tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
29.10.2008
A. Zak Kuznexov
Tài sản Quốc gia

MỞ ĐẦU


Ở Duanienski, trong dinh thự của công tước Tikhovinski; suốt cả một thời gian dài sau khi chủ nhân bỏ trốn ra nước ngoài, mọi thứ vẫn như cũ: sàn gỗ bóng láng, những bức tượng bằng cẩm thạch trắng muốt trên những chiếc kệ cao cạnh tường, ánh sáng mặt trời vẫn khúc xạ, phản chiếu màu sắc cầu vồng trên những chùm đèn cổ bằng pha lê.


Chiếc đồng hồ bằng đồng treo trên tường vẫn chậm rãi từng tiếng một, điểm mười hai tiếng trong sự yên ắng giữa trưa của những căn phòng sang trọng.


Hai cánh cửa bằng đong dưới mặt số đồng hồ mở ra và từ đấy xuất hiện một chàng kỵ sĩ mặc áo giáp. Không vội vã, chàng kỵ sĩ ấy phi dọc bức tường cung điện rồi biến mất sau hai cánh cửa khác. Cùng với tiếng chuông cuối cùng, chiếc cầu nhỏ xíu bắc qua một cái hồ từ từ nâng lên và hai cánh cổng của pháo đài đóng lại.


Dọc theo dãy phòng sang trọng có ba người đang rảo bước; chính ủy Kotrin, thủy binh Petrovuc và người quản gia cũ của công tước Tikhovinski- Ilia Spiridonovich Taracanop. Kotrin với cái đầu hói và bộ râu quai nón lơ thơ mấy sợi bạc, trong chiếc áo varơi đã sờn, nhàu nát nhìn những bức tranh trên tường. Petrovuc với khẩu maode trong chiếc bao súng bằng gỗ đeo dưới chiếc áo khoác ngắn màu đen, phanh ngực, đi đứng chững chạc ra mặt và chỉ có đôi tay to tướng đang mân mê chiếc mũ lưỡi trai là để lộ sự ngỡ ngàng của anh trước vẻ hoàn mỹ của những căn phòng sang trọng của công tước. Ilia Xpiridonovich, một người gầy còm trong bộ quần áo vải gai dày, đeo cặp kính râm, đi trước, mở cửa cho các đại diện của chính quyền Xô viết.


- Đây là ai thế này, quỷ tha ma bắt nó đi?!- Pêtrôvúc dừng lại trước bức chân dung của một vị tướng lấp lánh huân chương và ngù vai rồi hỏi.


- Ngài thống chế, công tước Tikhôvinxki Phêđo Alếchxanêvích, vị anh hùng của những năm Hai mươi, ông cố nội của chủ dinh cơ này - Taracanốp trả lời vẻ nhã nhặn.


Kôtrin cười gằn:


- Tôi nghĩ, ông muốn nói đến chủ nhân cũ của dinh thự này?


Xin lỗi ngài chính ủy, thói quen- Taracanốp nói, nụ cười mỉm nở tươi trên môi.


Pêtrôvúc đang đứng trước bức chân dung của một phụ nữ đứng tuổi với một dải băng đen rộng vắt qua vai.


- Còn bà này là bà nào nữa thế này, quỷ tha ma bắt nó đi?!


- Nữ hoàng Êlizabét Pêtrốpna- Kôtrin trả lời.


- Đúng vậy, nữ hoàng Êlizabét Pêtrốpna, con gái của Pie Đại đế- Taracanốp nhanh nhảu xác nhận.- Theo lệnh của nữ hoàng, dinh cơ này đã được giao vĩnh viễn cho công tước Pie Anđrôvích Tikhôvinxki.


- Vĩnh viễn?- Kôtrin cười mỉa, hỏi.


- Sắc lệnh hiện còn giữ trong hồ sơ lưu trữ của công tươc đã viết đúng như thế: vĩnh viễn- Taracanốp nói nhanh, không thèm đưa mắt nhìn Kôtrin.


Có tiếng nói ồm ồm của Pêtrôvúc vang lên từ phòng bên.


- Còn cái cậu nhóc này là ai nữa đây, hỡi quỷ thần?


Kôtrin cùng với Taracanốp bước vào một căn phòng rộng với những bức tranh lồng khung vàng treo san sát suốt từ sàn lên tận trần và dừng lại trước bức tranh không lớn lắm vẽ hình một cậu bé mặc đồ xanh.


- Phải của Pinturickiô không?- Kôtrin hỏi.


Taracanốp gật đầu.


- Nếu tôi không nhầm- Kôtrin nói tiếp- thì bức chân dung “Cậu bé trong màu xanh” này là một bức tranh trong bộ sưu tập của Mêđitri?


Taracanốp mỉm cười trịch thượng rồi nói bằng một giọng khô khoc:


- Ngài Xécgây Alếchxanđrôvích đã mua bức tranh này trong chuyến đi Ý cuối cùng, một năm trước khi có chiến tranh.


- Nguyên bản chứ?- Kôtrin hỏi.


- Công tước không bao giờ thu thập bản sao.


- Còn đây là Busê?- Kôtrin chỉ một bức tranh không lớn lắm lồng trong chiếc khung vàng sặc sỡ, hỏi.


- “Amua và Prikhêa”- Taracanốp trả lời.


Một bà lão cao, gầy, khô đét trong chiếc váy dài thêu ren bước vào phòng.


- Tôi được hân hạnh nói chuyện với ai đây?- Bà lão khẽ cúi đầu hỏi Kôtrin.


- Ivan Épđôkimôvích Kôtrin, đại diện toàn quyền Bộ dân ủy tài sản nước Cộng hòa- Kôtrin nói rồi chìa giấy ủy quyền cho bà lão.


Bà lão cầm lấy, lật lật trên tay, trao cho Taracanốp và nói:


- Ilia Xpiriđônôvích, đừng tính công, anh giúp lão đọc cái này với.


“Nước Nga đã được tạo dựng hàng thế kỷ nay bằng mồ hôi và máu- Taracanốp cất tiếng đọc bằng một giọng run run, nhỏ nhẹ- Nhìn đâu chúng ta cũng thấy thành quả của những bàn tay nhân dân lao động. Những cung điện hôm qua đã trở về với chủ nhân hợp pháp của chúng, trở về với kẻ chiến thắng, với nhân dân cách mạng. Mỗi một đài kỷ niệm cổ kính, mỗi một tác phẩm nghệ thuật, những thứ chỉ giải trí cho vua chúa và những kẻ giàu sang đã trở thành tài sản chung của chúng ta.


Bà nữ công tước già vừa nghe vừa chằm chằm nhìn Kôtrin.


“Chúng ta không trao chúng cho ai- Taracanốp đọc tiếp- mà giữ lại cho mình, cho con cháu, cho nhân loại, cho những thế hệ sẽ đến sau chúng ta là những người muốn biết trước mình con người đã sống bằng cái gì và sống như thế nào…”.


- Thôi đủ rồi, Ilia Xpiriđônôvích ạ, ta hiểu cả… Và thế rồi sao thưa ngài?- Bà lão đưa tay chỉ những bức tranh trên tường và những bức tượng bằng cẩm thạch trong những chiếc lồng kính, hỏi.- Các ngài định chia tất cả những thứ này cho các ngài vô sản và mugích ư? Không đủ đâu anh bạn ạ…


- Bà nên nghĩ bà đang nói gì- Pêtrôvúc không chịu nổi, gắt.


- Đồng chí Pêtrôvúc… - Kôtrin ngắt lời anh, vẻ trách móc roi quay sang nói với bà lão- Êlêna Côngxtantinốpna, bà có thể yên tâm. Chúng tôi biết rõ cần phải làm gì với những giá trị nghệ thuật như thế này. Bộ sưu tập của con trai bà từ nay sẽ thuộc về tài sản của nước Cộng hòa và sẽ được trao toàn bộ cho Viện Bảo tàng Quốc gia Pêtrôgrat theo quyết định của Hội đồng dân ủy đã được Lênin ký.


Có tiếng ai lanh lảnh vang lên ở phòng bên:


- Ngài ho... oàng đế mu… ôn nă… ăm! Mu… ôn nă… ăm, mu… ôn nă... ăm!


Pêtrôvúc vội vàng chộp ngay lấy khẩu Maode, đẩy bà lão sang một bên, lao vào cánh cửa để ngỏ.


Trong chiếc lồng tuyệt đẹp, để bên cửa sổ, một con vẹt đang nói hô vang khẩu hiệu.


- Mu…ôn nă…ăm!- Chú vẹt nhìn anh lính thủy hót vang như thách thức.


- Chà, đồ phản cách mạng, quỷ tha ma bắt mày đi!- Pêtrôvúc rủa rồi phì cười- Cũng may mày là chim, chứ nếu là người thì tao cho mày một phát ngoẻo ngay tại chỗ rồi.


***


Đơn vị kỵ binh của Strunhicop đang chờ chuyển quân, tại một ga xe lửa. Cái đầu máy nhỏ nhắn, cũ kỹ đang khó nhọc, ì ạch kéo những toa tàu đầy bụi vào sân ga thấp.


- Năm toa đầu, chở ngựa!- Strunhicop ra lệnh- Toa thứ sáu, chở cỏ khô.


Tiếng mở cửa cót két. Mấy người lính còng lưng khuân những thanh gỗ đến bên các toa tàu để ghép thành cầu cho ngựa lên. Strunhicop phóng ngựa đến cạnh một toa, nhìn thấy mấy chiếc hòm lớn với những dòng chữ viết bằng sơn, anh liền ra lệnh:


- Giải phóng toa!


Mấy anh lính lập tức leo lên toa thi hành mệnh lệnh của chỉ huy. Trên một chiếc hòm, Pêtrôvúc trùm chăn ngủ như chết. Mọi người cười khoái chí. Mấy anh lính xúm nhau khiêng chiếc hòm có anh lính thủy ngủ ở trên ra khỏi toa xe. Mãi đến lúc con ngựa hung bị kéo đến bên toa tàu sợ hãi chồm lên, hí vang, Pêtrôvúc mới bừng tỉnh nhảy xuống và trước khi hình dung được chuyện gì đang xảy ra, anh vồ ngay lấy khẩu súng. Mấy người lính kỵ binh phì cười.


- Bọn phản cách mạng, quỷ tha ma bắt các người đi!- Pêtrôvúc gầm lên- Khuân hòm trả lại chỗ cũ!


Đám kỵ binh càng cười to hơn. Con ngựa bị kéo cương miễn cưỡng leo lên cầu. Pêtrôvúc xông lên chắn ngang trước cửa toa tàu.


- Lùi lại không toi bắn!- Anh quát- Tôi chở tài sản của công tước Tikhôvinxki về Pêtrôgrát…


Tiếng quát tháo giận dữ vang lên từ mọi phía.


- Đồ tư lợi!


- Đồ đầy tớ quý tộc!


- Cho hắn ta mấy cái bạt tai!


- Bắt thằng khốn nạn quay mặt vao tường!


Đám kỵ binh liền lôi cổ Pêtrôvúc ra sân ga, tước vũ khí, rồi bẻ quặt hai tay ra sau. Ngay lúc đó, hệt như từ dưới đất chui lên, Strunhicop xuất hiện trên con ngựa xám đốm đen của mình.


- Ai thế?- Strunhicop hỏi.


- Tên đầy tớ của công tước Tikhôvinxki. Cứu tài sản cho bọn quý tộc.- Anh kỵ binh gầy báo cáo bằng một giọng khàn khàn.


- Tôi là đầy tớ?- Pêtrôvúc tức giận rít lên- Tôi, một thủy binh của Bantíc cách mạng mà anh dám bao là đầy tớ?! Tôi sẽ cho anh, cái đồ phản cách mạng, một phát ngay bây giờ, đồ quỷ tha ma bắt!


- Có giấy ủy nhiệm không?- Strunhicop hỏi.


Mấy anh lính kỵ binh buông tay Pêtrôvúc. Anh lấy giấy ủy nhiệm đưa cho Strunhicop.


- Đọc đi!- Strunhicop ra lệnh.


- “Nước Nga đã được tạo dựng hàng thế kỷ bằng mồ hôi và máu- Pêtrôvúc dò đọc từng chữ với vẻ khó nhọc.- Nhìn đâu chúng ta cũng thấy thành quả của những bàn tay nhân dân lao động…”. Và rồi không thèm nhìn vào tờ giấy, như một nhà hùng biện phát biểu trước cuộc mít tinh, Pêtrôvúc dõng dạc, hùng hồn ném vào đám kỵ binh những lời tiếp sau đó trong tờ giấy ủy nhiệm mà anh đã học thuộc- Những cung điện của vua chúa, quý tộc, những tác phẩm nghệ thuật vô giá, những thứ chỉ giải trí cho bọn vua chúa và quý tộc đã trở thành của chúng ta. Từ nay và vĩnh viễn chúng đã trở về với chủ nhân hợp pháp của chúng, những kẻ chiến thắng và nhân dân cách mạng...”. Rồi thật bất ngờ đối với chính mình, vì quá xúc động, anh hô to:- Hoan hô!


- Hoan hô!- Đám kỵ binh hô theo.


Chờ cho mọi người im lặng, Strunhicop ra lệnh:


- Cho ngựa lên!


- Tôi không cho!- Pêtrôvúc thét lên, lao đến án ngữ trước cửa toa tàu.


- Này anh lính thủy, đừng ngốc nghếch như thế- Strunhicop nói giọng nghiêm khắc.- Mỗi một phút đối với chúng tôi lúc này đều rất quý giá. Nước Cộng hòa đang trong cơn lâm nguy. Chúng tôi ra trận. Lui ra, nghe rõ chưa!


