BA MƯƠI TƯ
Một hôm, mệ Lê dẫn cậu Lâm lên thăm gia đình Vi. Cậu Lâm ốm đen như hồi trong tù, giờ có sắc khí hơn, nhưng vẫn ngồi nhấp nhổm hoài trên ghế. Vi hỏi cậu ra tù từ bao giờ, cậu nói cậu được trao trả tù binh năm bảy hai tại sông Thạch Hãn. Vi sực nhớ lời cậu nhờ Vi nhắn với ngoại. Vi hỏi:
- Thằng Tùng cậu nói với em hồi ở tù có phải thiếu uý Tùng cặp bồ với cô Hà con cậu Thí dưới làng không?
- Chính hắn! Nhưng không phải bồ của cái Hà đâu. Không có cô gái nào yêu thằng bán nước cả. Chính hắn hãm hại cậu.
- Sao vậy cậu?
- Thật ra, hắn muốn bắt cậu để dụ cậu hồi chánh. Còn cái Hà, hồi tham gia phong trào học sinh sinh viên bãi khoá đấu tranh chống bắt lính, hắn đã thương thầm nhớ trộm cái Hà rồi.
- Cậu bị tù làm sao cậu biết Tùng phản bội?
- Dễ ẹt, chỉ suy nghĩ một chút là phát hiện ngay. Mình không phản bội thì hắn chớ ai khác. Tụi thẩm vấn tra khảo mình ngày lẫn đêm, bỗng dưng mình được đúc cung. Thằng quản đốc bắt mình làm đại diện. Mình biết tụi Phượng Hoàng cho mình hưởng đặc ân để anh em hoài nghi xa lánh mình, tạo vỏ bọc thằng Tùng ngõ hầu luồn sâu vào tổ chức của ta, phá hoại, ly gián các đồng chí mình triệt để hơn. Chi bộ nhà tù nhất trí mình làm đại diện, còn hơn để cho mấy thằng du côn du đãng đè đầu cưỡi cổ.
Vi tò mò:
- Tại sao thằng Tùng không chỉ điểm hầm bí mật trong nhà bà ngoại em?
- Ôi cái thằng này làm chi mà tra khảo mình đến tận nguồn, tận ngọn vậy? Dễ hiểu thôi, tại thằng Tùng không biết. Khi Tùng chưa hồi chánh, mấy lần hắn mặc đồ lính đeo lon thiếu uý chạy Honda về làng đón Hà đi rải truyền đơn. Hắn đều vào nhà mẹ (mệ Lê), nhờ mẹ qua gọi Hà, chứ hắn mặc đồ lính vô nhà Hà, anh Thí thấy được anh vác đùi rượt liền, anh không cho cái Hà quen với tụi lính đâu, huống chi đèo con anh đi chơi, đi xi nê hát bội.
- Bây giờ thằng Tùng đang đi học tâp cải tạo?
- Thằng đó cho đi học tập cho uổng cơm. Loại phản cách mạng như hắn mình bắt được bắn bỏ không tiếc đạn.
- Bắt được thằng Tùng không cậu?
Mệ Lê nói xen vào:
- Mệ nghe một anh lính hàng binh nói nó cạo trọc đầu mặc cà sa giả thấy tu. Khi nó chạy xuống biển, một thằng lính gặp nó rập gót: "Chào trung uý". Bộ đội nghe được bắt nó. Bộ đội ta hỏi: "Ai tù binh đứng nguyên tại chỗ. Ai hàng binh bước qua bên!". Hắn ngoan cố không chịu hàng binh, còn hy vọng trao trả. Sau đó, hắn trốn thoát. Không biết giờ hắn ở đâu? Tụi lính giết nhau giành tàu thủy, máy bay tháo chạy. Biết đâu hà bá bắt hắn rồi.
Cậu Lâm và ngoại ở lại ăn bữa cơm đoàn tụ với gia đình ông Chắc. Sau bữa cơm cậu kể chuỵện cậu bị Tùng loan tin cậu chiêu hồi. Sau này, tổ chức phải nhọc công xác minh cậu mới được trong sạch. Nhưng cậu xin thôi giữ chức Bí thơ quận ủy, chuyển sang Ty xây dựng làm cán bộ, một công việc hồi còn đi học cậu thích.
Rồi hôm sau Vi về làng Vân, Vi cũng được gặp ông Nguyễn Bảy Đình khi ông đến thăm ngoại Vi. Ông là anh em chú bác lại với ông ngoại Vi. Theo vai vế trong họ, mệ Lê tuy lớn tuổi hơn ông Bảy nhưng khi nào mệ cũng quý trọng gọi ông bằng anh Bảy. Mệ Lê hỏi anh Bảy có việc chi dưới huyện cho Vi làm. Ông Bảy:
- Nghe Lâm nói là cháu không ưa xây dựng?
Mệ Lê hớt lời:
- Cả đời cháu nó có biết cái bay cái bê ra sao mà biểu cháu nó xây với dựng anh Bảy. Cháu nó thích văn thơ anh Bảy nờ.
- Mai mốt tôi hỏi phòng văn hoá xem - Xây sang Vi ông Bảy bảo - Cháu lấy cho ông những bài cháu viết nhé, để ông đưa anh Trưởng phòng văn hóa xem qua.
- Dạ.
Ông Bảy cầm một tệp giấy nói với mệ Lê:
- O Gái nhờ tui gửi bộ hồ sơ ni qua phòng thương binh làm liệt sĩ cho cha con anh Mão.
Vi vẫn đứng bên bộ ngựa chiêm ngưỡng một vị Bí thư huyện mà trước đây ngoại đã dắt Vi tới ăn giỗ ở nhà bác trưởng của mẹ Vi, nhưng chưa được gặp. Vi biết đấy là bộ hồ sơ xin truy tặng liệt sĩ cho ông nội chú của Vi và o "Dại" Vi do bà Gái gửi về tận tay ông Bảy. Xã Dương Xuân bên nội Vi chung một huyện với làng Vân nên bà Gái có thể thay o Phương của Vi còn dưỡng thương ở ngoài Bắc, làm hồ sơ liệt sĩ cho ôn Mão và o Dại. Vi đã nghe bà con trầm trồ ca ngợi sự dũng cảm, gan góc của ông. Chuyện ông giả sĩ quan biệt động quân đón xe jeep bắt sống thằng Đại uý Cáo. Cáo đổi lốt, ông bắt nhầm Thiếu úy Tùng. Chuyện ông đột kích theo dòng Sông Cùng tiếp cận khách sạn Hương Giang đánh Mỹ như thế nào và lần phân đội ông bắn chìm giang thuyền của tụi hải quân ở trại Tây Kết ra sao… Người nghe cứ trố mắt như xem xi nê trinh thám đến phút hồi hộp. Giờ trước mặt Vi, ông Bảy là một con người giản dị, Vi không thấy sờ sợ vì quá kính nể như khi đứng trước một anh hùng. Ông Bảy thân quen, gần gũi thậm chí xuề xoà với mọi người. Ông đưa tệp giấy cho mệ Lê nhưng lại nói với Vi:
- Thím đưa cháu Vi đọc cho mà nghe, ông Bí thơ tỉnh xác nhận cho anh Mão đầy đủ lắm. Còn cháu nầy có phải hồi tui đang nằm dưới hầm cháu xách nguyên một thùng nước đổ vào lỗ thông hơi làm tui ướt hết phải không.
Mệ Lê cười:
- Bữa đó cháu thấy lỗ thông hơi tuởng lỗ dế - Xây qua Vi, mệ bảo - ông Bí thơ tỉnh xác nhận cho anh Mão thế nào, cháu đọc cho mệ nghe với.
Vi đọc:
"...Nguyễn Văn Mão tức tự Thẻo năm sinh 1909. Năm 1917 - 1948 cơ sở cách mạng Thành uỷ. Năm 1949 hai lần bị bắt giam ở lao Thừa Phủ, lao Đà Nẵng không khai! Năm 1958 ra tù làm ăn lương thiện vẫn tiếp tục tham gia Cách mạng, công tác bí mật cơ sở Cách mạng Thành đội thành uỷ. Đến chiến dịch Mậu Thân Ban chỉ huy Đoàn 5 giao cho ông Mão làm nhiệm vụ thông tin liên lạc, đồng thời đưa đón thương binh từ mặt trận lên chiến khu. Tháng 2/1968 cơ quan chỉ huy chiến dịch đánh chiếm Huế, tôi làm uỷ viên Khu uỷ, anh Trần Thân Trọng, Chỉ huy trưởng đóng tại nhà anh Mão, tụi Mỹ thả bom toạ độ xuống nhà ông Mão, ông Mão và con gái ông hy sinh. Con gái là Nguyễn Thị Hường là du kích xã Xuân Thuỷ cũng hy sinh. Con gái Nguyễn Thị Thương bị thương tật, con gái Nguyễn Thị Phương thoát ly. Tôi đề nghị tặng bằng liệt sĩ cho ông Mão và cô Hường, đồng thời giải quyết chính sách cho gia đình, cả gia đình đều tham gia tích cực phục vụ Ban chỉ huy Đoàn 5 thành đội Huế. Tôi xin cam đoan lời xác nhận trên là đúng sự thật, nếu sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật".
BA MƯƠI LĂM
Mệ Lê mấy chục năm ròng mỏi mòn chờ đợi đứa con đầu lòng trở về, một sự chờ đợi tưởng chừng vô vọng. Một hôm, một người đàn ông cao ốm, nước da tối, mặt khô khốc, đi bộ từ cầu ông Thượng về làng Vân. Gặp ai đi lại trên đường làng, ông đều hỏi:
- Anh biết thôn Xuân Hòa đi lối nào chỉ hộ tôi với?
- Bà có biết nhà ông Lê không ạ?
Người đàn ông hỏi hết con đường ven ruộng bên làng Lại Thế nhưng không ai biết ông Lê là ai. Ông đi qua chiếc cầu tre, trong ký ức xa ngái già cỗi của tâm hồn tha hương vẫn hình dung mập mờ con đường thân quen mà thời thơ ấu ông từng chạy nhảy nô đùa. Ông lần mò về đúng khu vườn dày rậm cây lá của mệ Lê. Gặp một người đi đường, ông hỏi khi chưa thật tin đó là nhà của ông. Anh thanh niên đạp xe trên đường làng thấy người lạ lơ ngơ nhìn ngó vườn này, nhà kia, anh phanh xe lại, trả lời
- Chú tìm nhà ai?
Người đàn ông trả lời:
- Nhà mẹ Túc.
- Ở làng ni không có mệ mô tên đó cả.
Người đàn ông chỉ vào khu vườn mệ Lê, hỏi:
- Ngôi nhà trong vườn này là nhà ai vậy cậu?
- Nhà mệ Lê chích lể đó chú.
Người đàn ông cám ơn anh thanh niên rồi đi vào lối đất giữa hai hàng chè tàu. Khi ông đứng trong vuông đất nhẵn thín, ông thấy một bà lão ngoài bảy mươi tuổi, ốm và cao như ông, ông nhìn sững. Mệ Lê bất chợt thấy người lạ nhìn mình, bà giật thột một cái và như có linh tính điều gì, tự miệng mệ Lê bật lên:
- Phải thằng Trai đó không?
Người đàn ông chạy đến định ôm mệ Lê nhưng khựng lại:
-Mạ!
Mệ Lê khóc òa... Mệ run run đến bên người đàn ông đưa bàn tay cong khô rờ từ trên tóc xuống vai... Người đàn ông chính ông Trai con đầu của mệ Lê, mệ Lê bỏ lại đất Lào trong năm mệ bồng hai con về quê nhà. Ông Trai lặng người trước cử chỉ thương yêu của mẹ già, nhưng ông không khóc mà cười. Ông hỏi:
- Mạ ở với ai? O Gái đâu?
- Mạ ở một mình con nợ. Con Gái lấy chồng phải theo chồng nó chứ.
- Định đâu mạ?
Mệ Lê nhìn vào bàn thờ. Ông Trai nhìn theo. Ông thấy thấp thoáng sau những bát nhang hình anh thanh niên, mặt vuông kiên nghị. Mệ Lê nói sau tiếng thở dài:
- Em nó mất hồi sáu ba lận con.
Nói xong mẹ kéo ông Trai vào nhà, kéo chiếc ghê đẩu duy nhất ra cho ông Trai ngồi. Hai mẹ con hàn huyên tâm sự suốt chiều. Mệ Lê nhớ ra:
- Thôi con nằm nghỉ tạm trên bộ ngưa, để mạ nấu cơm cho con ăn cả đói. À con đi thắp hương cho ông bà đi.
Mệ Lê định nói gì đó nhưng nghĩ vì hoàn cảnh chiến tranh phân ly nên thôi. Mẹ đi xuống bếp... Ông Trai không đi thắp hương, thất sự không phải ông lười nhác mà mấy chục năm sống lăn lộn du thủ du thực trên đất Lào rồi chạy sang Thái, ông chẳng biết hương đèn, cúng bái thế nào? Ông lên bộ ngựa nằm, trên đó sẵn chiếc gối, chăn, màn của Vi, mệ Lê thường xếp gọn, mỗi khi Vi không về. Ông Trai nằm nghĩ ngợi lung tung. Điều ông quan tâm nhất là tài sản của mẹ. Theo sự đồn đại, người ta nói người dân miền Nam giàu có, ai cũng có vàng cất dấu trong nhà. Khi bước chân lên tàu, vợ anh có dặn ông vào nếu mẹ còn sống, ông phải cố xin mẹ cho được một ít vàng diệp ra làm vốn mở quán bàn buôn cho khách xuôi ngược vùng cao. Hiện trước nhà ông, xe khách lên xuống các huyện sơn cước đều dừng lại ăn uống, mua bán đặc sản, trao đổi hàng hóa tấp nập, ổn ào như góc chợ nhỏ. Nhưng khi ông thấy ngôi nhà của mẹ xập xệ, khu vườn hoang vắng, đồ đạt nhếch nhác, không có giá trị gì ông lo thầm... mẹ sẽ không có của nả dành dụm, cất giấu như vợ ông tỉ tê mỗi đêm trước khi ông lên đường. Nhưng rồi ông lại nghĩ, biết đâu mẹ giả nghèo, giả khổ qua ải vậy thôi, sống một mình tất phải biết giấu mình trước sự dòm ngó của bọn trộm cướp chớ. Cũng theo sự đồn thổi của người xấu bụng, người ta bảo con gái miền Nam tuổi mười tám, đôi mươi không ai còn trinh, trộm cướp như rươi bọn con trai không đi lính thì cũng làm tay sai cho giặc, ở nhà thì chúng làm cao bồi, du côn du đãng. Cho nên, dù ông là một tay có nghề từng đăng đài đấu võ, nhưng ông luôn bọc trong người một cây dao Mẹo, chiếc dao cán sừng, lưỡi cong cong nhọn hoắt để tự vệ khi có sự cố hiểm nguy cho bản thân. Ông Trai đang thiêm thiếp:
- Con ngủ rồi hử?
- Không.
- Dậy ăn tạm trái mít con. Để mạ ra ngoài rớ mua ít cá vô kho.
Ông Trai ngồi dậy đến bên chiếc bàn lúc lắc lòng buồn rười rượi...
BA MƯƠI SÁU
Nghe ông Trai có ba đứa con trai, như vậy mệ Lê không chỉ có đích tôn, còn đùm đề bầy cháu nội những sáu đứa. Mệ Lê cho ông Trai hai chỉ vàng, bảo ra đem vợ con vào ở với mệ cho con cháu biết nội. Ông Trai nghĩ mẹ còn nhiều vàng cất giấu đâu đấy dành cho cháu đích tôn nên hí hửng ra quê vợ, bàn với vợ chuyển gia đình vào ở với mệ Lê.
Ngày cậu Trai đưa gia đình vào quê nội, Vi cũng có mặt tại nhà ngoại. Ban đầu Vi nghe tiếng cậu Trai, nói:
- Đây này, chúng mày đi lối này!
Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Vi không phải những người con của cậu Trai, mà chính sự nghèo khó của gia đình cậu. Ngoại Vi:
- Ui chao! Cháu còn dại con tiếc chi mấy đồng bạc xích lô. Bây thiệt đoảng! Tội nghiệp cháu tui!
Mới đầu bà cháu, con dâu bà gia sum vầy hủ hỉ. Sau lạ cảnh lạ người, lại thêm tính mợ rụt rè không biết làm gì, việc vườn tược cũng không quen, nhiều lần bị Mệ Lê mắng:
- Chiêu!
Hay:
Con ai cháu ai ngoài đó mà không biết lễ phép, miệng câm như hến, vậy mà chuyện chi cũng xúi thằng chồng nai lưng ra làm, còn mình ăn rồi rúc miết trong buồng ơ.
Còn cậu Trai ngập rượu, ngày nào cũng say, miệng luôn lải nhải chửi con, mắng vợ. Đôi khi say rượu, cậu còn cầm đùi rượt con chạy mút đình làng, làm mệ Lê nhiều bận bẻ mặt với làng nước. Trước đây bà con xóm giềng nhìn cảnh đơn chiếc của mệ đều tỏ lòng xót xa thông cảm. Bây giờ thấy nhà mệ thường xuyên lục đục, khấu ó nhau họ rủ rỉ cười cợt với ngụ ý mỉa mai. Một bữa, Vi chở mẹ Vi về thăm mệ. Vi dắt xe đạp tới cây hải đường đã nghe mệ và cậu đang cải nhau bằng tiếng Lào. Mẹ Vi cũng hiểu được cuộc cải vã của mẹ và anh, mẹ dịch cho Vi nghe:
- Không biết ai ác nhơn dựng đứng chuyện mệ có một lon gô vàng. Cậu Trai biểu mệ đưa cho cậu. Mệ than, một phân tau cũng không có. Cậu mi không tin, mắng mệ ác, bỏ cậu khi cậu mới mười mấy tuổi đầu. Cậu còn nói, mệ không tin vợ chồng cậu nên mới gửi vàng nơi mạ. Mệ lấy về cho cậu mượn cậu làm ăn, có cậu trả lại cho...
Nghe mẹ Vi kể vậy Vi cũng buồn. Cậu đâu biết ngoại cực khổ bao năm mới nuôi được mẹ Vi và cậu Định. Sau khi ngoại già không còn sức bươn chải nữa, hàng tháng mẹ Vi chu cấp thêm cho ngoại. Vi định bụng sẽ nói cho hết cho cậu biết. Nhưng những lúc gặp cậu, Vi lại sa đà nghe cậu kể quảng đời cậu lưu lạc bên Lào. Ông Trai vênh vênh kể lại quãng đời giang hồ du thử bên đất Thái cho vi nghe rằng:
- Mười hai tuổi tau phải đi bán cà rem nuôi ông nằm dài hút thuốc phiện. Muốn bán được nhiều lời phải biết đấm đá và có sức mạnh. Thói đời mạnh được yếu thua mà. Tau đi học võ. Rồi mê đấu võ đài. Lên võ đài thắng thì huy hoàng, thua thì toe xơ mướp. Có lần, ông bầu của võ sĩ Phò Thọ Cỡn đưa tiền biểu tau phải thua thằng Cỡn để gầy dựng thanh thế cho nó. Tau tự ái dân tộc và danh dự lò võ tau không chịu thua. Tau đá vào ức thằng Cỡn một cú nghịch lân nó lật ngược xuống đài không lết lên nổi. Chiều tối, băng của thằng Phò Thọ Cỡn trùm bao bố đánh tau nằm liệt luôn. Sau khi ra viện tau không đấm đá chi được nữa, tau theo học thợ may rồi gặp mợ mi. Một mình tau tứ cô vô thân, nếu không có gia đình bên vợ có thể tau mất xác bên Thái rồi. Năm sáu hai Chính phủ kêu gọi đồng bào Việt kiều về nước. Tau về đi thanh niên xung phong được mấy tháng thì bị thương ở Hàm Rồng...
Những lúc cậu Vi ở dưới làng Vân đạp xe lên nhà Vi chơi, cậu cũng dạy võ cho Vi như cậu Định. Cậu còn dạy cho Vi một bài thần chú. Cậu bảo, những lúc gặp hoạn nạn niệm bài thần chú đó sẽ qua khỏi. Vi học thuộc bài thần chú và thỉnh thoảng cũng niệm để cầu xin. Còn quyền cước cậu dạy, Vi không thuộc, Vi thấy bài quyền gì mà cứ nhảy loi choi, đấm đá lung tung. Lại còn lên gối, gim chõ vào những yếu huyệt của con người, không đường đuờng chính chính như môn võ Vi đang tập.
Năm sau cậu Trai không thể sống với làng quê bản quán nữa. Máu huyết quảng đời du thủ du thực trên đất khách quê người đã xúi cậu gây lộn với mệ Lê nhiều trận, đến nổi cậu hét trước mặt mệ Lê:
- Cha mẹ bất từ, con bất hiếu!
Rồi cậu tuyên bố với làng nước, cậu từ mệ Lê luôn. Xưa nay, cha mẹ từ con, chớ có khi nào con từ cha mẹ bao giờ? Đúng là cậu đại bất hiếu! Cậu mợ lại gồng gánh gia đình trở lại quê vợ. Nơi đấy cậu đã sinh ra một đàn con và có cả một dòng họ bên vợ đùm bọc.
Gia đình ông Trai ra đi, mẹ Lê lại sống lủi thủi một mình một bóng trong ngôi nhà xiêu vẹo và khu vườn hoang dại như mấy chục năm trong chiến tranh. Thời chiến mệ Lê còn có con đường phấn đấu, còn có lý tưởng theo đuổi và nỗi chờ mong người con đầu trở về. Thời bình, mẹ Lê rỗi rảnh đến buồn, cảnh cô quạnh, đơn chiếc không đau xót bằng sự thất vọng đứa con đầu âm ỉ như than lửa ngún trong lòng mệ, người dập tắt niềm hy vọng của mệ lại là đứa con đầu mệ đã sinh ra...
BA MƯƠI BẢY
Cậu Lâm lại lên nhà Vi với một chiếc xe đạp mới cáu. Cậu nói với bà Gái để chiếc xe đạp này cho Hoa em gái của Vi đi học. Sau Giải phóng, đa số cán bộ, công nhân viên có chiếc xe đạp và một chiếc radio đeo lủng lẳng bên vai được coi khá giả rồi. Vi mừng không phải chiếc xe đạp cậu Lâm cho em gái mà mừng cậu ngồi trên yên xe đạp lên nhà Vi, nghĩa là cậu đã ngồi trên ghế như người lành lặn bình thường. Chờ cậu nói chuyện với mẹ xong, Vi hỏi:
- Cậu ngồi… chạy xe được rồi hả?
- Đâu có! Mình ngồi vẫn còn cấn... nằm còn nằm nghiêng nữa là.
- Sao cậu đạp xe đạp từ dưới phố lên đây?
Anh Lâm hiểu ý câu của Vi cười “ha...hả...” mình dắt xe đạp đi có sao đâu. Dắt xe đi giữa đường mình chợt nghĩ chiếc xe công dụng cũng như chiếc gậy Trường Sơn giúp mình đi nhanh hơn đó Vi ạ.
Vi nghĩ, khi không cậu Lâm nhọc công dắt xe đạp đi hơn bốn cây số lên nhà cho Hoa, lại ấp úng có điều gì chưa dám nói ra? Lúc ấy, xe đò đỗ trước đường, mệ Lê Vi nách chuối, mít lên cho các cháu. Mệ vào nói chuyện với bà Gái và Hoa hồi lâu, trong khi cậu Lâm xin nhảy xe đò về cơ quan. Qua cuộc trò chuyện giữa ngoại, mẹ và em gái Vi biết ngoại muốn tác hợp cậu Lâm với Hoa. Bà Gái bằng lòng. Hoa ngủng ngẳng nói, chưa muốn lấy chồng. Hoa vẫn nhận chiếc xe đạp mới toanh của cậu Lâm. Vi hỏi Hoa:
- Em thấy cậu Lâm thế nào?
- Già!
- Già hay xấu?
- Cả hai!
- Sao không từ chối?
- Lội xuống trường đi học rả cả hai chân, nhận đại, sau trả.
- Tùy cô. Nhưng cô phải dứt khoát, đừng để người ta coi thuờng nhà mình.
Câu chuyện Vi với cô em gái chỉ có vậy. Không ngờ Hoa nhắn cậu Lâm lên nhà lấy lại xe đạp. Lâm không nhận lại nhưng Hoa dứt khoát nhờ Vi đem về cơ quan trả lại cho cậu Lâm. Vi đạp xe về căn hộ tập thể trả xe đạp cho Lâm. Lâm nói:
- Tại mẹ muốn chứ cậu cũng biết mình bệnh hoạn luôn sức nghỉn đâu mà nghĩ tới chuyện lập gia đình. Vi đêm xe đạp lên cho cô Hoa đi học. Coi như mình tặng cô ấy mà...
Nói qua nói lại chuyện với Vi về chuyện chiếc xe đạp. cậu Lâm khoe rằng:
- Mình đã luyện cách ngồi một bên mông, không phải đứng nói chuyện với người khác nữa Vi à.
Vi reo lên:
Hay quá!
Cậu Lâm nói tiếp:
- Theo lời ông đông y sĩ là mình có thể đi xe Honda được nữa. Nếu ngồi được, mình sẽ dành tiền lương mua một chiếc 78, chiếc xe đạp này Vi cứ đem tặng Hoa giúp mình.
- Cậu nói thế thì Vi đành nhận giúp vây.
- Tốt. Đừng bàn cĩa thụt lui thụt tới nữa. hai cậu cháu mình ra quan nhâm nhi xị rượu thuốc.
Ra quán Vi và Lâm kiếm một góc khuất gọi rượu và mồi. Cậu Lâm ngồi một bên mông trên góc ghế nhỏ nhưng thỉnh thoảng nhấp nhổm đổi mông và bỗng nhiên Lâm hỏi:
- Mẹ nói chuyện cái Hà cho Vi biết rồi phải không?
Nghe cậu Lâm nhắc tới Hà, Vi giật mình, tình táo hỏi:
- Bà ngoại nói với em, Hà bị thương chuyển ra ngoài Bắc điều trị?
- Làm chi có chuyện nớ.
Vi ngớ mặt ngạc nhiên, ngồi há miệng chờ cậu Lâm tiếp. Lâm ngồi lặng một lúc làm Vi nôn nóng không chịu được, lòng linh tính có chuyện chẳng lành:
- Cậu nói em nghe với nờ, Hà đã…
Cậu Lâm nhấp một tợp rượu lấy bình tĩnh, nói:
- Cô ấy hy sinh rồi Vi à! Cái Hà chết trong hầm bí mật của mẹ Lê. Vi đừng đợi nữa!
- Sao?... Hà chết trong hầm ngoại Vi à? Ngoại nói Hà bị thương mà? - Mẹ sợ cậu buồn không dám nói thật. Không tin Vi về làng hỏi Giang thì biết.
- Ôi!... em thật vô tâm, từ khi giải phóng em bận việc Chi đoàn, ít khi về làng, mỗi khi về cũng chẳng đi nhà nào, loáng một cái với ngoại rồi đạp xe lên ngay. Cũng do em tưởng Hà ở ngoài viện điều dưỡng như ngoại đã nói nên không hề sang thăm mợ Thí, hơn nữa bên mợ Thí không còn ai thân với em, thằng Giang đi Công an rồi. Em thiệt tệ.
Cậu Lâm nói tiếp:
- Hồi đó, gia đình cái Hà cũng chỉ biết Hà mất tích, chưa lập bàn thờ, nhỡ thờ sống cái Hà luôn sao.
Cậu Lâm thấy mặt Vi dàu dạu, mắt sũng nước, cậu tôn trọng nỗi đau của Vi nên ngồi im… Vi nhìn cậu Lâm với ánh mắt vô hồn:
Cậu kể tiếp cho em nghe nờ.
Cậu Lâm muốn Vi nhẹ lòng đau xót, cậu chuyể qua chuyệ khác:
Vi có biết không, nguyên tắc của một cơ sở cũng như của người tù chính trị là cương quyết, gan lỳ, nếu tụi lính biết ta là cơ sở, là hoạt động bí mật là ta phải giữ khí tiết Cách mạng là khong khai báo, nếu bí quá ta phải khôn khéo đánh lạc hướng địch. Nếu chúng chưa biết, ta phải khăng khăng ta là người dân bình thường không tham gia bên này, bên kia. Như vậy, giữ khí tiết trong tù không phải là không khai báo gì cả, vì phải khai báo mới có khẩu cung, chúng mới đúc cung mà phải khai báo cách nào mới là vấn đề, khai báo để đánh lạc hướng địch, để bảo vệ tổ chức, bảo vệ đồng đội và bảo vệ chính mình. Hồi mình ở tù mình gặp Vi đó, anh em tù thấy mình làm đại diện, thấy mình dạy ngoại ngữ cho con thằng Quản đốc, cứ xì xầm mình chiều hồi, phản bội này nọ. Nhưng họ không thông cảm cho mình, tù chính trị là phải khai báo, ai không khai báo mà tồn tại được và phải luồn lách mà sống để bảo vệ bí mật và bảo vệ đồng đội mình, chứ không thể bán đứng đồng chí mình như mụ Quới.
Vi nóng lòng:
Cậu kể chuyện hà ơ tề.
Từ từ để cậu kể. Thôi vô lấy một ly đá và bình tĩnh nghe cậu tiếp:
Vi và cậu Lâm cụng ly rồi cùng nhau uống “ực” cạn ly rượu mắt trâu. Cậu Lâm kể:
Hà thoát ra từ hầm mụ Quới lại sa vào tay thằng Tùng. Tối hôm đó cậu bị bắt, lúc cậu bị bắt cậu vẫn còn tin Tùng. Nhưng sau này cậu biết chính xác cạu bị thằng Tùng chỉ điểm và giờ đây cậu biết chính xác Tùng hãm hại Hà nhờ cuốn nhật ký Hà ghi chép dưới hầm của mẹ…
Cuốn nhật ký của Hà bây chừ ai giữ? Bảo tàng huyện hả cậu?
Chuyện nớ thì cháu phải về nhà chị Thí. Cậu chỉ biết ngang đó thôi.
Mặc dù từ lâu Vi đã linh tính việc Hà hy sinh, nhưng khi nghe chính miệng của cậu Lâm nói ra, Vi vẫn còn thấy bồi hồi xúc động và bỗng thấy nỗi chờ đợi vô vọng của mình đã thành hiện thực. Vi choáng ngợp nỗi đau quăn thắt, gục đầu khóc thầm…
Đêm ấy, Vi láng cháng dắt xe đạp của cậu Lâm cho Hoa về nhà. Vi lấy bốn câu thơ viết cho Hà, chờ hòa bình tặng Hà, đem ra đốt và vái giữa thinh không rằng Vi không bao giờ quên Hà, không bao giờ quên nụ hôn đầu đời của Vi. Mong em sống khôn thác thiêng, sống nguyên vẹn chết anh hùng thành tiên, thành thánh không vướng bận cõi tràn hồng đầy bấc trắc và gian dối này. Bốn câu thơ của Vi cháy tro than nhưng dư âm còn vọng mãi trong lòng Vi.
“Em con gái có tóc huyền trĩu mộng
Có nụ cười giăng bủa cánh chim bay
Ta con trai có đường hoang lạc lối
Có trăm năm thương thân phận lưu đày!"
(còn tiếp)
Nguồn: Bầu trời cổ tích. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên An. NXB Công an Nhân dân, 2010. www.trieuxuan.info |