Phần III. BA MƯƠI HAI
Hạ tuần tháng ba bảy lăm, thị xã nhốn nháo lên bởi binh lính Thiệu - Kỳ liên tiếp thua trận, chúng tháo chạy từ các mặt trận Ban Mê Thuột, từ Mỹ Chánh (Đông Hà và gần hết tỉnh Quảng Trị đã được Mặt trận Giải phóng miền Nam, giải phóng mấy năm trước). Thị xã đầy lính tráng toe tua manh giáp, lang thang cướp giựt. Chẳng khác chi hè một chín bảy hai, sau khi tướng Vũ Văn Giai tư lệnh Sư đoàn 3 lên trực thăng vù khỏi Quảng Trị. Lính Sư đoàn 3 và các binh chủng chạy làng, tràn vào thị xã cướp bóc, bắn lộn nhau giành gái rồi lôi rượu bia, thịt, đồ hộp trong các sập, cửa hiệu của các chị tiểu thương chợ Đông ra ăn nhậu. Ăn nhậu tàn phá xong, chúng hứng chí đốt chợ cho vui!? Thị xã chìm trong hỗn loạn, ai không có việc gì cần thiết chẳng dám đi ra đường! Trưởng Ty công chánh bắt buộc toàn nhân viên phải đưa gia đình lên xe vào Khu công chánh miền Trung, ai "bất tuân thượng lệnh", cho thôi việc ngay sau khi ổn định. Mệ Lê nghe tin gia đình bà Gái sắp đi, hớt hãi chạy bộ dưới làng Vân lên nói với ông Chắc:
- Sắp hoà bình rồi bây đừng đi mô hết!
Ông Chắc nói:
- Mạ nói chi lạ, tui không đi nồi gạo gia đình tui ai lo?
Mệ Lê không biết nói gì với đứa con rể xưa nay có tiếng ngang đầu cứng cổ, ưa gì chẳng ai cản được. Mệ đứng nhìn con cháu cụ bị đồ đạt lên xe mà nước mắt lưng tròng. Xe chạy, mệ vừa chạy theo vừa khóc... dáng cao ốm lếch thếch và chiếc áo dài nâu của mệ vờn bay trong dòng người, dòng xe loạn lạc rồi nhoà dần trong mắt Vi. Bà Gái mếu máo:
- Mạ ơi… mạ ơi... mạ không đi với con, mạ ơi...
Gia đình Vi vào ở Khu công chánh được mấy hôm. Thằng em Vi vất súng đạn bỏ đơn vị địa phương quân của nó chạy bộ từ Mỹ Chánh vào Đà Nẵng tìm được gia đình. Gia đình ông Chắc vui mừng bởi con cái đoàn tụ, không thiếu một ai.
Sáng hai chín tháng Ba năm 1975 cả thành phố Đà Nẵng náo loạn do tụi lính dẫn nhau đi ăn cướp của dân và thanh toán lẫn nhau. Súng nổ khắp nơi. Bỗng nhiên một chiếc xe jeep treo cờ giải phóng miền Nam chạy vào, theo sau là bộ đội Giải phóng quân đi băng băng hai hàng hai bên đường qua hướng Sơn Trà. Vi xúc động đứng khóc ròng, cảm nhận đây là giây phút hoà bình thiêng liêng đã đến. Vi tận mắt thấy lá cờ của Mặt trận Giải phóng miền Nam phần phật trong nắng gió và bộ đội Giải phóng quân hiên ngang phăm phăm đi giữa ban ngày trong khi lính Cộng hòa chạy tán loạn, áo quần các sắc lính cùng súng ống vất bừa bãi giữa đường. Vi nhớ trước đây đã làm một bài thơ khao khát hoà bình, giờ đây hòa bình trong tầm tay muôn dân, Vi hát lên khe khẽ:
"Hoà bình ơi biết bao giờ gióng trống.
Vẫy tay chào ngọn nắng bình yên
Cát sỏi buồn nằm im, câm nín
Mai tôi đi rồi biết nhớ thương ai... ".
Niềm vui tràn ngập trong gia đình Vi chưa vơi, chiều hôm đó, một toán du kích, súng lăm lăm vào Khu công chánh, hỏi giấy tờ từng người. Họ bắt thằng em kế của Vi cột hai cánh tay trên nó lui sau lưng và dẫn nó đi cùng với mấy người lính khác, theo gia đình ở trong Khu công chánh. Nhìn các người bị trói cột dẫn đi. Nhiều người thì thào:
- Người ta dắt đi bắn?
Vi, bà Gái cùng hai cô em gái khóc lóc suốt đêm. Sáng mai cả nhà Vi ai cũng rầu rĩ, không thiết đánh răng, rửa mặt mà cứ ngồi thừ người trong phòng. Bất thình lình thằng em Vi trở về và cả những người lính hôm qua bị dẫn đi cũng trở được đoàn tụ với gia đình của họ; nhà Vi lại một phen khóc mừng... còn thằng em Vi lại cười ha ha... kể chuyện bộ đội Giải phóng quân cho nó ăn lương khô, bảo nó lái xe jeep vừa tịch thu được, chở các ông đi tiếp quản. Xong nó còn lôi trong túi một tờ giấy có mấy dòng chữ chân phương của ông bộ đội nào đó ký cho nó về trình diện địa phương. Giấy không dấu đỏ nhưng rõ ràng đó là tờ giấy xác nhận quyền công dân cho một thằng lính vừa trút bỏ quá khứ lầm lạc xuống vỉa hè, được tự do trở quê quán làm ăn sinh sống. Lần đầu gia đình Vi được huởng sự khoan hồng của bộ đội Giải phóng quân. Vi sung sướng nghĩ, chỉ có những con người dày đức độ phẩm hạnh cao cả mới đối đãi với kẻ địch ngay giữa trận tiền một cách khoan dung và độ lượng đến thế. Thành phố Đà Nẵng ngay hôm giải phóng cho đến sau này không có một anh lính hoặc ông sĩ quan Cộng hòa nào bị bắn. Nếu có xác lính chết là do lính đơn vị này thánh toán lính đơn vị khác khi cướp của, cướp tàu vượt biển vào Sài Gòn hoặc tếch ra nước ngoài hay ngoan cố chống trả. Những ai bỏ súng xuống, sinh mạng được bảo toàn ngay trên trận địa.
Gia đình Vi trở về Ty công chánh, trong ty chỉ còn chú Từ ở lại coi sóc công sở. Thị xã đã được giải phóng quân, toàn dân hớn hở mừng vui! Có số ít gia đình sĩ quan, quan chức cao cấp cũ mới đầu ngơ ngác lo sợ, nhưng rồi cũng hoà nhập với xã hội mới, trở lại nơi nhiệm sở, đi trình diện học tập hoặc tập tễnh lao động, chạy chợ mua bán làm ăn, nói chung đại đa số người dân phấn khởi, háo hức đón mừng cách mạng. Điều ấy có thể nhận ra trong đáy mắt người dân luôn long lanh một niềm hân hoan vô bờ bến. Lớp thanh niên, học sinh, sinh viên ngày nào cũng chạy ra đường đón mừng tin chiến thắng của bộ đội Giải phóng quân đang thần tốc tiến vào Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử có một không hai.
11 giờ 30 phút ngày 30 tháng tư cờ Giải phóng quân phấp phới trên nóc dinh Độc Lập phủ đầu rồng của nguỵ quyền. Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của Chánh phủ Việt Nam cộng hoà đầu hàng vô điều kiện. Tuyên bố của Dương Văn Minh có đoạn "...Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để cùng thoả thuận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào". Và nhật lệnh của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam cộng hoà được ta móc nối tranh thủ và trở thành cảm tình binh vận từ những năm sáu mươi khi đang là đại tá - Phó Tư lệnh vùng 4: "Thưa quý vị tư lệnh sư đoàn, quân binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ. Tôi, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu truởng, thay mặt Trung tướng Vĩnh Lộc, yêu cầu tất cả quý vị tướng lãnh và quân nhân các cấp hãy triệt để thi hành lệnh của Tổng thống Việt Nam cộng hoà, hãy sẵn sàng liên lạc với chỉ huy của Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để thực hiện ngừng bắn một cách không đổ máu".
Khi tin vui dồn dập ùa về, Vi hân hoan viết những câu thơ đầu tiên đến với cách mạng:
“Dép Trị Thiên anh băng rừng lội suối
Một sáng mai giải phóng quân quê hương
Quần áo xanh lấm bạc bụi đường trường
Mắt vẫn sáng ngợi ngời tin chiến thắng"...
Đất nước thống nhất. Đâu đâu cũng hừng hực không khí dựng xây. Gia đình Vi về ở Ty công chánh được mấy tuần, ông Chắc đòi trở lên đất cũ cất nhà ở cho thoải mái. Vi và thằng em kế Vi lên lại trên mảnh đất tổ tiên tự giở bỏ bảng "Khu phi quân sự", cắt hàng rào thép gai, phát quang dọn dẹp đất đá và cất một ngôi nhà tranh tre trên nền nhà cũ để gia đình hồi cư. Ngay sau khi gia đình Vi vừa chuyển đồ đạt từ Ty công chánh lên nhà mới, ông Chắc đào tìm đầu máy may Singere nhưng nó đã không cánh mà bay? Đây là chiếc máy may cơ nghiệp của nhà Vi, tuổi của nó còn lớn hơn Vi nữa, vậy mà tụi lính cũng lấy vật kỷ niệm quý báu của gia đình Vi. Vi nhờ một anh bộ đội đóng trong đồn cho mượn tấm gấp bản đồ gài mìn phòng thủ của lính công binh đã gài mìn khu vực vườn nhà Vi. Vi tự tháo gỡ bảy quả mìn để lấy đất trồng trọt.
Bộ đội và gia đình Vi là chỗ cận lân cận thân. Trong đồn có tiệc tùng gì, các anh cũng ra mời Vi hoặc ông Chắc vào tham dự, nhà Vi có miếng ngon cũng kéo nài vài anh ra chia sẻ chung vui. Riêng Vi, Vi chơi thân với hai anh bộ đội. Các anh và Vi chung nhịp đập của những trái tim lứa tuổi hai mươi, tìm đến với nhau bởi lòng đam mê thơ văn và cũng là cơ hội tốt cho Vi hiểu thêm văn thơ cách mạng.
Là thanh niên lâu nay chìm trong văn chương xa vời thực tế, Vi tìm đến thư viện Nhân Dân, để tự "cập nhật" văn chương cách mạng mà Vi không may mắn được học từ nhỏ. Đọc riết, Vi ngộ ra rằng, trước đây viết sao cũng được, miễn hay. Giờ viết văn khó hơn, khó ở chỗ, trước hết anh phải là người tốt, viết ra những điều tốt, đừng đứng trên bục lên lớp ngưòi khác và tải được ý tưởng gì đó có thể giúp ích cho đời, dù chỉ viên sỏi nhỏ bé, mới đạt cái hay. Có nghĩa, trước đây vẽ ma, muốn vẽ sao cũng đặng, miễn con ma ấy đẹp, ly kỳ, rùng rợn, không tính tới sự tác hại của nó. Còn giờ, vẽ một cục đất tầm thường mà bật lên, ngời sáng lên vẻ đẹp vô ngôn bao dung sinh nở của đất, mới tài. Với niềm tin trong sáng chân thành ấy, Vi làm thơ được đăng báo cách mạng. Sinh hoạt ở Chi hội thanh niên Vi cũng thường đóng góp những bài thơ mới viết của mình bằng cách đọc thơ "tự biên tự diễn". Vi sung sướng đến lịm người khi những bài thơ của Vi được in trên báo tỉnh rồi tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng của miền Nam. Tuy thơ còn ngây ngô vụng về nhưng với lòng tin yêu Cách mạng chân thành của một thanh niên miền Nam sinh ra và lớn lên trong vùng tạm chiếm cũng đáng khích lệ, nâng đỡ, vớt vát cho câu từ còn thô thiển. Bài thơ đầu tiên cũng là bài đầu đời của Vi được đăng báo:
"Trên mái tóc mẹ già
Vắng bốn mùa mây trắng
Em cười như hoa nắng
Nở dưới giàn bí ngô
Các "Cháu ngoan Bác Hồ"
Cùng nhau lên một tuổi
Chị Hằng và chú Cuội
Mỗi tháng cõng thu về..."
“Chị bó lúa trên vai
Anh viên gạch xây dựng
Niềm vui và sự sống
Gọn gàng trong ta ta
Cột khói trên nó nhà
Toả hơi nồng buổi sáng
Vỉa hè lót gạch láng
Mát chân người đi qua
Ngoài kia trên cánh đồng
Tiếng máy cày xình xịch
Những đôi tay chắc nịch
Sẽ ươm lúa lên bông
Mặt trận mới đây rồi
Các anh các chị ơi
Con đường ta đi tới
Lòng rộn ràng tương lai".
Bài thơ được in báo Văn Nghệ Giải Phóng:
Sớm Lên Rừng
Trong bao la nắng là rừng
Trong im ắng lá chim mừng nắng lên
Sớm ngày còn đọng dáng đêm
Ta nghe gió hú gọi tên của rừng
Trong hương gỗ là hương rừng
Trong hương rừng lại thơm lừng hương hoa
Lá còn lóng lánh sương sa
Hương cơm thoang thoảng gần xa lối rừng.
Trong tay búa nhoáng, nắng vàng
Trong hơi thở vội vọng vang tiếng cười
Lên rừng người tựa vai người
Ngàn cây gỗ đẵn kết xuôi một dòng
Một người bạn học Văn khoa năm thứ tư, trước đây anh ta đã cho ra mắt mấy tập thơ "Nhập Thế" và có thơ in trên báo Văn, Tuổi Xanh, Văn Học... của miền Nam. Anh ta cầm một số bài thơ viết tay lên nhà Vi gặp Vi nói:
- Mấy thằng bạn mình mới tập làm thơ, gửi mình xem qua, mình nhờ ông coi dùm có được không. Có gì ông cứ góp ý thẳng, đừng ngại!.
Vi đọc qua và nói với ông bạn rằng, những bài thơ ấy còn than mây, khóc gió, chưa phù hợp với không khí hồ hởi của thanh niên, của bà con ta mới lần đầu được hưởng thanh bình, độc lập hơn trăm năm qua mới giành được. Ông bạn Vi không bằng lòng, cười mũi truớc sự tiến tiến bộ của Vi rồi cầm tập bản thảo thơ của anh ta khinh khỉnh đi về. Sau này, Vi biết những bài thơ ấy của anh ta, anh ta thẹn với Vi nên đề tên người khác nhờ Vi thẩm định. Vi không thể sửa thơ anh, bởi thơ anh ngấm mùi tiểu tư sản, ưa đứng trong bóng mát chỉ tay hô hào người khác lao động, không mang hơi thở thời đại, không biết rung động trước vẻ đẹp cao quý của lao động, của sự hy sinh cao cả của những con người xương thịt, nhưng dám chết cho người khác được sống, thì làm sao các toà soạn chấp nhận được.
Vi may mắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, thua thiệt mọi thứ và chứng kiến đến chán ngán sự trửng mỡ, ích kỷ của tầng lớp tư sản giàu có, tầng lớp có thế lực, sống ngạo nghễ trịch thượng trên đầu nhân dân. Cũng nhờ mỗi ngày Vi được gần gũi với các anh Giải phóng quân. Vi dám nói không ngoa rằng, trên thế giới này không có một lực lượng cầm súng nào tuyệt vời như bộ đội Giải phóng quân thời đó, các anh giản dị trong nhân cách lớn. Cũng chính nhờ lòng mến phục các anh bộ đội nhen nhúm trong Vi từ tiểu học cho đến tuổi thanh niên, Vi mới có những rung động chân thành tràn ra ngòi bút và cũng chính những dòng thơ ca cách mạng ngây ngô này đã nuôi dạy Vi lớn dậy thành người...
BA MƯƠI BA
Cho tận tới lúc Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Tổ quốc, non sông liền một dải, Vi mới biết bà ngoại của Vi chính xác là cơ sở cách mạng. Ngoại nuôi dưỡng cán bộ và bảo vệ hầm bí mật trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất. Cán bộ thường lui tới nhà ngoại có hai ông Nguyễn Bảy Đình - Bí thư huyện uỷ và cậu Hùng Lâm từng làm Bí thư quận uỷ. Hai ông đêm đi, gần sáng mới trở về nấp dưới hầm bí mật trong chái bếp của mệ. Căn hầm này, do bà ngoại và Hà lọ mọ đào và thủ tiêu đất một mình trong bao đêm trường. Đào dễ, đưa đất đi thu giấu mới khó. Đêm hôm mệ phải coi trước ngó sau, tránh lính đi kích, đi tuần cùng Hà đưa đất đổ xuống sông hoặc ban ngày thuê người đào mương, xới vườn, tối lôi đất dồn sẳn trong bao cát đã dấu dưới hầm đem lên trộn với đất mới đào. Gần sáng lại lấp miệng hầm, xoá dấu vết, nhúm bếp, bắt nước chè lên và ngồi canh cho bếp ngún tro than như cũ mới đi làm những công việc khác. Cứ đêm đào, ngày xoá dấu vết như vậy cho đến khi cậu Lâm (bí danh của Hùng Lâm) đến giúp đào thêm ngóc ngách và lỗ thông hơi, căn hầm mới hoàn chỉnh.
Ngoài ra mệ Lê còn chuyển tài liệu bí mật và tiếp tế cho dân quân du kích. Nhiều lần mệ giấu tài liệu trong những con ốc bưu, trong cùi trái mít, trái thơm luồn lách, mưu trí qua tai mắt địch đưa đến những hộp thư bí mật đã quy định. Mệ Lê xây am, làm thủ am theo hầu thánh Mẫu cũng để được thắp hương, thắp đèn dầu hợp pháp làm ám hiệu đưa đón cán bộ đi và về được an toàn. Theo như lời mệ kể lại, trong lần tấn công và nổi dậy xuân sáu tám, ông Bảy (bí danh của ông Bảy Đình) nhận định địa bàn làng Vân là một yếu huyệt của tỉnh ta nhưng nhờ thế bao bọc của hai dòng sông Sông Cùng và dòng Như Ý thuận lợi là cho việc đánh giặc giữ làng, thiết lập vành đai làm bàn đạp tấn công vào thị xã. Ông Bảy đề nghị một số cơ sở ở làng Vân tiếp tục hoạt động bí mật cho đến toàn thắng. Ông Bảy và cậu Lâm đã xác nhận trong lý lịch của mẹ Vi:
"Bà Nguyễn Thị Túc và con Nguyễn Thị Gái là gia đình có công với cách mạng. Đã nuôi dưỡng cán bộ trong thời kỳ chống Mỹ từ năm 1967 đến năm 1975 Giải phóng quân. Một gia đình lao động nghèo. Đề nghị các cơ quan chính quyền xét giải quyết cho gia đình có công ăn việc làm”.
Thay mặt huyện uỷ.
Bí thư, Nguyễn Bảy Đình (đã ký và đóng dấu)".
Và:
"Tôi, Hùng Lâm nguyên là Bí thư quận uỷ hữu ngạn thành uỷ... Nay là cán bộ Công ty xây dựng... Xin xác nhận gia đình bà Nguyễn Thi Túc và con gái là Nguyễn Thị Gái nuôi dưỡng tôi và đồng chí Nguyễn Bảy Đình (Nay Bí thơ huyện Phù Hương) từ năm năm 1967 đến năm 1975. Gia đình bà Túc là một gia đình nông dân nghèo, với tấm lòng yêu nước rất cao, thể hiện trong thời kỳ ác liệt 1968 -1969. Do vậy, chúng tôi đề nghị các cơ quan chiếu cố giúp đỡ, qua đó động viên gia đình phấn khởi tin tưởng vào chính sách của Đảng đối với gia đình có công với cách mạng. Tôi xin chịu trách nhiệm lời khai trên trước Đảng và Nhà nước.”
Hùng Lâm đã ký và có dấu xác nhận của cơ quan đồng chí Hùng Lâm đang công tác.
Cuối năm 1969, dân quân du kích ta thiếu đói một cách trầm trọng do địch càn quét làng Vân tơi bời. Nhiều đồng chí ta phải bật lên xanh. Hà kiên cường bám trụ, sống trong sự đùm bọc của nhân dân. Nhưng cũng phải chịu bữa đói bữa no vì địch kiểm soát gắt gao, lập ấp chiến lược, bán gạo liên gia và nhất là tụi bình định nông thôn ban ngày ở xen lẫn trong dân, ban đêm rúc vào các đồn bót gài mìn giăng lựu đạn cố thủ. Bà con bới cơm, bới khoai sắn cho dân quân du kích cũng phải vất vả và khôn khéo. Chẳng hạn vắt cơm từng cục, gói lá chuối khô hoặc bọc nilon giấu trong người, đem tới những điểm dân quân du kích bí mật qua lại, cảnh giác ngó trước ngó sau rồi đôi vào bụi tre, gốc sung, bụi rậm, bến nước, thả chìm xuống sông... có khi phải giả đi đại tiểu tiện để chôn dưới vồng khoai, vồng sắn cho anh em du kích lấy về san sẻ, chia nhau ăn qua buổi đói lòng. Hà chịu tất cả gian khổ hiểm nguy một cách hồn nhiên tươi sáng, cho đến khi bật lên xanh để bảo toàn tính mạng cho bản thân và gia đình...
Nghe gia đình Vi đã trở về, mệ Lê lội bộ lên thăm con cháu. Mệ Lê chân ướt chân ráo bước vào cửa, Vi đã hỏi tin tức Hà. Mệ Lê chau mặt buồn buồn... Vi ngạc nhiên và linh tính gì đó không ổn. Mệ Lê ngồi lặng lẽ, đôi mắt lờ mờ nhìn ra đường:
- O nớ ra Bắc rồi.
Vi hấp tấp hỏi:
- Giải phóng rồi cũng phải về thăm nhà chớ.
- Mệ không biết.
Vi đi lấy cuốc, xẻng đưa lên xe ba gác để chở lên miếng đất cũ vỡ đất, gỡ thép gai... Mệ Lê nói chuyện với mẹ Vi, đi trở vào Vi nghe bà ngoại đang kể chuyện gì đấy cho bà Gái nghe:
- Không biết thằng mô chỉ điểm, tự dưng tụi lính a vô vây đúng bụi tre vườn mụ Quới bắt loa gọi hàng. O Hường du kích làng Vân…
Thấy bóng Vi, mệ Lê không kể nữa. Tò mò Vi hỏi:
- O Hường đi du kích với Hà phải không ngoại?
- Ừ.
- O Hường còn sống ngoại hở?
- Hy sinh rồi!
- Vậy Hà còn sống hay...?
Mệ Lê nói với giọng ngậm ngùi:
- Hôm o Hường hy sinh, o Hà lên chiến khu luôn.
- Hà lên chiến khu làm chi ngoại?
- Làm Cách mạng chớ làm chi nữa. Thằng ni hỏi thiệt vô duyên. Hà làm giao liên.
- Giao liên là làm chi?
Mệ ậm ờ một lát mới nói tiếp:
- Nhiệm vụ của o là giao liên, lên rừng về thành như đi chợ chơ chi nữa lên thì lên chớ - O là giao liên làng Vân - Công tác của giao liên là dẫn đường, ai giác ngộ o dẫn lên chiến khu rồi đón cán bộ về hoạt động nội thành, đưa đón quân, mua thuốc thang cho Cách mạng...
Vi không muốn nghe gì nữa. Trong lòng ấp ủ một nỗi buồn vô vọng, không biết bao giừo mới được gặp lại Hà. Vi ngún trong lòng một nỗi buồn khó tả, chào bà ngoại và mẹ, Vi đi ra chiếc xe kéo chuẩn bị kéo vật liệu lên làm lán trên vạt đất trống của ông nội. Tiếng bà Gái kéo Vi về thực tại:
- Con kéo mấy tấm tồn hột mè xuống, lên trên che chòi. Ba mi rảnh, ông giở tôn ván thuê xe đò chở lên sau.
Vi lửng thửng đi rút tôn ông Chắc cất trên trần chống nóng. Tai Vi vẫn nghe ngoại hỏi mẹ:
- Thằng Chắc mô không phụ mấy đứa một tay.
- Ba nó về trình diện được tiếp tục làm việc ngay. Mấy bữa ni ông đi quét đường phố không rảnh mô mẹ. Mấy ông to bà lớn trước đây cũng ra làm đường hết, không ai chỉ tay năm ngón như trước cả, ai cũng làm lao động như nhau. Gia đình con ở đây không ai ý kiến chi nhưng ba nó bảo lên trên còn trồng củ khoai củ sắn mà ăn, ở dưới phố không có đất chăn nuôi, trồng trọt, ngày mô cũng đi lui đi tới đụng người, đụng xe thấy mệt.
Vi sắp mấy tôn lên trên cuốc xẻng cùng đồ dùng cho hai anh em lên xe đầy một xe ba gác. Đứng ngoài đường Vi vẫn dỏng tai nghe mẹ và ngoại nói chuyện. bà Gái hỏi:
- Mạ có tin tức chi của anh Trai chưa?
- Mẹ nghe anh con còn sống, không biết tại vì sao chưa vô?
- Anh thu xếp gia đình đã chớ, lại phải có tiền tàu xe nữa, chừ đi lại còn khó khăn lắm, mạ biết ngoài Đông Hà ngày nào công an cũng bắt người vượt tuyến trốn vào miền Nam không giấy tờ chi hết.
- Mạ cũng nghĩ vậy, nhưng con cháu người ta về bất loạn mạ thấy nóng ruột, thiệt tủi cái thân già tiệt tự...
Mẹ Vi cắt lời:
- Mạ cứ nói câu nớ hoài, còn con, còn anh Trai sờ sờ đó mà cứ nói tiệt với tự...
Thằng em Vi dục Vi kéo xe. Vi sực nhớ gia đình Hà đi trở vào hỏi:
- Bên nhà mợ Thí còn ai không ngoại?
- Còn đủ. Thằng Giang về công tác dưới công an huyện, con Thuỷ làm cấp dưỡng dưới huyện luôn. Cháu hỏi mệ mới nhớ, mai mốt cháu chở mệ về gặp ông Bí thơ huyện để coi ông cho con việc chi làm không.
Vi buồn bã nói:
- Thiếu Hà chứ mệ, đủ mô mà đủ. Từ từ ổn định rồi con chở mệ về quận một chuyến.
Vi quen gọi "quận" mặc dù biết Uỷ ban quân quản đã đổi quận thành huyện. Mệ Lê lại rầu rầu:
- Ờ... ờ... cũng phước ba đời rồi cháu nợ. Bây không biết đó chớ có nhiều nhà hy sinh hết - dường như lỡ lời ngập ngừng một chút rồi tiếp - nhiều nhà bị bom đạn chết sạch sành sanh, bây còn sống cả nhà vậy là may lắm rồi.
Vi kéo xe. Xe lăn từng vòng quay nặng nề như lòng Vi xa xót nỗi nhớ thương Hà. Thế là hết, hết rồi. Con đường nắng loá làm mắt Vi sụp xuống, tất cả mờ nhòa... Thằng em Vi hỏi:
- Răng anh khóc vậy?
- Con chi bay vô mắt anh đó.
(còn tiếp)
Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. www.trieuxuan.info
|