Pêtrôvúc xông đến trước Strunhicop, dúi tờ giấy ủy nhiệm vào mặt anh ta.


- Đọc đi, nếu là biết chữ. “Tất cả các chính quyền địa phương, các trạm kiểm soát, đường sắt và chỉ huy các tập đoàn quân đều phải có trách nhiệm giúp đồng chí Pêtrôvúc trong việc chở số hàng quý giá của nước Cộng hòa”. Nhìn thấy dấu của Hội đồng dân ủy chứ? Hay là mù chữ?


Biết chữ…- Strunhicop nhìn tờ giấy rồi nói với vẻ thiếu cương quyết.- Trả súng cho anh ta và cắt toa tàu lại!


Nói rồi Strunhicop phóng ngựa phi dọc theo đoàn tàu.


Anh kỵ binh gầy, người mà lúc nãy vừa gọi Pêtrôvúc là đầy tớ lò dò đến bên.


- Này, cậu có the nói số tài sản trị giá bao nhiêu chứ, anh bạn Bantíc?- Anh chàng kỵ binh hỏi, giọng thanh thoát. Tính bằng rúp vàng ấy, chẳng hạn nghìn, triệu, tỷ rúp…


- Nhiều hơn- Pêtrôvúc bỏ khẩu Maode vào bao nói với vẻ quan trọng- Phai đến hàng nghìn tỷ và thậm chí cả tỷ tỷ rúp ấy chứ!


***


Hai hôm sau, trong khoảng sân của Viện bảo tàng Pêtrôgrát, các nhân viên tụ tập khuân những chiếc hòm do Pêtrôvúc vừa chở về từ mấy chiếc xe ngựa xuống. Mấy con ngựa cúi đầu, đưa lưỡi lượm những sợi cỏ khô dưới đất. Giám đốc Viện bảo tàng đưa tay đỡ cái mục kỉnh sắp rơi, liếc nhìn bản kê khai bộ sưu tập dài và khó khăn lắm mới kìm được nụ cười thỏa mãn.


- Đồng chí Pêtrôvúc, thậm chí đồng chí cũng không thể hình dung được đồng chí đã làm một sự nghiệp vĩ đại như thế nào…- Ông bắt tay anh lính thủy và nói.


Bên cạnh ông giám đốc nhỏ nhắn với chiếc mũ đen trên đầu trông Pêtrôvúc như một người khổng lồ.


- Đồng chí giám đốc, thế đồng chí không thể nói trị giá bộ sưu tập này khoảng chừng bao nhiêu, chẳng hạn tính bằng rúp vàng à?- Anh lính thủy hỏi, vẻ mặt rạng rỡ với nụ cười mỉm.


- Tôi không nói được. Ngay cả gần đúng. Bộ sưu tập này gia đình công tước Tikhôvinxki đã thu thập trong suốt gần hai thế kỷ, thực ra nó không có giá, nó vô giá.- Ông nói rồi liếc nhìn bản kê khai- Đây, như tác phẩm số sáu bảy chẳng hạn… “Pinturickiô- Cậu bé trong màu xanh”. Năm 1672, quận công Milăngxki đã trả giá một số tiền vàng phủ kín hai lớp bề mặt của bức tranh. Bây giờ là năm 1918, giá nó tăng lên gấp nhiều lần. Nó có một không hai, hay nói cách khác là vô giá.- Anđây Apôlônôvích, yêu cầu anh mở- ông quay sang nói với một nhân viên- mở chiếc hòm thứ năm ra… Bây giờ đồng chí sẽ nhìn thấy tác phẩm tuyệt mỹ đó.


Các nhân viên bảo tàng mở hòm, nhấc nắp lên.


- Cẩn thận! Trời ơi cẩn thận!- Ông giám đốc nói vẻ hồi hộp.


Ông đẩy mấy nhân viên ra, thận trọng gỡ bỏ lớp phớt để lộ lớp vỏ bào… Ông thọc tay vào hòm và rút ra một chiếc ghế gãy cũ rích…


- Thế này là thế nào?- Ông quay lại hỏi Pêtrôvúc.


Anh lính thủy chạy đến bên chiếc hòm thọc tay vào và lôi ra một cái đèn dầu cũ kỹ…


Toàn phớt và vỏ bào… ngoài ra không còn gì khác.


- Mở hòm khác… đây hòm này…- Ông giám đốc nói giọng thap hẳn.


Và trong chiếc hòm thứ hai cũng thế- chỉ có vỏ bào, mạt cưa, quần áo rách, gạch…


- Đồng chí chở gì về cho chúng tôi thế này. Bộ sưu tập đâu?


- Chính tay tôi, chính hai bàn tay này đây đã sắp bộ sưu tập vào các hom… Pêtrôvúc nói khẽ, mồ hôi ướt đẫm khuôn mặt…


 


PHẦN THỨ NHẤT
NGƯỜI BUÔN ĐỒ CỔ MỘT TAY


Ba cậu bé đội mũ vành mặc áo cà sa với những cây nến trong tay cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ. Ngọn lửa lay lắt, mấy cặp môi mấp máy. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của giáo đường nhà thờ Ốtrôgốtxki, mấy ông thầy tu, áo cà sa vén tận thắt lưng đang kỳ cọ sàn. Viên phó tế to béo đang thận trọng rót dầu vào chiếc đèn thủy tinh lớn màu xanh. Mot giọng nhỏ nhẹ vang lên trong cảnh tĩnh mịch của giáo đường.


- Các con, Cha bề trên gọi.


Một ông thầy tu vai rộng, râu quai nón màu hung đỏ đứng ben cửa. Mấy cậu bé nhỏ cắm những cây nến trước tượng Đức Mẹ, đưa tay lam dấu thánh rồi theo ông thầy tu ra khỏi giáo đường.


Mặt trời tháng ba chiếu sáng khu sân nhà thờ rộng.


Cha bề trên Nhicôlai với bộ râu quai nón đen điểm bạc và cái mục kỉnh tròn gọng sắt đang đứng giữa sân nhà thờ cùng vị đại diện của quận ủy- anh thợ máy ngay xưa- Xécgây Munhicốp.


Trong chiếc mũ lưỡi trai bằng da và cái áo khoác công nhân hỏa xa cũ kỹ để lộ cái cổ áo trắng, Munhicốp đứng nhìn chằm chằm Đức Cha bề trên Nhicôlai. Cả hai im lặng. Mấy chiếc xe trượt tuyết của quận ủy đứng cách họ không xa lắm. Ông lão xà ích ngồi ngất ngưởng trên xe, ngủ khì, tay không rời dây cương.


Ông thầy tu dẫn ba cậu bé đến chỗ Đức Cha bề trên, cúi mình, đi về phía chiếc xe trượt tuyết chất đầy cỏ khô. Cầm cây chạng nạng, ông ta leo lên xe và bắt đầu hất cỏ khô vào nhà kho.


- Đây, các em đây, em nhỏ tên là Innôkenti, em lớn hơn là Alếchxây, còn em cao lồng ngồng kia là Alếchxanđrơ.- Cha bề trên âu yếm nhìn ba cậu bé rồi nói.- Đây, các con sẽ đi với con người Hội đồng quận này… Trước khi đi các con phải thu xếp đồ đạc của các con lại và ghé qua chỗ Cha Lêônít, Cha sẽ cho các con lương kho đi đường…


Bọn trẻ nhìn Munhicốp với vẻ đề phòng, cúi đầu chào Cha bề trên và đi dọc theo con đường đá chật hẹp cắt ngang khu sân nhà thờ chưa hết tuyết.


- Ở chỗ chúng tôi, các em được ăn uống, có quần áo, giày dép- Cha bề trên Nhicôlai nói nhỏ nhẹ- Còn anh định lấy gì cho chúng ăn và số phận các em sẽ ra sao? Thời buổi loạn lạc các em sẽ khổ.


Munhicốp cất tiếng, giọng anh khỏe, trầm thấp:


-Trẻ em là tương lai của chúng ta, cha Nhicolai ạ.- Anh nói- Giáo dục lại các bậc già cả thì đã muộn, còn trẻ em thì chúng tôi không cho phép đầu độc bằng độc dược nhà thờ đâu. Và Cha cũng đừng lo cho số phận của chúng. Nhà nước sẽ không cho phép ai làm hại cac em. Chúng tôi làm cách mạng cho ai? Cho các em ấy, cho tương lai tươi sáng của các em. Theo quyết định của quận ủy, chúng tôi sẽ cho các em đến trường, sẽ dạy các em những nghề nghiệp có ích cho nhân dân…


- Giá tôi có quyền thì tôi sẽ không giao các em cho các anh.


Đức Cha bề trên cúi chào bỏ đi, để Munhicốp một mình trên sân.


Cậu bé mà Đức Cha bề trên vừa gọi là Innôkenti, đứng trước vị thầy tu cao to, gù lưng trong tĩnh trại treo đầy ảnh thánh và những tấm ván. Trên mảnh ván cạnh tường là bức vẽ Grigôri Pôbrêgônôréc ngồi trên yên ngựa đang dùng một cây giáo dài đâm một con rắn.


- Đanhilô, bác Đanhilô…- Cậu bé nhìn người kỵ sĩ trong tranh hỏi.- Thế có ngựa đỏ không hở bác?


Đanhilô nhìn bức tranh, âu yếm xoa đầu cậu bé nói:


- Có… Đấy khi mặt trời sắp lặn, tất cả mọi thứ xung quanh sẽ rực hồng… Không nói ngựa, mà ngay cả người cũng trở thành màu đỏ. Cháu không nhận thấy sao?


Không… cậu bé lắc đầu.


Đanhilô lấy vạt áo cà sa chùi tay rồi làm dấu thánh cho cậu bé.


- Bác yêu cháu lắm, Innôkenti ạ, yêu vì cháu ngoan ngoãn biết vâng lời… cháu không sợ phải đi à?


- Sợ. - Kêxca trả lời nhỏ nhẹ.


- Cháu đừng sợ. Có thể như thế mà lại tốt, cháu sẽ được nhìn mọi người và thế giới. Chắc cháu chán ngửi mùi sáp nến rồi chứ?- Đanhilô cười.


Innôkenti nhìn đôi ủng da của Đanhilô.


- Đôi ủng của bác… đòi tiền rồi đấy. - Kêxca cười nói- Cháu sẽ kiếm cho bác một đôi mới.


- Cháu lấy đâu ra?- Đanhilô cười.


- Người ta nói trong thành phố chẳng thiếu thứ gì?


Đanhilô mỉm cười rồi lại làm dấu thánh cho cậu bé.


- Cầu trời! Cháu đi đi. Cháu tốt lắm…


Chiếc xe trượt tuyết của quận ủy ra khỏi cổng nhà thờ vào lúc hoàng hôn đang xuống. Munhicốp ngồi cạnh bác xà ích. Chốc chốc, anh lại quay lại nháy mắt động viên mấy cậu bé ngồi sau. Người xà ích vung roi và mấy chú ngựa vui vẻ phóng ào ào trên con đường dẫn tới cánh đồng ngập tuyết. Mặt trời lấp ló sau khu rừng. Những đám mây chiếu sáng trông như trong suốt. Munhicốp phấn chấn, anh cất tiếng hát:


Chúng ta


Kỵ binh đỏ


Và vì chúng ta


Các tráng sĩ lắm lời


Sẽ có chuyện


Về những đêm sáng sủa


Về những ngày bão giông


Chúng ta tự hào


Chúng ta dũng cảm


Chúng ta đi vào


Đi vào trận đánh


Ra sao?


Anh hát khe khẽ và trầm hùng. Mấy cậu bé đã ít nhiều phấn chấn. Và nụ cười đầu tiên đã xuất hiện trên khuôn mặt Kêxca…


Cứ để Budionui


Đưa chúng ta vào trận


Mặc sấm chớp gầm thét


Lửa cứ cháy xung quanh


Chúng ta đều anh hùng


Và cuộc đời là đấu tranh


Là đấu tranh!


Con đường vòng vào một khu rừng. Trời tối hẳn. Những thân cây vây lấy chiếc xe. Munhicốp lại quay nhìn mấy cậu bé. Các em lúng túng cúi đầu và đột nhiên có tiếng vang lên từ phía sau. Munhicốp nhỏm dậy, giật dây cương và cây roi trên tay bác xà ích và quất ngựa lia lịa. Mấy người đi ngựa xuất hiện trên đường.


- Munhicốp đứng lại!- Một người đi ngựa quát.- Đứng lại, đứng lại chính ủy, dù sao thì anh cũng không thể chạy thoát!


Bóng mấy người đi ngựa hiện rõ sau các thân cây gần chỗ ngoặt. Có tiếng súng vọng lại. Hai người đi ngựa tách ra, phóng tới chận ngang chiếc xe.


Munhicốp vứt cương ngựa cho bác xà ích, ấn đầu mấy cậu bé xuống, tay vớ súng.


- Phóng nhanh lên- anh thét giục bác xà ích.- Đó là bọn cướp, bọn Lagutin, phóng nhanh, phải cứu bọn trẻ!


Nói rồi anh nhảy khỏi xe, lăn nhào ra tuyết. Anh nhỏm dậy nổ súng. Một tên cướp cưỡi ngựa ngã nhào. Tên khác phóng ngựa đuổi kịp chiếc xe, nã súng vào bác xà ích. Bác ngã xuống tuyết. Nghe tiếng súng, mấy con ngựa sợ hãi kéo xe phóng như bay… Chiếc xe nhảy lóc cóc va vào thân cây. Phải khó khăn lắm mấy cậu bé mới bám được để khỏi bị hất tung xuống tuyết.


Khi chiếc xe chạy đến nền đường sắt thì tiếng súng nghe đã xa. Nó dừng lại bên một mô đất. Mấy cậu bé bỏ chạy mỗi em một ngả.


- Xúcca! Alétca! Chờ với!- Kêxca với gọi nhưng tiếng cậu bị lấn át bởi tiếng xình xịch của đoàn tàu đang lao tới.


Mấy cậu bé không nghe thấy tiếng gọi của Kêxca. Khi đoàn tàu dừng lại, Kêxca nhìn quanh và thấy chỉ còn lại có một mình. Có tiếng súng từ phía khu rừng vọng lại. Kêxca vướng víu trong chiếc áo cà sa bắt đầu lần tuyết bò đến bên con tàu với các tấm biển mang dòng chữ: “PXCỐP- PÊTRÔGRÁT” gắn trên các toa.


Một chiến sĩ hồng quân, áo khoác vai ngồi hút thuốc trên bậc lên xuống của toa tau. Nhìn thấy Kêxca, anh gọi:


- Nhanh lên, thầy tu! Kẻo tàu chạy, không kịp đâu.


 Kêxca dừng lại, như sực nhớ ra điều gì.


- Chờ cháu với, cháu lên ngay!- Em thét to rồi lăn xuống dốc chạy đến bên xe, với vội lấy chiếc túi của mình rồi leo lên.


***


Vào một đêm tối, một người khách bộ hành muộn màng bước tất tả trên đại lộ Đagốpxki mà vào giờ ấy đã vắng vẻ. Không một bóng người. Người đó cắp dưới nách một vật mỏng gì đó gói cẩn thận trong một tấm vải dầu cũ kỹ. Đêm đã khuya, chỉ còn lại một vài ánh sáng nhợt nhòa hắt ra từ các khung cửa sổ. Người khách bộ hành co ro vì giá lạnh bước vội vàng trên lớp tuyết ướt đi về phía đại lộ Nhépxki. Đột nhiên có tiếng rú lạ kỳ vang lên từ khe cửa gần đấy. Người khách bộ hành dừng lại. Từ khe cửa những bóng người kỳ lạ khoác áo trắng dài tha thướt giống như những bóng ma xuất hiện. Hơi lắc lư, lúc bay bổng, lúc hạ thấp, chúng lao nhanh về phía người khách bộ hành, phát ra những tiếng rít nghe rợn cả người. Người khách bộ hành sợ hãi đứng lặng đi. Ông đã nhận ra chúng, nhận ra mặc dù mới nhìn thấy chúng lần đầu và không tin vào những sự tồn tại của chúng.


Đó chính là những tên “nhảy cóc” mà ở Pêtrôgrát người ta đã thì thầm bàn tán. Những tên “nhảy cóc” bí ẩn. Không hẳn là người từ bên kia thế giới, không hẳn là bọn cướp cải trang đội lốt.


Sự sửng sốt qua đi và người khách bộ hành ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Ông chạy giữa lòng đường. Mấy tên “nhảy cóc” rít lên, rượt theo sau.


Đến cạnh quảng trường Năm Góc, mấy tên “nhảy cóc” đuổi kịp người khách bộ hành, chận lại vây lấy. Sợ hãi, người khách bộ hành sẩy chân ngã, đánh rơi mục kỉnh xuống mặt đường. Nhưng rồi ông đứng dậy, ba chân bốn cẳng chạy ngược trở lại. Mấy tên “nhảy cóc” đuổi kịp và một tên trong bọn với sức mạnh phi thường đã giật lấy cái gói của người khách.


- Trả lại đây! Trả lại đây!- Người khách bộ hành thét lên trong sự tuyệt vọng.- Hãy lấy tiền! Lấy tất cả những gì tôi có nhưng trả lại cái gói cho tôi.


Nhưng mấy tên “nhảy cóc” đã rú lên, cao bay mỗi lúc một xa làm tuyết bẩn bắn tung tóe.


Khoảng cách giữa chúng và người khách bộ hành mỗi lúc một tăng lên thế mà ông vẫn chạy, vẫn cố đuổi theo cho đến lúc chúng biến mất. Người khách bộ hành bị bọn “nhảy cóc” ăn cướp không bao giờ ngờ được rằng sáng hôm sau cái gói đồ quý giá đối với ông lại nằm trên bàn làm việc của Kác Ghenrikhôvích Vitôn, trưởng ban hình sự Pêtrôgrát.


Mệt mỏi với khuôn mặt sạm đen màu đất, điếu thuốc lá đã tắt không rời khỏi miệng, ông ngồi trên chiếc ghế đẩu bình thường bên chiếc bàn làm việc tuyệt mỹ với những chạm trổ cầu kỳ mà cách đây không lâu còn là của một viên cảnh sát Nga hoàng cỡ bự nào đó, trong căn nhà của ban hình sự. Mặc dù có một chiếc ghế đệm ngay gần đấy cũng được chạm trổ bọc đồng nhưng Vitôn không dùng mà để dành cho khách.


Lúc này, ông giám đốc Viện bảo tàng Pêtrôgrát mà chúng ta đã quen biết đang ngồi trên chiếc ghế đệm đó.


- Gióocghi Apgarôvích, mời ông xem- Vitôn nói bằng giọng pha âm điệu Latư rồi mở chiếc gói ra.


Trong gói là một bức tranh vừa phải không có khung thể hiện một đề tài thần thoại gì đó.


Gióocghi Apgarôvích vội vã rút cặp mục kỉnh trong túi ra, cúi xuống, chăm chú xem xét bức tranh. Vitôn nhìn theo ông, vê vê điếu thuốc đã tắt. Cuối cùng Gióocghi Apgarôvích ngẩng lên nhìn Vitôn.


- Anh lấy cái này ở đâu ra thế?- Ông hỏi vẻ hồi hộp.


Vitôn không trả lời mà hỏi lại:


- Nó có giá trị gì không?


- Rõ ràng là có! Đây là “Amua và Prikhêa”, một tác phẩm của Frăngxoa Busê, một bức tranh trong bộ sưu tập của công tước Tikhôvinxki.


Vitôn gật đầu.


- Làm sao bức tranh này lại ở đây?- Gióocghi Apgarôvích lại hỏi.


- Bọn “nhảy cóc” đã cướp nó của một người khách bộ hành nào đó.


- Anh đã bắt giữ người đó?


- Chúng tôi đã tóm được một trong số những tên “nhảy cóc”.


- Giá các anh bắt được người khách bộ hành thì tốt hơn.


Cả hai im lặng.


- Một của bắt được đầy hy vọng- Gióocghi Apgarôvích nói- Mấy năm qua tôi cho rằng bộ sưu tập đã mất… Và thế là bây giờ… cái vật bắt được này… Có nghĩa là bộ sưu tập vẫn còn…


- Thế ông không cho rằng…- Vitôn hỏi- chỉ còn có một bức tranh này được giữ lại sao?


- Có. Song đây là một sự trùng hợp kỳ lạ… Cách đây một tuần rưỡi, một nhân viên của chúng tôi khi đọc các báo chí nước ngoài đã để ý đến một bản tin ngắn. Bản tin nói rằng một thương gia Thụy Điển, ông Ivác Xvơnsơn hiện đang tiến hành các cuộc đàm phán để mua lại một bức tranh trong bộ sưu tập của công tước Tikhôvinxki. Tôi không tin điều đó cho lắm, bởi lẽ thường thì những thông báo như thế bao giờ cũng là giả mạo. Vitôn lặng lẽ bỏ điếu thuốc xuống.


- Thậm chí bây giờ tôi không biết giao công việc này cho ai. Tất cả những nhân viên của tôi đang bận tối tăm mặt mũi.


- Đấy là vấn đề có liên quan đến những kho tàng nghệ thuật vô giá của nhân dân.- Gióocghi Apgarôvích bỗng nhiên lên tiếng nói gay gắt- Vlađimia Ilích Lênin và Anatôli Vaxilêvích Lutraxaxki xem công việc của chúng tôi có một ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Mùa đông này Viện bảo tàng của chúng tôi được nhận củi theo một quyết định đặc biệt của Hội đồng dân ủy. Nếu anh không tìm cách bắt cho bằng được một vài tên buôn lậu, cái đó sẽ gây một thiệt hại lớn cho nước Nga, như việc để mất những kho tàng vô giá ấy.


- Tôi còn có một nhân viên… mới ra trường. Kinh nghiệm còn ít thật nhưng là một người năng nổ. Hơn nữa anh ta cũng quan tâm đến nghệ thuật, hội họa…


***


Trên chiếc ghế cao gần sát trần phòng tròn của căn nhà, nơi làm việc của ban hình sự, Macác Ôtrinhicốp đang dùng sơn trắng quét tấm platfont vẽ hình Vênêra từ bột nước với sự quây quần của Amua ngậm kèn. Mấy chiếc bàn làm việc của các nhân viên trong phòng đã được xếp bên cửa ra vào và lấy báo trùm lên.


Vitôn bước vào, nhìn thấy Macác, cau mặt hỏi:


- Này Macác, không còn việc gì làm nữa à?


- Tôi ấy à, tôi, Kác Ghenrikhôvích, làm theo chỉ thị của tổ đảng… Chúng tôi quyết định xóa bỏ lũ Vênêra và Amua này đi. Ngày mai Misa Rubaxkin sẽ đến và sẽ trang hoàng cái trần nhà này bằng nghệ thuật Cách mạng. Ở giữa sẽ vẽ một người vô sản đang dùng bàn tay cường tráng bóp cổ con bạch tuộc nhiều đầu, còn xung quanh sẽ là biểu tượng công nông với hình búa liềm thay vì các Vênêra và Amua này.


- Xuống đi Macác. Có việc này cho cậu đây, quan trọng hơn… Cũng liên quan đến hội họa… Cậu sẽ đi tìm các Amua và Vênêra đấy.


Ông đến bên tủ lấy ra một chiếc cặp.


- Đây cầm lấy, làm quen với hồ sơ xong, đến chỗ tôi.


Ông đi ra đến ngưỡng cửa dừng lại, nói thêm:


- Còn Rubaxkin của cậu thì cậu nói anh ta đừng đến. Tôi can không nên làm xấu trần nhà.


Vitôn đi ra. Macác leo xuống, cầm lấy chiếc cặp có đề: “Hồ sơ về vụ cướp bộ sưu tập của công tước X. A. Tikhôvinxki. Năm 1918”.


Chiếc cặp khá mỏng, chỉ chứa một vài lời khai của các nhân chứng, trong đó có một phần viết bằng bút chì, và một quyển sách nhỏ với bản danh sách giá trị nghệ thuật của công tước.


Từ các lời khai của nhân chứng, Macác biết rằng chính ủy Kôtrin, người chịu trách nhiệm tịch thu tài sản của công tước Tikhôvinxki bị gọi cấp tốc về Pêtrôgrát và việc đóng gói, chuyên chở được giao lại cho người lính thủy Pêtrôvúc. Dĩ nhiên bản thân Pêtrôvúc không hề bị nghi ngờ bởi lẽ anh xuất thân từ công nhân và tỏ ra là người chiến sĩ trung kiên của cách mạng ngoài mặt trận.


Trong công việc đóng gói bộ sưu tập, ngoài Pêtrôvúc còn có hai người nữa tham gia, đó là người quản gia của công tước Tikhôvinxki- Ilia Xpiriđônôvích Taracanốp và anh thợ mộc Êgo Pôxencốp, người mà trong lời khai của Pêtrôvúc và Taracanốp chỉ gọi đơn giản là Mitri. Tuy vậy theo các tài liệu có trong hồ sơ thì Mitri và Taracanốp cũng nằm ngoài sự nghi ngờ bởi lẽ việc đóng gói các hòm được tiến hành dưới sự giám sát nghiêm ngặt của chính Pêtrôvúc, người mà không hề nhận thấy họ có điều gì đáng nghi ngờ.


Tập hồ sơ về vụ mất cắp bộ sưu tập chỉ giới hạn có bấy nhiêu tài liệu. Vì thiếu những bằng chứng và tang vật cụ thể, cũng như vì cán bộ dự thẩm Vêđenkin phải ra mặt trận nên việc điều tra sự vụ đã bị bỏ dở.


Sau khi nghiên cứu tài liệu và trao đổi với Vitôn, Macác quyết định bắt đầu công tác điều tra bằng việc hỏi cung tên “nhảy cóc” vừa bị bắt.


Macác đã hỏi cung tên “nhảy cóc” trong căn phòng hình tròn. Mọi thứ đã được xếp lại đâu vào đấy, chỉ có đám sơn trắng trên platfon là làm người ta nhớ tới cái ý đồ thực hiện dở chừng của Macác.


Macác ngước mắt nhìn bức tranh Vênêra quét dở mà trong lòng tức tối.


- Nói hay không?- Anh quát tên “nhảy cóc” vẻ giận dữ- Tôi không phải là quan lớn mà là bạn cùng giai cấp công nhân của anh.


Tên “nhảy cóc” co ro, cúm rúm.


- Tôi đã nói… một tên tư sản thân tàn ma dại… đeo kính, mặc bành tô đen.


- Người đeo kính và mặc bành tô đen ở Pêtrôgrát có hàng ngàn. Làm sao tôi tìm được hắn?


- Anh là cấp trên, anh rõ hơn…


- “Cấp trên, cấp trên”- Macác tức giận nói dằn từng tiếng.- Cách mạng đã ba năm nay rồi, đã đến lúc phải bỏ kiểu xưng hô nô lệ ấy đi được rồi! Và nếu chẳng hạn, ngày mai xảy ra cách mạng thế giới thì anh phải làm gì?


- Thế phải làm gì?- Tên “nhảy cóc” nhe răng cười hỏi.- Tôi không biết, anh là cấp trên, anh rõ hơn mà!...


- Ôi, ngốc ơi là ngốc!- Macác thở dài cay đắng- Thế giọng hắn thế nào thì anh có thể tả lại được chứ?


- Giọng hắn ai oán. Tôi -hắn nói- tôi sẽ đưa cho các anh cả cọc tiền, tiền tôi không thiếu gì, có gà tha cũng không hết, hắn nói thế. Nhưng chúng tôi cần gì tiền! Chúng tôi chỉ thích chơi mà phần lớn cũng chỉ thích chơi bọn tư sản chưa bị chém hết cho thỏa dạ.


- Kôđikhiu, hỏi anh cũng như vắt sữa dê đực vậy, chẳng được cái tích sự gì. Thế mắt hắn màu gì? Tóc ra sao?


- Tóc ấy à? Không hẳn là hói cũng chẳng hẳn là đội mũ. Còn mắt… tôi đã nói là hắn đeo kính. Đeo kính đen, như người mù.


- Thôi được, ký vào đây…


Macác trao biên bản hỏi cung cho tên “nhảy cóc”. Hắn cười toét miệng.


- Tôi mù chữ.


- Thì đánh chữ thập, vào chỗ này.


Kôđikhiu đưa đầu bút chì lên miệng mút mút rồi vẽ một chữ thập lên biên bản hỏi cung.


- À, tôi nhớ ra rồi.- Hắn nói như vừa sực nhớ ra điều gì.- Chân hắn đi ủng, ủng bốt cao hoặc là giày cao su. Trong bóng tối trông sáng bóng…


- Ủng hay là giày?


Kôđikhiu trầm ngâm suy nghĩ.


- Tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ là nó sáng bóng. Có thể giày mà cũng có thể là ủng.


Song thực ra không ngẫu nhiên mà Kôđikhiu lầm lẫn giày với ủng. Người vừa bị bọn “nhảy cóc” giật mất bức tranh đi giày thật nhưng là thứ giày cao ống.


Trong lúc Macác hỏi cung Kôđikhiu thì đôi giày ấy đang lội trong lớp bùn mùa xuân trên một con phố vắng vẻ của khu nghỉ mát ở Ôđétxa, ngoại thành Pêtrôgrát. Ngập ngụa trong lớp bùn bẩn nhớp nháp, với cái giỏ đan trong tay, người đó đi về phía ngôi biệt thự hai tầng có những tấm kính màu trên sân thượng rộng. Dừng lại bên cổng, hắn đưa mắt nhìn cái biệt thự tưởng chừng như bỏ không rồi quay lại và khi đã dám chắc là đường phố vắng vẻ không có ai, hắn nhấc then gài, đẩy cửa bước vào. Theo một con đường nhỏ lát gạch, hắn đến bên ngưỡng cửa.


Qua chiếc cầu thang hẹp yếu ớt, hắn bước vào một căn phòng rộng có những khung cửa sổ chiếm gần hết bức tường.


Giữa căn phòng là một cái lò sưởi bằng sắt lạnh giá, rõ ràng là đã lâu không hề được đốt. Một cái giá vẽ với một bức tranh đã sạm đen vì thời gian của một nghệ nhân Hà Lan vẽ ba kẻ du đãng đang ăn uống trong quán rượu, đặt ở góc phòng.


Bên những bức tường, khắp mọi nơi bày la liệt các bức tranh lồng khung vàng và khung thường, các bức tranh không có khung, các khung không và những bức tranh cuộn tròn.


- Ai đấy?- Một giọng nói khàn khàn vang lên từ đống giẻ rách để lổn ngổn trên chiếc đi văng thấp.


- Ngài Tamarin, chào ngài- Người khách lên tiếng.- Tôi đây.


Đống giẻ lay động và từ đó xuất hiện bộ mặt râu quai nón xồm xoàm của một người còn khá trẻ. Từ đống giẻ chui ra, người đó lấy chiếc áo khoác lính, choàng lên vai và nhìn người mới vào với vẻ mặt rầu rĩ.


- Ông, ông cần gì?- Người vừa chui ra từ đống giẻ rách ngáp dài, hỏi.


- Tôi mang đến cho ngài hai pút sữa bò và một ít kê.


Tamarin liếc nhìn người khách với vẻ thích thú.


Còn gì nữa không?


- Không còn gì nữa. Ngài Tamarin, đó là tất cả những gì tôi kiếm được.


Taracanốp, ông nói dối. Tôi biết ông mà. Ông còn có một vài thứ nữa, phòng trường hợp bất đắc dĩ nếu tôi cứ khăng khăng đòi bằng được. Thế thì ông cứ cho là tôi khăng khăng đòi đi.


Taracanốp lưỡng lự một lúc, nhún vai nói:


- Có ít mỡ muối… ít hơn hai pút.


Tamarin bật cười:


- Thôi được, lấy đi, lấy bức nào cũng được.


Taracanốp trao chiếc giỏ cho Tamarin rồi đi đến chỗ để tranh.


Hắn không chọn. Hắn rút từ trong đống tranh để cạnh tường một bức sát tường nhất, cẩn thận lau lớp bụi dày rồi đưa ra chỗ sáng.


- Ngài Tamarin thân mến của tôi ạ, ngài thật là một con người dã man.- Hắn lắc đầu nói- Ngài tắc trách với những bức tranh tựa hồ như chúng là thứ đồ bỏ, cũ kỹ và vô dụng!


- Chính vậy. Một thứ đồ bỏ. Thứ đồ bỏ cũ kỹ, vô dụng- Tamarin đưa tay lục giỏ, nhắc lại- Ông nhìn thấy cái gì ở đằng ấy rồi thế?


Tamarin nói rồi đến đứng bên Taracanốp, liếc nhìn bức tranh và mỉm cười.


- Ừ.- Anh ta thở dài ngao ngán.- Một bức tranh đẹp tinh tế. Một công trình nghệ thuật rất tuyệt.


Trên bức tranh là hình một cậu bé trong màu xanh.


***


Tại một trong những cái sân ở Pêtrôgrát, giống hệt như những cái giếng sâu có đáy lát đá cách chợ Kưđuhétrnưn không xa, một người đàn ông cao, đội chiếc mũ đen rộng vành, mặc chiếc blouse màu da cam sáng, đi đôi ủng thợ săn cao ống và bằng cái giọng liến thoắng của một tay rao hàng đang thao thao bất tuyệt với mấy người thò đầu nhìn ra cửa sổ.


- Hỡi các công dân của nước Nga Xô viết! Cách mạng đã giải phóng các vị khỏi ách vua chúa, địa chủ và tư bản! Tôi sẽ giải phóng cho các vị khỏi sự nô lệ của đồ vật. Một người tự do thì cần gì những thứ hào nhoáng, xa xỉ phẩm!


Giọng nói oang oang của người đội mũ đen rộng vành đã đánh thức Innôkenti, cậu bé mà trước kia vốn là đứa trẻ ngoan ngoãn biết nghe lời của nhà thờ Ốttrôgốtxki, còn bây giờ là một cậu bé bơ vơ bình thường của Pêtrôgrát với cái tên Kêxca và có biệt hiệu là “thầy tu”. Trên người Kêxca không còn khăn quấn, không áo cà sa và em chẳng có gì khác hơn hai người bạn đang trú lại ở đấy, trên cái gác thượng, để trốn tránh cái rét và tuần tra, với manh quần áo rách nát và cái chăn bẩn thỉu.


Nghe tiếng rao của người mua đồ cổ, Kêxca chui khỏi chăn, bò qua chiếc đi văng rách nát với những cái lò xo thò ra, leo lên bàn và ghé cổ nhìn qua cửa sổ gác thượng.


Bên dưới, trên cái giếng hình vuông của khoảng sân, mấy kẻ vô công rồi nghề đã túm tụm xúm quanh người đội mũ đen. Người mua đồ cổ bỏ cái bao xuống và Kêxca nhận thấy rằng thay vì cánh tay phải, ông ta chỉ có cái ống tay áo lủng lẳng.


- Trong mỗi một nhà, mỗi một chủ nhân đều có thể tìm thấy một bức tranh cổ hay một chùm đèn pha lê, một pho tượng bán thân bằng đồng hay một pho tượng bằng sứ- Người mua đồ cổ tiếp- Hôm qua những thứ đó đã trang điểm cho cuộc sống của các vị thì hôm nay chúng đã trở thành những hòn đá đè nặng lên cổ người tự do! Hãy mang các thứ đó ra đây và các vị sẽ được một số tiền lớn, hàng triệu rúp.


Người mua đồ cổ vẫy mũ cúi chào một cách tuyệt đẹp. Một người xấu xí trong chiếc áo lễ phục đã bạc màu của một quan chức bưu điện đến bên người mua đồ cổ và chìa cho anh ta một hộp bằng gỗ bóng láng.


Người mua đồ cổ mở nắp hộp và lộ vẻ sung sướng. Trong hộp, trên lớp vải nhung màu mận chín là hai khẩu súng ngắn dùng để đấu súng có những chiếc nòng bằng thép xanh và những cái báng cẩn xà cừ. Người mua đồ cổ lấy ra một khẩu tung trên tay một cách khéo léo.


- Đây là một thứ đồ trang sức của Bỉ được sản xuất tại thành phố Liex gần cả trăm năm về trước. Một công dân của nước Nga tự do thì cần gì cái thứ vô nghĩa và nguy hiểm này? Tôi sẽ giải phóng ngài khỏi cái đồ bỏ đi đó.


Kêxca há hốc miệng nhìn mọi việc đang xảy ra dưới sân.


- Cẩn thận!- Nhìn thấy người mua đồ cổ lên đạn, con người xấu xí thét lên.- Một trong hai khẩu súng có đạn đấy.


Đám đông vây lấy người mua đồ cổ. Một phụ nữ đứng tuổi đang cố sức kéo đến một pho tượng bán thân của hoàng đế Alếchxanđrơ Đệ nhị bằng đá cẩm thạch.


Vua Nga và Hoàng đế tôi không lấy. Hoàng đế Tây Ban Nha, Pháp, La Mã, Hungari, Áo tôi lấy. Nga thì không.


Tiếng ồn ào, la hét, chửi rủa vang lên sau lưng Kêxca và mấy cậu bạn của Kêxca xuất hiện trên bậc thềm.


- Kêxca ăn trộm!- Một đứa trong bọn kêu to.


- Chuồn thôi!- Đứa kia thét và cả hai bỏ chạy thục mạng, khua vang mái nhà bằng sắt.


Kêxca chưa kịp hoàn hồn thì từ cửa sổ đã xuất hiện một bộ mặt đỏ ửng của một bà già đang điên tiết.


- Kẻ trộm! Cướp! Cảnh sát!- Bà già vồ được chân Kêxca, kêu thất thanh.- Tóm được rồi! Bà sẽ cho mày biết thế nào là ăn trộm vải trải giường!


- Buông ra! Cháu cần gì vải trải giường của bà.


Kêxca nói rồi giật mảnh vải ướt trên vai bà lão trùm ngay lên đầu bà.


- Cảnh sát, chúng nó đâu rồi!- Bà già thét. Đám đông phì cười.


Còn Kêxca thì giật ra được, ba chân bốn cẳng bỏ chạy.


Từ cửa sổ khác, ông già gác sân nhảy phốc ra lao tới chặn đường.


- Akhơmét, bắt lấy nó!- Bà già vừa gỡ tấm vải ướt ra khỏi đầu vừa gọi.


Mọi người quên hẳn người buôn đồ cổ, ngước đầu theo dõi cuộc đuổi bắt.


- Akhơmét, nó đằng sau ống khói đấy- Bà già béo mập tóc hung từ cửa sổ tầng trên ló đầu ra thét.


Nhét khẩu súng vào thắt lưng, người mua đồ cổ lao về phía thang cứu hỏa, một tay khéo léo leo lên.


- Tóm được rồi!- Tiếng bà già béo mập vang lên sung sướng.


- Quật cho nó một trận. Cho thằng khốn nạn ấy một trận.- Từ dưới vang lên tiếng la hét.


- Buông thằng nhỏ ra! Không tôi bắn! Người mua đồ cổ quát, lúc này anh ta đã leo chót vót lên đầu thang.


Người gác sân lôi Kêxca đến bên chiếc cửa sổ. Người mua đồ cổ leo lên mái nhà, giương súng ngang tầm mắt:


- Buông thằng nhỏ ra! Bằng không, để không làm hại tới cái đầu ngu xuẩn của ông, tôi sẽ làm cho ông một cái lỗ trên cái bụng phệ!


Từ cửa sổ tầng ba, một người đàn ông đứng tuổi ló đầu ra. Trên khuôn mặt đẫy đà của người đó, bộ râu quai nón nhọn như một lưỡi dao và bộ ria mép mảnh mai trông có vẻ lẳng lơ trên cái thân hình nặng nề già nua của ông. Ông ta ló đầu ra cửa sổ đúng vào lúc người mua đồ cổ tung khẩu súng trên tay một cách tuyệt đẹp… Một tiếng súng vang lên và chiếc mũ của người gác sân bay vèo xuống.


Nguồn: Tài sản quốc gia. Anh Côi dịch. Tủ sách trinh thám, Tình báo. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 


 


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »