồi lủi nhanh ra sau bụi tre. Hường âm thầm đi theo sau. Ra đến miệng hầm Hường mới nói:


- Để con ra gọi thêm người nữa đã mệ.


- Mau lên!


Hường dợm vừa bước đã dừng lại lôi trong người ra một gói ni-lông mở ra:


- Con nhờ mệ mua cho con chục lon gạo, mớ cá bống thệ, mệ kho bới cho tụi con ăn với nghe. Ở trên núi nhớ con cá bống làng mình bất sững đi mệ nờ.


- Bày đặt nờ! Cất tiền đi, chút sáng mệ xuống rớ mua cho một mớ.


Hường ra sông và cùng Hà đi trở lại. Hai cô thả súng xuống hầm trước rồi mới giơ hai tay lên thả hai chân xuống lọt người vào miệng hầm vuông hai mươi phân. Khi hai chị em đã mất hẵn trong căn hầm tối ôm, mụ Quới mới đậy nắp gỗ, lùa đất cục xếp lên trên rồi rải lá khô lấp lên, xóa dấu vết xong mụ lò dò đi vào nhà định ngủ tiếp. Vừa ngã lưng xuống, mụ Quới sực nhớ điều gì mụ đi xuống bếp lục trong chạn ra một mo cơm và mấy con cá gói trong lá chuối khô vội đi trở lại miệng hầm. Mụ vừa giở miệng hầm ra, giựt mình khi thấy họng súng chỉa thẳng vào mụ và tiếng hô đanh lạnh của Hường:


- Ngự Bình!


- Kim Phụng!


Hường thò đầu lên:


- Chi rứa mệ?


- Mệ quên mo cơm cá mệ in khi túi.


Hường nhận mo cơm từ tay mẹ Quới một tay chuyền xuống cho Hà đứng dưới. Hường hỏi mụ Qưới:


Lỡ tụi con không về thì răng?


Mai mệ ăn cơm nguội.


Tối mô mệ cũng nấu in cơm như ri à mệ?


Cũng có khi không. Mệ thấy êm êm mệ mới nấu cơm để dành.


Mệ cứ ăn cơm nguội như ri à? Cực mệ rứa!


Can chi con ờ. Thôi con xuống để mệ đóng miệng hầm, có nước dưới chưa?


Dạ còn.


Cây đèn cóc còn dầu hỏa không? Bi kê mệ để sát chân đèn đó.


Tụi con ăn trong tối quen rồi mệ. Mệ vô ngủ đi.


Gà gáy rồi ngủ chi được nữa. Xuống mệ đậy nắp!


Dạ!


Sực nhớ gì, mụ Quới chưa đậy nắp gỗ, hỏi:


- O Hả bơi qua nhà phục tang chưa?


Trong cái lỗ tối om om vẳng tiếng thở dài:


- Dạ không mệ nờ.


 


HAI MƯƠI TÁM


Làng Vân là vùng liên hoàn địa bàn. Nhưng lại là địa bàn đối tượng càn quét ráo riết nhất của Trung đoàn 54, thuộc Sư 1 bộ binh địch và tụi lính quận Phù Hương. Chúng dàn lính hàng ngang và chia nhau từng thước vuông để xăm xoi tìm dấu vết hầm bí mật của ta. Nếu không nhờ nhân dân bảo vệ, nuôi dưỡng, ta mới bám trụ được dài lâu dù là vậy, nhưng vẫn còn những kể phản bội, mất quan điểm, lập trường cam tâm cúi đầu làm tay sai cho địch.


Một buổi sáng trên đường đất ven Sông Cùng xuất hiện một chiếc xe Jepp chạy trước xe GMC, trên xe GMC chở đầy lính súng đạn hầm hừ. Bà con gồng gánh lên chợ sớm, ai nấy đều lo sợ, không biết lính đổ bộ về làng bắt bớ ai đây!? Hai xe lính dừng bên cầu Vân Dương. Trong chiếc xe jepp ló ra khuôn mặt đen xỉn của Thiếu tá Cáo quận trưởng quận Phù Hương. Thằng Cáo đã được trở lại quận Phù Hương với chức trách quận trưởng kiêm an ninh diện địa. Quận Cáo nhảy xuống với bản mặt lì lì, đôi môi thâm ngậm kín. Quận Cáo đi đến chân cầu tre, hai bên hắn đã tràn lên hai hàng lính lăm lăm tay súng chạy xộc qua cầu làm chiếc cầu tre lắc lư muốn sập.


Cáo dẫn bọn chó săn tề điệp và một bầy lính tráng lắc cắc súng ống, mặt mày bặm trợn, hung dữ lao vào vây nhà mụ Quới. Mấy phút sau bọn chúng vay quanh nhà mụ Quới đến con chó cũng không lọt qua được. Mấy em gái chăn trâu tò mò chạy theo, bị một thằng lính mặt đầy mụn bọc u sần đứng lại chỉa súng vào em gái chạy trước, chửi tục, nạt đuổi lui. Bọn lính theo lệnh Thiếu tá Cáo xiết chặt vòng vây từ ruộng, băng đường vào vườn rồi quanh nhà mụ Quới. Thiếu tá Cáo sải chân bước vào sân ngôi nhà tranh của mụ Quới cũng là lúc ba thằng lính lôi sệt mụ Quới cùng thằng cháu trai của mụ ra trước hiên. Cáo chụp cái thuổng của thằng tà lọt đứng cạnh, hấc hàm:


- Con mẹ già mau hầm chỉ hầm bí mật ở đâu, không tau thọc một thuổng què chân chừ!


Mụ Quới còn bớ sớ, ú ớ trong miệng mấy tiếng rồi trấn tĩnh nói:


- Hầm chi? Tui… không biết… a…a… đau! Tổ cha mi!


Mụ Quới bị Thiếu tá Cáo thọc ngay một thuổng lút bắp vế, mụ buột miệng chửi Cáo. Từ lâu Thiếu tá Cáo an ninh diện địa cai trị quận Phù Hương nổi tiếng, nói là làm, chẳng sợ thằng Tây nào, tỉnh trưởng cũng “mai-phen”. Thiếu tá Cáo nóng ẩu nhưng được việc nên quan thầy vẫn tin dùng. Bởi vậy, Cáo ưa chi làm nấy, một lần đi nhậu, một anh lính say đi về láng cháng đụng Cáo. Cáo không nói gì, vẫn đi thẳng vào tán em ngồi “cát – sê” mà Cáo mê tít. Thằng tà lọt của Cáo nịnh chủ, chụp cổ áo anh lính say, bảo: “Mi không biết ngài Thiếu ta Quận trưởng hả? Không lo cút đi còn đứng ba trợn đó nữa hỉ? Khoan, mi đi trở vào xin lỗi Thiếu tá ngay đi!”. Anh lính say lè nhè: “Cọp tau cũng không sợ chớ nói chi đến cáo với mèo he…he…”. Cáo nghe được, sĩ diện với em cát-sê, mặt tím bầm bước đến trước anh lính say: “Tau là Cáo đây!” rồi rút súng bắn anh lính say một viên vào chân, anh lính đổ vật trước sach bar. An ninh quân đội đến, Cáo bảo thằng tà lọt bắn. Thằng tà lọt chịu tội thay cho Cáo. An ninh quân đội bắt thằng tà lọt của Cáo về giam mấy tuần. Cáo chạy cho hắn trở về đơn vị cũ, sau khi Cáo sai lính lo thuốc thang cho anh lính bị Cáo bắn để anh ấy bãi nại cho thằng tà lọt của Cáo được yên hàng vô sự. Giờ nghe mụ Quới chửi tóe loe, nhưng Cáo không đâm chân mụ thêm một thuổng nữa la chuyện hiếm mà hắn sai tụi lính:


- Tụi bây lùng sục khắp vườn, khắp nhà cho tau. Đ… mẹ con mệ già! Tau khui hầm rồi tau lột da mi luôn – Xây lui sau – Thằng Bá đâu! Mi cho con mệ ni nếm mùi cú chỏ mới luyện tau coi công phá không nờ!


Nói xong, Cáo xộc vô nhà mụ Quới cùng đám lính tìm hầm bí mật. Tụi lính thi nhau vất áo quần, chăn màn, thúng mủng, nồi nia, phên bếp từ nhà mụ Quới ra hiên. Thằng Bá nghe Cáo gọi, hắn “Dạ” một tiếng thật to, chạy tới lạng người tránh chiếc thúng bay ra từ chái bếp, miệng chửi thầm “Đ…M…”. rồi vừa đi vừa lấy bàn tay trái xoa xoa cái cùi chõ phải, miệng cười cười “khề…khề…”… Đến chỗ mụ Quới đang ngồi la lết nhăn nhó ôm chân máu tuôn ướt đẫm chiếc quần đen, Bá chụp tóc kéo mụ đứng lên, xả vào mấy bạt tai, mụ rụng xuống tức thì. Có lẽ Bá thấy mụ không đủ sức chịu nổi một chỏ của Bá nên Bá tát vài cái lấy lệ để tuân lệnh thượng cấp. Thằng lính đứng bên mụ Quới sợ hãi nói:


Mụ chết tau không chịu trách nhiệm mô đó!


- Tau chịu! Thiếu tá cho tau thử chỏ tau còn chưa thử, sá chi mấy cái tát trung sĩ. Trung sĩ đừng lo!


Thằng cháu trai của mụ Quới thấy cảnh bà ngoại bị đâm, bị tát nằm sụi giữ sân, cu nghệch mặt vì sợ, rồi bỗng nhiên hốt hoảng chạy sảng ra sông. Một thằng lính đưa chân cản lại, thằng bé té sấp mặt xuống đất, máu mũi tuôn ra tèm lem mặt mày. Thằng bé vừa khóc vừa la... Lúc này thằng cu quá sợ đến đờ người nằm yên giương hai mắt thất thần ráo hoảnh nhìn mụ Quới. Cáo cùng bọn lâu la xăm xoi từ ngoài vườn, trong buồng, trong nhà mụ Quới hồi lâu rồi kéo nhau hậm hực trở lại sân hiên. Một vuông sân đất bé tý mà đầy lính tráng lô nhô đầy tràn, nặng nề sát khí. Cáo hầm hầm sai lính lôi mụ Quới đứng dậy. Thấy mụ chưa tỉnh, Cáo nói:


- Cho con mệ thùng nước lạnh!


Một thằng lính Cầm chiếc gáo dừa đầy nước múc ở ảng nước tạt vào mụ Quới. Mụ Quới tỉnh dậy, đứng lên rồi lảo đảo đi tới bên thằng bé nằm bẹp giữa đất. Mụ đi chưa tới nơi đứa cháu nằm, đã bị Cáo chặn lại:


Mi không khai tau đốt nhà cho mi ở bụi đó.


Tui không biết chi hết.


-  Không biết à?


Nói dứt lời Cáo lấy Jip-pô ra đốt đống chăn màn, áo quần, thúng mủng trước đó tụi lính đã dụt từ trong nhà ra giữa hiên. Mụ Quới giương ánh mắt căm thù nhìn đống đò đang cháy nhưng không nói một lời. Cáo lại hỏi:


- Hầm bí mật chỗ mô? Mìn, lựu đạn, tài liệu mi dấu mô? khai ra tau tha!


Cáo hỏi nhiều lần. Trước sau mụ Quới vẫn nói một câu:


- Oan hồn thì hồn hiện, tau không biết chi hết, tau không có tội chi hết. Đời người chỉ chết một lần, bây có muốn giết thì giết tau đi!


Cáo nổi điên lên, cúi xuống, một tay xách ngược thằng bé mười hai tuổi ném vào đống lửa vừa cháy ngún tro than. Thằng bé nóng quá, vụt đứng lên, cuống cuồng chạy ra sông trầm mình cho đỡ nóng, trong tiếng cười sặc sặc của bọn lính… Cáo la lên:


Bắt thằng cu con thiêu cháy cho tau!


Mụ Quới mất bình tỉnh rên lên:


Tui khai, tui xin khai… Đừng hại cháu tui, nó đầu xanh tuổi trẻ tội chi ông ới!.. Tui khai…


Tụi lính dẫn mụ Qưới đi ra sau bụi tre. Khi gần tới miệng hầm mụ Quới la thật to:


- Bắt tui khai thì tui khai đừng đút chết cháu tui…Trời ơi là trời…tui khai…


Thằng lính đi bên mụ liền đưa tay bóp miệng mụ đến máu miệng tươm ra…


Trong hầm hai chị em đang ngồi bàn bạc, chẳng hề biết trên nhà mụ Quới đang xảy xa cuộc tra trấn dã man của Thiếu tá Quận trưởng. Hường phổ biến nhiệm vụ sắp tới, kể cả điểm hẹn, mật khẩu hỏi, đáp và kể chuyện hồi khuya Hường đi nhận dụng cụ y tế, được gặp chú Lâm cùng Thiếu úy Tùng. Hường nói:


- Mi biết không, té ra anh sinh viên muốn thoát lý do Tùng móc nối, anh cũng giỏi ghê hèo. Tau nghe chú Lâm về dưa Tùng lên để nhận nhiệm vụ mới đó Hà nợ. Tối qua mi không bị sốt thì được gặp tất cả các đồng chí mình rồi. Uổng hỉ?


- Chị có nói em ốm phải ở lại hầm không?


- Có. Anh Tùng hỏi mi hai ba lần luôn, coi bộ anh mê con ni rồi.


Hường cười nho nhỏ rồi vỗ vỗ vào túi ni-lông còn bết bùn trong khi một tay còn bấm đèn pin dọi tới gói ni-lông.


- Tau nhận dụng cụ y tế về rồi nì…


Hường nói ngang đó, nghe tiếng mụ Quới “Tui khai… đừng hại cháu… ”. Hường tức tốc tắt đèn pin và rút khẩu súng ru - lô bên hông ra một tay khác cầm quả lựu đạn mãng cầu ghé miệng căn răng rút chốt. Hà cũng mở khóa an toàn và chỉa mũi AK lên miệng hầm…Trong bóng tối hai chị em nhanh chóng về đúng vị trí chiến đấu khi địch bặt nắp hầm. Nắp hầm bật mở, ánh sáng chiếu xuống sáng lòa làm hai chị em lóa mắt. Hường vụt bám chân vào vách hầm, thò đầu lên tung lựu đạn về có tiếng người… Hường xuống. Hà thế chỗ quạt nguyên băng AK về phía ló nhố bóng người và tiếng la của thằng lính bị ăn miểng lựu đạn. Hường đã bị thương ở vai, nhưng vẫn gắng gượng lấy trái lựu đạn thứ hai cầm sẵn trong tay. Trên hầm bỗng ngưng tiếng súng!?  Tiếng thằng Cáo từ chiếc loa tay sủa xuống:


- Các cán binh Cộng sản hãy đầu hàng về với chính nghĩa Quốc gia. Chúng tôi sẽ tiếp đón…


- Ùng… róc… róc…


Cáo chưa dứt lời, lại một trái lựu đạn chày và loạt đạn AK chon khô vang lên… Một thằng lính ngã vật xuống bụi tơi. Tức thì, đủ loại súng, lựu đạn trên miệng hầm rộ lên mảnh găm tua tủa ở vách đất. Hường bống la lên một tiếng… Lần này đang đứng, Hường rớt xuống nền hầm, ngực trúng đạn. Máu từ ngực Hường phun ra phồng cả lớp vải phin đen Hường đang mặc. Hà sấn tới mở băng ra băng cho Hà, máu tươm ướt băng và đỏ cả vạt áo trước. Hường thều thào:


- Ta…a…tau, tau nghe một thằng la… một thằng rụng rồi Hà hí?


Hà bận thay băng đạn khác, cũng gật đầu:


- Em cũng nghe hắn la, chị ngồi yên để em băng…
Hường khoác tay, bảo Hà:


- Mi… mi… phải mang dụng cụ y tế sang sông. Cố bảo toàn tính… đi… an toàn…


Hường lại bảo Hà tung một trái lựu đạn lên miệng hầm cầm chân địch - “Ầm” - rồi cất giọng yếu ớt:


- Kéo gùm tau lui cửa nghách. Được rồi… Mi lấy cây ru-lô của tau, để khẩu AK lại cho tau. M…i…mi… chỉa mũi súng lên miệng hầm cho tau, đặt rứ..rứa… rứa… được rồi, mi…mi… đi… m..a…mau… lê…lên… Tau đã gài mìn, mi … mi… đi… tau… cho…cho… nổ tung hầm luôn… đ…i…đi… m…aa…mau H…a… Hà… Tau phải, phải…hu…uy…hủy… cả hầm, tau…tau… hu…huy…để giữ bi… bí… mất… ch…o… cho hầm… kh…aa… khác!


Hà chần chừ:


Để em ơ…ở lại với chị!


Hường gắng sức giữ giọng sắc lạnh và không đứt quảng:


- Bằng mọi giá phải đưa thuốc kháng sinh và sốt rét lên cho chú Bảy. Con Chanh thiếu ký ninh s…ốố… sốt dài d…aà…dài tau chắc kh…ôô…không… qua khỏi. Đ… ôồ… đồng chí nghe ro…ro… rõ… chư…aa… chưa?


- Tôi xin chấp hành!


Trên miệng tiếng súng lại rộ lên… chiu… chiu… đạn đủ loại găm sựt sựt vào thành đất cách hai chị em một ngách đất, nhưng chẳng thằng lính nào dám bén mảng trước miệng hầm. Hà vừa khóc vừa bò nhanh theo lối thoát. Hà nín thở chui xuống đường hầm tối om ngập nước. Cô lặn một đoạn ngắn đa thấy lờ mờ ở  cửa miệng hầm dưới Sông Cùng. Ra khỏi hầm, cô chưa dám ngoi lên thở lấy hơi và tiếp tục lặn vào bụi tre đầy gai mới trồi lên hít một hơi dài. Bên tai vẫn nghe tiếng đạn veo véo và lựu đạn nổ ầm, chen trong tiếng chon khô từ súng AK của Hường bắn từng đợt ba viên… rồi ầm một tiếng như sấm động. Hà trồi lên dưới bụi tre khóc òa…


(còn tiếp)


Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »